tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28844556
Lý luận phê bình văn học
10.03.2012
Đỗ Quyên
Bốn trăm tác giả viết trường ca Việt Nam

Từ thời niên thiếu, tôi đã có một ham muốn mãnh liệt hơn hết thảy: Hiểu và giải thích được bất cứ những gì tôi quan sát thấy;


Nghĩa là sắp xếp được tất cả những dữ kiện


vào các định luật phố quát nào đó.”


 


Charles Darwin


 


Cùng tác giả và độc giả gần xa,


 


Qua nhiều năm quan tâm, sau khi đưa ra luận điểm “trào lưu trường ca Việt Nam như là một trường phái sáng tác”, chúng tôi đã cập nhật trên nhiều trang mạng trong và ngoài nước, danh sách tác giả và tác phẩm trường ca Việt Nam.


I. Lời dẫn của Trần Thiện Khanh


“Trường ca là một thể loại có đóng góp đáng kể vào sự phát triển của tư duy thơ Việt Nam hiện đại. Thế nhưng, sự quan tâm đến nó, cả ở phương diện văn học sử lẫn lí luận thể loại lại có phần muộn mằn, lẻ tẻ. Cho đến nay mới chỉ có “Tuyển tập trường ca” (Nxb. Quân đội nhân dân, 1997) là cung cấp được cho độc giả một cái nhìn tập trung về văn bản thể loại này. Trong Lời nói đầu của tuyển tập đó các tác giả biên soạn nhận định: “Trường ca là thể loại chiếm tỉ lệ nhỏ (…) mười trường ca được tuyển chọn trong cuốn này (…) là những trường ca tiêu biểu cả về nội dung lẫn hình thức cũng như bối cảnh lịch sử tác phẩm ra đời”. Như vậy số lượng trường ca được chú ý ở đây còn ít, lại chủ yếu là các trường ca sáng tác trong khoảng 30 năm, tính từ Bài thơ Hắc Hải (1955) của Nguyễn Đình Thi đến Gọi nhau qua vách vúi (1987) của Thi Hoàng. “Vùng trường ca” đến nay vẫn còn nhiều chỗ trống, cần có người tâm huyết lục khảo lại, chọn tuyển công phu hơn, nhất là thể hiện được cái nhìn khái quát, công bằng hơn nữa về diễn tiến của thể loại này.


Nhìn từ những yêu cầu, đòi hỏi như thế, chúng tôi xin giới thiệu những nỗ lực tìm hiểu khái quát các “hiện tượng trường ca” từng xuất hiện trong lịch sử văn học Việt Nam của tác giả Đỗ Quyên. Ở một góc độ nào đó, có thể nói, chính anh cũng là một tác giả tiêu biểu trong việc tìm tòi thể nghiệm cách tân trường ca ở nước ngoài (đã sáng tác 14 trường ca, 7 bài thơ dài). Cuộc lục khảo và hệ thống hóa có quy mô lớn lần đầu tiên về các hiện tượng trường ca này có thể xem là cuộc đi khai vỡ thêm những miền đất mới đầy hào hứng của anh, đồng thời cũng là sự trở về vùng đất quen thuộc của người trong cuộc giàu tâm huyết. Hy vọng, sau dịp này, tác giả Đỗ Quyên sẽ nhận được sự ủng hộ nhiệt thành hơn nữa của nhiều tác giả, độc giả.”


II. QUAN NIỆM VỀ TÍNH TRƯỜNG CA VÀ VIỆC LẬP DANH SÁCH TÁC GIẢ, TÁC PHẨM TRƯỜNG CA VIỆT NAM


Đây đang là cơ sở cho một đề tài không dễ dàng - bởi có lẽ là lần đầu tiên - đề cập khái niệm “tác gia trường ca Việt Nam” và việc phân loại, nhận định có hệ thống và toàn diện loại hình này trong văn học Việt Nam hiện đại.


Hơn hai năm qua, chúng tôi thấy có một số bài liên quan như sau:


-“Đến trường phái thơ Việt từ cảm thức hậu hiện đại Việt; Đỗ Quyên, Tạp chí Sông Hương số 257 tháng 7/2010, và tapchisonghuong.com.vn 30/7/2010


- “Đối thoại về trường ca và trường ca Việt Nam hiện đại”; Phỏng vấn của Trần Thiện Khanh, Tạp chí Thơ (Hội Nhà văn Việt Nam) số 11/2009, và vanhocquenha.vn 17/9/2010


- “Những thể loại văn vần có dung lượng lớn như là tiền đề của tư duy về hình thức” (Trích luận án “Thể loại trường ca trong văn học hiện đại Việt Nam”); Diêu Thị Lan Phương, Đại học Quốc gia Hà Nội 15/6/2011


- “Tản mạn về trường ca”; Trần Đình Sử, Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 700 đầu tháng 7/2009, vannghequandoi.com.vn 24/7/2009


- “Những đặc điểm của trường ca”; Nguyễn Trọng Tạo, nguyentrongtao.org 8/6/2011


- “Trường ca về thời chống Mỹ trong văn học hiện đại Việt Nam(Tóm tắt luận án); Nguyễn Thị Liên Tâm, phongdiep.net 3/9/2010


- “Trường ca với tư cách là một thể loại mới”; Nguyễn Văn Dân, Tạp chí Sông Hương số 230 tháng 4/2008, tapchisonghuong.com.vn 16/4/2008


­- “Yếu tố tự sự trong trường ca trữ tình hiện đại”; Diêu Thị Lan Phương, Tạp chí Nghiên cứu văn học số 4/2009, và vienvanhoc.org


- “Đôi nét về trường ca những năm gần đây từ góc nhìn thể loại”; Lưu Khánh Thơ, vannghequandoi.com.vn 22/5/2010


- “Trường ca hôm nay viết về thời đánh Mỹ”; Nguyễn Thanh Tú, Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 705 đầu tháng 27 cuối tháng 12/2009, vannghequandoi.com.vn  4/1/2010


­- Trường ca Việt, một cách nhìn...”; Yến Nhi, vanchuongviet.org 27/1/2010


- “Hệ thống các trường ca, sử thi Tây Nguyên”; Linh Nga Niê Kdăm, dotchuoinon.com 4/7/2011


- “Đặc điểm giọng điệu trong trường ca sử thi hiện đại”; Nguyễn Thị Liên Tâm, Tạp chí Khoa học Xã hội Nhân văn (Đại học Sư phạm TP HCM) số 23 (57) 10/2010, và phongdiep.net 4/7/2011


- “Hai đặc điểm cơ bản của trường ca Việt Nam hiện đại”, Mai Bá Ấn, phongdiep.net 4/7/2011


- “Sự phức hợp và đa dạng về thể thơ trong trường ca sử thi hiện đại”; Nguyễn Thị Liên Tâm, phongdiep.net 23/06/2011


- “Về các khuynh hướng phát triển trường ca Việt”; Hà Quảng, vanvn.net 6/9/2011


- Nghĩ về một số “phản trường ca”; Diêu Lan Phương, Tạp chí Văn nghệ Quân đội số cuối tháng 12/2010, và vannghequandoi.com.vn 4/1/2011


- “Trường ca Thu Bồn - Thể loại và cấu trúc”; Mai Bá Ấn, vanchuongviet.org 13/2/2012


- “Thanh Thảo với trường ca”; Chu Văn Sơn, vietvan.vn phongdiep.net 12/1/2010


- “Thanh Thảo - Ông hoàng của trường ca”; Mai Bá Ấn, vanchuongviet.org 2/2/2012


- Tọa đàm về trường ca của Trần Anh Thái; Nguyễn Minh, viet-studies.info 15/6/2009


- “Ba bài viết về tập trường ca Lòng hải lý; Hà Li, Lưu Nguyễn, Phi Hà, trieuxuan.info 21/7/2011


Nếu nói về số lượng, kể từ thời Thơ Mới tới nay, con số chúng tôi đang có được là khoảng 400 tác giả Việt Nam đã viết ít nhất một trường ca hoặc một bài thơ dài mang ý nghĩa tương đương trường ca, với tổng số khoảng 952 tác phẩm.­


Một cách tương đối, có thể xem Huy Thông là trường ca gia Việt Nam đầu tiên với tác phẩm nổi tiếng Tiếng địch Sông Ô ra đời năm 1935, và mới nhất là tác giả Lê Hưng Tiến với trường ca Ễn lên đêm (NXB Hội Nhà văn, 12/2011).


Các yếu tính nghệ thuật của thể loại để khu biệt “trường ca” giữa các tác phẩm thơ khác luôn là nan đề trong cả sáng tác lẫn lí luận văn học đương đại, ở Việt Nam và trên thế giới. Có lẽ, nhờ tự mang trong mình sự bất định thể loại, trường ca đã là một trong những Đứa Con kỳ khôi - già xưa nhất, tươi lạ nhất và hoành tráng nhất - của Người Mẹ Văn Chương.


Bằng quan niệm mới về thể tài, và trong sự cẩn trọng thông lệ cho một công việc phân định không thể tránh được độ bấp bênh nào đó, chúng tôi thử đề nghị một số tiêu chí, khi thành lập danh sách, cũng như phân loại tác giả, phê bình tác phẩm.


Với trường ca, và các loại hình tương tự (anh hùng ca, sử thi, ngâm khúc, diễn ca, trường thi…) thường không khó lắm để nhận dạng qua cấu trúc và dung lượng, dù được viết theo khuynh hướng nào: cổ điển, hiện đại hay hậu hiện đại. Riêng với thơ dài có tính trường ca – điểm mới của khảo cứu này – quả là không dễ định vị! Đến nay, trong tổng số 400 tác giả, có 290 tác giả trường ca và 110 tác giả thơ dài có tính trường ca: trung bình mỗi tác giả đã viết hơn 2 tác phẩm có tính trường ca. Đây là những “con số biết nói”, bởi chúng vừa có hàm ý tượng trưng vừa mang giá trị cụ thể! (Mời xem dưới đây các Danh sách số 1, 1a, 1b, 1c, 1d)


Trong khi khảo sát, chúng tôi coi “trường ca” và “thơ dài có ý nghĩa tương đương” bao gồm các loại hình văn vần - trừ truyện thơ và tất nhiên cả kịch thơ - mang dung lượng lớn với phương thức tự sự hay trữ tình, cấu trúc có hay không có cốt truyện, câu chuyện. Ở các sáng tác đó, tính trường ca được thể hiện hài hòa qua: a) Thể tài: mang tinh thần và nội dung không như của từng cá thể, hay giữa các cá thể, mà thuộc về giá trị chung - đất nước, quê hương, nhân loại, dân tộc, cộng đồng…- trong một chủ đề nhân văn nhất định có ý nghĩa xã hội rộng lớn. (Đây nên được xem như kim chỉ nam về tư duy thể loại trên bản đồ nghệ thuật thơ có tính trường ca!); b) Cảm hứng:­ ấn tượng chấn động, cảm xúc cao sâu; c) Giọng điệu và tư duy: mạnh hoặc nhanh, hùng ca hoặc bi ai hoặc hài hước, với chủ đích lôi cuốn với thái độ chủ quan; d) Cấu trúc và thủ pháp: sử dụng một số hình thức, kỹ thuật của “trường ca chuẩn tắc” (chương/khúc/đoạn, pha trộn thể loại, đa ngữ điệu, cân bằng các giá trị đối lập, v.v…); e) Dung lượng: Khoảng 750 chữ trở lên (có thể ít hơn, tùy ý nghĩa từng bài).


Và chúng tôi mạnh dạn dùng một tên gọi mới, không thuộc về thể tài mà với ý biểu tượng, như một sự “vinh danh”: Tiểu trường ca. Đó là các thi phẩm có: Dung lượng hơn một bài thơ bình thường (tùy ý nghĩa từng bài); Thi pháp mang tính trường ca; Tác giả đã quen thuộc; Và nhất là, từng tạo tiếng vang trong dư luận xã hội và môi trường văn học, mang dấu ấn thời đại, lịch sử… (Xem dưới đây Danh sách số 2 – Phác thảo)


Do lấy tính trường ca làm đích, ở đây cũng phân biệt 2 loại: thơ dài có tính trường ca và thơ dài không có tính trường ca. Sắp tới, sẽ hoàn thiện Danh sách số 2 (Những bài thơ như là “tiểu trường ca” Việt Nam), và hy vọng sớm công bố Danh sách số 3 (Tác giả thơ dài tiêu biểu Việt Nam).


Dường như vẫn còn một dấu hỏi luôn neo trong đầu mỗi người ham thích tìm hiểu sinh hoạt sáng tác văn học: Tổng số các nhà thơ Việt, từ thời Thơ Mới đến nay, khoảng chừng bao nhiêu? (Xin nêu một xác định riêng về “nhà thơ” ở đây: Đó là tác giả của những sáng tác thơ được đánh giá, lưu giữ trong một cộng đồng nhất định).


Ở tầm tay hạn hẹp, bằng phương pháp thống kê, chúng tôi tạm ước tính: Tất cả có lẽ là khoảng 2000 nhà thơ Việt Nam hiện đại? Tóm tắt 2 cách định lượng: Một, ngoại suy từ một số danh sách chuẩn, hoặc tương đối chuẩn, như: khoảng 460 nhà thơ hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (trong tổng số 1245 hội viên); 785 nhà thơ tiêu biểu thế kỷ 20 (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam cinet.gov.vn); danh sách tác giả thơ của những trang mạng văn học quan trọng ở trong và ngoài nước như vanvn.net, thivien.net, vanchuongviet.org, phongdiep.net, nhavanhanoi.vn, thica.net, tienve.org, damau.org, gio-o.com, talachu.org, newvietart.com, vi.wikipedia.org, và của một số tạp chí quan trọng ở hải ngoại như Hợp Lưu, Văn Học, Tạp Chí Thơ, Văn, Việt... Hai, suy diễn theo số lượng tác giả trường ca và thơ dài mà chúng tôi “có trong tay” (với các chọn lựa khác nhau có thể vuông tròn thừa thiếu trên thực tế là 400) và theo 5 danh sách quen thuộc (45 tác giả trong Thi nhân Việt Nam / Hoài Thanh – Hoài Chân, 200 tác giả trong Thơ Việt Nam thế kỷ 20 / Hội Nhà văn Việt Nam, 317 tác giả thơ tình 1954-1975 miền Nam Việt Nam / gio-o.com, 100 bài thơ Việt Nam hay nhất thế kỷ 20 / Trung tâm Văn hóa Doanh nhân, và 100 bài thơ chọn lọc thế kỷ 20 / Gia Dũng), chúng tôi đã rút ra được “tỷ lệ vàng 1/5” cho số các thi sĩ sáng tác theo phong cách trường ca trên tổng số các nhà thơ nói chung. Thật cân xứng: bàn tay có 5 ngón tay thơ thì người Việt dành 1 ngón cho thơ trường ca!


Chúng ta có thể tự hỏi: Hiện tại trên thế giới liệu có nền thơ ở một quốc gia nào khác, của một dân tộc nào khác, có tỷ lệ các “nhà trường ca” cao như ở Việt Nam không? Đã từng có nền văn học nào trên thế giới mà thể loại trường ca đạt tầm vóc về nghệ thuật, tư tưởng, số lượng tác giả và nhất là tác dụng xã hội, như dòng trường ca chiến tranh Việt Nam 1963-1975 và hậu chiến tranh 1975-1986 không?


Ngoài một số ít tác giả là thi hữu đã cung cấp trực tiếp tác phẩm, nguồn tham chiếu chính của chúng tôi là các trang mạng; một phần vì hiếm có cơ hội cập nhật sách báo in ấn ở Việt Nam. Thành thật xin lỗi về thiếu sót, nhầm lẫn chắc sẽ có ở nhiều mặt (tiêu chí tuyển chọn, vấn đề văn bản và xuất bản…), nhất là với các tác giả, tác phẩm trường ca đã xuất bản mà danh sách chưa có được!


Cũng bởi thế, chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp cũng như thông tin về tác phẩm, tác giả thơ có tính trường ca Việt Nam. Các ý tưởng và bài vở thích hợp – khi được người gửi đồng thuận - có thể tham gia vào bản thảo cuốn sách dự tính mang tên “Một cách tìm hiểu trường ca Việt Nam”.


 


Chân thành cám ơn những cộng tác, giúp đỡ vô giá của các tác giả và độc giả, các thi sĩ và nghiên cứu gia, độc lập hay trong các cơ quan, tổ chức văn học, ở trong và ngoài nước; cũng như những báo chí, trang mạng đã và sẽ giới thiệu các danh sách này. Xin ghi nhận tấm thịnh tình từ: Các bạn văn đầu tiên đã đọc và cổ vũ, như nhà lí luận-phê bình Trần Thiện Khanh và các nhà thơ Khế Iêm, Mai Văn Phấn, Trần Anh Thái, Nguyễn Đức Tùng; Các nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu như Nguyễn Anh Nông, Diêu Lan Phương, Đặng Tiến Huy, Duy Phi, Hoàng Thư Ngân, Nguyễn Hữu Quý, Trần Nhuận Minh, Nguyễn Anh Tuấn, Từ Nguyên Tĩnh, Hàn Thủy, Đỗ Minh Tuấn, Nhật Tuấn, cùng nhiều tác giả, độc giả khác đã có những thông tin, trao đổi quý báu kể từ sau danh sách đầu tiên (7/7/2010), mà đáng kể nhất là có được 30 tác giả cùng khoảng 50 tác phẩm nhờ tham khảo thống kê của nhà nghiên cứu-phê bình Mai Bá Ấn. Đặc biệt, nhà thơ Trần Quốc Minh đã nhiệt thành giới thiệu một số tác giả, công phu sao chép trích lược tác phẩm cần thiết, khi đại diện cho chúng tôi liên lạc với các tác giả ở Hải Phòng - một vùng đất sản sinh “trường phái thơ Hải Phòng”, trong đó có dòng trường ca đặc sắc với khoảng 27 tác giả mà cuốn sách sẽ dành sự quan tâm cần thiết. Cũng vậy, với thông tin và trích dẫn bài vở chọn lọc, nhà văn Nguyễn Tiến Hải, từ nguồn tư liệu phong phú của quân đội, đã tận tình bổ sung nhiều tác giả, tác phẩm, cùng các sáng tác đang hoàn thành từ các trại sáng tác…


 


“Thói quen cứ muốn lập danh sách cho mọi thứ nghe có vẻ tùy tiện hoặc vô lí: Những người lập danh sách đã để ngỏ cả khoảng trống vô tận cho những người bình luận khi mọi sự sáng tỏ, mặc dầu lí do hợp lí nhất của việc lập danh sách là để khích lệ những nhà bình luận ấy. Văn chương hay tự nó nói lên tất cả, và còn nói mãi; những nhà văn hay nhất hôm nay còn đang viết là những người mà cháu chắt của chúng ta sẽ đọc. Thế nhưng, sự quyến rũ của ‘danh sách’ đã ăn sâu vào não trạng chúng ta (20 tác giả dưới 40 tuổi của văn học Mỹ”; Ban biên tập The New Yorker; Theo bản dịch của Hiếu Tân)


 


Chúng tôi tán đồng! Và đấy là một trong vài lí do để chia sẻ nơi đây các danh sách tác giả, tác phẩm trường ca Việt Nam.


 


Thư từ, bài vở xin gửi về: Đỗ Quyên; email: truongcaviet@yahoo.com


Trân trọng


 


 


III. DANH SÁCH TÁC GIẢ, TÁC PHẨM TRƯỜNG CA VIỆT NAM


 


Số 1, 1a, 1b, 1c, 1d  - Tác giả và tác phẩm trường ca và thơ dài Việt Nam


và Số 2 - Những bài thơ như là “tiểu trường ca” Việt Nam


 


- Danh sách số 1: 400 Tác giả và 952 tác phẩm trường ca và thơ dài Việt Nam


- Danh sách số 1a: 400 Tác giả trường ca và thơ dài Việt Nam


- Danh sách số 1b: 290 Tác giả trường ca Việt Nam


- Danh sách số 1c: 110 Tác giả thơ dài có tính trường ca Việt Nam


- Danh sách số 1d: 952 Tác phẩm trường ca và thơ dài Việt Nam


- Danh sách số 2: Những bài thơ như là “tiểu trường ca” Việt Nam (Phác thảo: 104 Tiểu trường ca Việt Nam với 74 tác giả)


 


IV. TẠM KẾT:


Một nhà văn người Guatemala mang tên Augusto Monterroso đã đứng trong danh sách cùng các tác giả kinh điển và lừng danh M. V. Llosa, G. G. Márquez, C. Fuentes, J. Cortázar, để dựng nên cộng đồng văn chương tiếng Tây Ban Nha ở châu Mỹ Latin trong thế kỷ qua. Nét độc sáng từ Monterroso là các truyện cực ngắn. Cho đến nay, trong thể loại văn học lạ lẫm và hút hồn đó, ông được xem là chủ nhân của truyện ngắn nhất và nổi danh nhất thế giới, mang tựa đề Con khủng long (El dinosaurio).


Nội dung truyện ngắn ấy như sau:“Thức dậy, con khủng long vẫn còn đó.” (Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn)


Nếu được dùng cách nói tương tự, chúng ta – những tác giả và độc giả của trường ca Việt Nam – dường như thường ở tâm trạng:


Thức dậy, (con khủng long) trường ca vẫn còn đó!”


Trích bản thảo sách “Một cách tìm hiểu trường ca Việt Nam”


Vancouver, 09/3/2012


Đỗ Quyên


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 


______


PHỤ LỤC (cập nhật 28/2/2012) đã đăng trên trang mạng Hội Nhà văn VN tại đường dẫn


http://vanvn.net/news/31/1645-400-tac-gia-truong-ca-viet-nam.html


 


Sau đây là Danh sách số 1a


400 Tác giả trường ca và thơ dài Việt Nam


1.       Thụy An


2.       Trần Xuân An


3.       Duyên Anh


4.       Đặng Nguyệt Anh


5.       Hoài Anh


6.       Vương Anh


7.       Nguyễn Đình Ảnh


8.       Việt Ánh


9.       Nguyễn Lương Ba 


10.   Nguyễn Bá


11.   Ngọc Bái


12.   Lê Ngọc Bảo


13.   Phan Thị Bảo


14.   Hải Bằng


15.   Lâm Bằng


16.   Nguyễn Nguyên Bẩy


17.   Nguyễn Thị Bích


18.   Nguyễn Thị Thanh Bình


19.   Nguyễn Trung Bình


20.   Lê Bính


21.   Nguyễn Bính


22.   Nguyễn Đức Bính


23.   Nguyễn Trọng Bính


24.   Thu Bồn


25.   Nhã Ca


26.   Thái Can


27.   Hoàng Cát


28.   Đỗ Nam Cao  


29.   Văn Cao


30.   Đào Cảng


31.   Hoàng Cầm


32.   Huy Cận


33.   Nguyễn Quốc Chánh


34.   Trúc Chi


35.   Nguyễn Đình Chiến


36.   Nguyễn Việt Chiến


37.   Phan Đức Chính


38.   Vũ Trung Chính


39.   Vũ Thành Chung


40.   Kim Chuông


41.   Nguyễn Văn Chương


42.   Vũ Hoàng Chương


43.   Nguyễn Viết Chữ


44.   Hoàng Trần Cương


45.   Trúc Cương


46.   Võ Bá Cường


47.   Võ Tấn Cường


48.   Đoàn Văn Cừ


49.   Võ Chân Cửu


50.   Trần Dần


51.   Miên Di


52.   Nguyễn Đình Di


53.   Xuân Diệu


54.   Nguyễn Văn Dinh  


55.   Phạm Tiến Duật


56.   Nguyễn Thị Dung


57.   Trương Thị Kim Dung


58.   Lê Anh Dũng


59.   Thế Dũng 


60.   Trần Tiến Dũng


61.   Khương Hữu Dụng


62.   Hồ Đắc Duy


63.   Nguyễn Duy


64.   Lưu Trùng Dương


65.   Vân Đài


66.   Trần Trung Đạo        


67.   Lê Đạt


68.   Văn Đắc


69.   Hà Thanh Đẩu


70.   Khuất Đẩu 


71.   Nguyễn Khoa Điềm


72.   Trung Trung Đỉnh


73.   Vũ Xuân Độ


74.   Trinh Đường


75.   Nguyễn Hoàng Đức


76.   Nguyễn Quí Đức


77.   Nguyễn Thiện Đức


78.   Kiên Giang


79.   Lam Giang


80.   Phan Trường Giang


81.   Thái Giang


82.   Đoàn Huy Giao


83.   Hà Giao


84.   Tế Hanh


85.   Nguyễn Xuân Hanh


86.   Thúc Hà


87.   Nguyễn Hưng Hải


88.   Phan Tấn Hải


89.   Thái Hải


90.   Thanh Hải


91.   Nguyễn Thị Lâm Hảo


92.   Trần Mạnh Hảo


93.   Phan Nhiên Hạo


94.   Lê Ngân Hằng


95.   Nguyễn Trung Hậu


96.   Đặng Hiển


97.   Trần Quang Hiển


98.   Vũ Hiển   


99.   Ngọc Hiền


100.      Nguyễn Tôn Hiệt


101.      Nguyễn Hiếu 


102.      Ngọc Thiên Hoa


103.      Nguyễn Hoa


104.      Đông Hoài


105.      Trịnh Bửu Hoài


106.      Nguyễn Chí Hoan


107.      Lưu Quốc Hòa


108.      Đông Hồ


109.      Nguyên Hồ


110.      Trần Ninh Hồ


111.      Nghiêm Xuân Hồng


112.      Nguyên Hồng


113.      Nguyễn Thị Hồng


114.      Luân Hoán


115.      Phan Hoàng 


116.      Thi Hoàng


117.      Trần Nghi Hoàng


118.      Xuân Hoàng


119.      Đặng Tiến Huy


120.      Nguyễn Thành Huy  


121.      Đinh Nho Huề


122.      Cầm Hùng (Thái)


123.      Đinh Hùng


124.      Văn Công Hùng


125.      Lưu Đình Hùng


126.      Vũ Hùng


127.      Vũ Trọng Hùng


128.      Đặng Đình Hưng


129.      Hoàng Hưng


130.      Nguyễn Thanh Hương


131.      Vũ Xuân Hương


132.      Nông Thị Tô Hường


133.      Tố Hữu        


134.      Trần Công Hữu


135.      Inrasara


136.      Đỗ Kh.


137.      Dương Tam Kha


138.      Đào Anh Kha


139.      Ngô Kha


140.      Nguyễn Thụy Kha


141.      Phùng Văn Khai


142.      Trần Tuấn Khải


143.      Nguyễn Minh Khang


144.      Lê Đăng Kháng


145.      Cao Vị Khanh


146.      Vũ Anh Khanh


147.      Cao Đông Khánh


148.      Tạ Kim Khánh


149.      Bích Khê 


150.      Nguyễn Minh Khiêm


151.      Nguyễn Linh Khiếu


152.      Trần Đăng Khoa


153.      Trần Khoái


154.      Dương Kiền


155.      Huyền Kiêu


156.      Trần Tuấn Kiệt


157.      Đỗ Trung Lai


158.      Nguyễn Thị Ngọc Lan 


159.      Yến Lan


160.      Bàng Bá Lân


161.      Huyền Lam


162.      Nguyễn Viết Lãm


163.      Mã Giang Lân


164.      Mạnh Lê


165.      Du Tử Lê


166.      Văn Lê


167.      Vĩnh Quang Lê


168.      Tam Lệ


169.      Lý Phương Liên 


170.      Nguyễn Gia Linh


171.      Nguyễn Thế Hoàng Linh


172.      Vi Thuỳ Linh


173.      Viên Linh


174.      Hữu Loan


175.      Thái Thăng Long


176.      Vân Long


177.      Lê Xuân Lợi


178.      Lưu Trọng Lư


179.      Trần Lưu


180.      Trần Vũ Mai


181.      Vĩnh Mai  


182.      Thế Mạc


183.      Nguyễn Đức Mậu


184.      Lê Huy Mậu


185.      Lê Thị Mây


186.      Lưu Mêlan


187.      Dương Kiều Minh  


188.      Hồng Minh


189.      Nguyễn Hữu Hồng Minh


190.      Nguyễn Nhật Minh


191.      Trần Quốc Minh  


192.      Trần Hồng Minh


193.      Trần Nhuận Minh


194.      Vũ Đình Minh


195.      Từ Thế Mộng 


196.      Nguyễn Thanh Mừng


197.      Giang Nam


198.      Liên Nam


199.      Ngô Quang Nam


200.      Nguyễn Hoàng Nam


201.      Đặng Ngọc Nga


202.      Phạm Ngà


203.      Nh. Tay Ngàn


204.      Thuận Nghĩa


205.      Anh Ngọc


206.      Lữ Huy Nguyên


207.      Ma Trường Nguyên


208.      Thạch Trung Tuệ Nguyên   


209.      Vĩnh Nguyên


210.      Uyên Nguyên


211.      Đào Nguyễn


212.      Dung Nham


213.      Nguyễn Quang Nhật


214.      Nguyễn Hữu Nhật


215.      Tô Nhuần


216.      Trần Nhương


217.      Nguyễn Anh Nông


218.      Đỗ Xuân Oanh


219.      Nguyễn Trọng Oánh


220.      Điền Ngọc Phách


221.      Chu Ngọc Phan


222.      Nguyễn Nhược Pháp


223.      Trương Trung Phát


224.      Mai Văn Phấn 


225.      Duy Phi


226.      Thế Phong


227.      Truy Phong


228.      Ngô Văn Phú


229.      Nguyễn Ngọc Phú


230.      Nguyễn Khắc Phục


231.      Hoài Quang Phương


232.      Lê Duy Phương


233.      Nguyễn Bình Phương


234.      Nguyễn Hoài Phương      


235.      Nguyễn Nhuận Hồng Phương


236.      Trúc Phương


237.      Trung Phương


238.      Thái Viễn Phương


239.      Viễn Phương


240.      Việt Phương


241.      Y Phương


242.      Hoàng Đình Quang


243.      Lê Huy Quang (a)


244.      Lê Huy Quang (b)


245.      Đỗ Trung Quân


246.      Phùng Quán


247.      Thường Quán


248.      Phan Quế  


249.      Thanh Quế


250.      Bùi Minh Quốc


251.      Lê Anh Quốc


252.      Lê Minh Quốc


253.      Nguyễn Ái Quốc


254.      Bùi Kim Quy


255.      Đỗ Quyên


256.      Hoàng Quý


257.      Nguyễn Hữu Quý


258.      Phạm Thái Quỳnh


259.      Xuân Quỳnh


260.      Nguyên Sa


261.      Thi Sảnh


262.      Trần Vàng Sao


263.      Trần Hải Sâm


264.      Huyền Sâm


265.      Phạm Sỹ Sáu


266.      Lê Ái Siêm


267.      Lê Quang Sinh


268.      Băng Sơn


269.      Chu Sơn


270.      Lê Đăng Sơn


271.      Nguyễn Đức Sơn 


272.      Nguyễn Minh Sơn


273.      Nguyễn Thái Sơn


274.      Nguyễn Trung Sơn


275.      Trịnh Sơn


276.      Lê Vĩnh Tài 


277.      Ngô Văn Tao


278.      Nguyễn Văn Tao 


279.      Nguyễn Trọng Tạo


280.      Huỳnh Minh Tâm


281.      Phạm Minh Tâm


282.      Vương Tâm


283.      Kiệt Tấn


284.      Lê Đại Thanh


285.      Phan Trung Thành


286.      Tô Ngọc Thạch


287.      Trần Anh Thái


288.      Ngô Thái


289.      Phù Thăng


290.      Hoàng Chiến Thắng


291.      Mai Nam Thắng


292.      Nguyễn Quyết Thắng


293.      Trần Thị Thắng


294.      Hồ Bá Thâm


295.      Đặng Thân


296.      Thanh Thảo


297.      Lê An Thế 


298.      Nguyễn Đình Thi 


299.      Quỳnh Thi


300.      Xuân Thiêm


301.      Ôn Quang Thiên


302.      Phạm Công Thiện


303.      Tạ Hữu Thiện


304.      Nguyễn Xuân Thiệp


305.      Đặng Xuân Thiều               


306.      Nguyễn Quang Thiều


307.      Trương Thìn


308.      Hữu Thỉnh


309.      Lê Vĩnh Thọ


310.      Huy Thông


311.      Vũ Duy Thông


312.      Anh Thơ


313.      Huệ Thu


314.      Lê Anh Thu


315.      Trần Lệ Thu


316.      Trần Nhật Thu


317.      Dương Thuấn


318.      Hoàng Vũ Thuật


319.      Sương Biên Thùy


320.      Đinh Thị Như Thúy


321.      Võ Thị Phương Thúy


322.      Nguyễn Quang Thuyên


323.      Phạm Thiên Thư


324.      Nguyễn Đăng Thường


325.      Trần Mạnh Thường


326.      Nguyễn Vũ Tiềm


327.      Lê Hưng Tiến


328.      Từ Nguyên Tĩnh


329.      Nguyễn Trọng Tín


330.      Nguyễn Quang Tính


331.      Thanh Tịnh


332.      Đỗ Quý Toàn


333.      Nguyễn Khánh Toàn


334.      Nguyễn Thanh Toàn


335.      Thành Tôn


336.      Đặng Tấn Tới


337.      Nguyễn Hoàng Tranh


338.      Nam Trân


339.      Trần Huyền Trân


340.      Nguyễn Hương Trâm


341.      Nguyễn Trác


342.      Hưởng Triều


343.      Đông Trình


344.      Hoàng Bình Trọng


345.      Vương Trọng


346.      Lê Văn Trung


347.      Vương Trung


348.      Huy Trụ


349.      Nguyễn Hải Trừng


350.      Nguyễn Xuân Trường


351.      Phạm Xuân Trường


352.      Phạm Công Trứ


353.      Võ Văn Trực


354.      Đỗ Minh Tuấn


355.      Hoàng Anh Tuấn


356.      Hoàng Ngọc Tuấn


357.      Mai Anh Tuấn


358.      Lê Nghĩa Quang Tuấn


359.      Nguyễn Anh Tuấn


360.      Nguyễn Như Tuấn 


361.      Thanh Tùng


362.      Minh Tuyền


363.      Thanh Tâm Tuyền


364.      Phan Thị Trọng Tuyến     


365.      Trần Dạ Từ    


366.      Lưu Xuân Tự


367.      Dương Tường 


368.      Phạm Nguyên Tường


369.      Vũ Xuân Tửu


370.      Kiều Văn


371.      Nguyễn Trọng Văn


372.      Lê Thị Thấm Vân


373.      Chế Lan Viên


374.      Nguyễn Viện     


375.      Nguyễn Hữu Viện


376.      Nguyễn Quốc Việt


377.      Phan Cung Việt


378.      Bùi Chí Vinh


379.      Đỗ Vinh


380.      Nguyễn Thế Vinh


381.      Trần Thế Vinh


382.      Tất Vinh


383.      Ngân Vịnh


384.      Lê Văn Vọng


385.      Nguyễn Bùi Vợi


386.      Anh Vũ


387.      Bùi Minh Vũ


388.      Lưu Quang Vũ


389.      Phan Vũ


390.      Tạ Vũ


391.      Thanh Vũ


392.      Vũ Anh Vũ


393.      Trần Hoàng Vy


394.      Nguyễn Lương Vỵ      


395.      Lê Anh Xuân


396.      Lý Hoài Xuân


397.      Tạ Hữu Yên


398.      Ngu Yên


399.      Tô Thùy Yên


400.      Hoàng Yến


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Về Roger Garaudy với chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến - Phương Lựu 18.08.2019
Saint John Perse - Roger Garaudy 18.08.2019
Một dẫn luận về chủ nghĩa siêu hiện đại - Phạm Tấn Xuân Cao 17.08.2019
Phương thức huyền thoại trong sáng tác văn học - Phùng Văn Tửu 17.08.2019
Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka - Trương Đăng Dung 17.08.2019
Nguyễn Thành Long và "một cuộc sống khác" - Vương Trí Nhàn 11.08.2019
Nguyễn Công Hoan và thể tiểu thuyết - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Điểm lại quan niệm về hồi ký và các hồi ký đã in trong khoảng 1990-2000 - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Nguyễn Công Hoan và cuốn hồi ký "Đời viết văn của tôi" - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa trong sự hình thành tiểu thuyết Việt Nam trước 1930 - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
xem thêm »