tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29849774
16.02.2012
Hà Minh Đức
Nguyễn Đình Thi - Chim phượng bay từ núi (13)

CẦN XEM NẾU CON NGỰA ĐI XA VỀ MỆT MỎI,


PHẢI CHO ĂN CỎ VÀ UỐNG NƯỚC


23/7/1988.


Cuộc họp Ban Nội dung của Chấp hành Hội Nhà văn ngày 23/7/1988, nhà văn Nguyễn Đình Thi trình bày dự thảo về một số vấn đề của tình hình văn học sáng tác văn thơ, lý luận phê bình. Trong phần cuối nhà văn Nguyễn Đình Thi có nêu một số ý kiến về tình hình văn học thời kỳ kháng chiến chống Pháp và đầu hoà bình lập lại. Nguyễn Đình Thi nói: “Từ Cách mạng tháng Tám đến đầu kháng chiến là giai đoạn rất hay, văn học nảy nở rất tự nhiên. Nhiều bài thơ hay, bản nhạc hay đều xuất hiện trong giai đoạn này. Cho đến khi giải phóng biên giới ít lâu tư tưởng Mao tràn sang nên vấn đề trong văn học phức tạp hơn. Hồi tôi đang ở Điện Biên Phủ nhận được thư của Hoài Thanh đề nghị kiểm điểm Xung kích. Hoà bình lập lại đại hội 20 của Đảng Cộng sản Liên Xô tác động đến tình hình trong nước, đến văn nghệ. Từ 1958-1960 không khí chung thoải mái, nhiều sáng tác hay xuất hiện sau những chuyến đi về thực tế. Huy Cận, Chế Lan Viên với vùng mỏ, vùng than, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng với Tây Bắc và Điện Biên. Nghị quyết 9 lại xiết lại cho đến thời chống Mỹ lại đỡ hơn và tất cả về một hướng. Trở lại một vài năm đầu hoà bình lập lại vấn đề phức tạp. Nguyễn Hữu Đang và Minh Đức. Trần Thiếu Bảo cho rằng không thể thống nhất được đất nước. Miền Bắc không thể lên chủ nghĩa xã hội được. Một vài nhà văn trong nhóm Nhân văn có bài phê Liên Xô, Trung Quốc. Nguyễn Hữu Đang tuyên bố: “Tôi nộp đơn cho cụ Tôn. Tôi xin lập một đảng riêng”. Về sáng tác Trần Dần tuyên bố “phục xuống sáng tác” (Không đánh vào chính trị) dùng biểu tượng hai mặt. Chế Lan Viên cho rằng phải phân biệt cái bình thường và không bình thường, có những cái vốn bình thường nhưng do hoàn cảnh nào đấy trở thành không bình thường ví dụ mặc áo trắng là bình thường nhưng vì có tàu bay hoá thành không bình thường. Thái độ với Nhân văn cũng khác nhau. Hoàng Văn Hoan bảo: “Nó đem lửa đốt nhà mà các anh còn ngồi à?”. Hoài Thanh bảo: Trong Giai phẩm mùa xuân xuất hiện tư tưởng phức tạp có xu hướng đòi cấm. Ông Kỉnh bảo: Tôi phụ trách vấn đề này, tôi chủ trương chưa cấm Nhân văn. Đồng chí Trường Chinh ra lệnh tha Trần Dần nhưng trong Đại hội Nhà văn lần II Trường Chinh thêm câu: “Báo Nhân văn đã hoạt động hệt như một cơ quan tác động tinh thần của địch”.


Công tác phê bình thời kỳ này cũng sôi nổi. Câu nói của đồng chí Trường Chinh về trách nhiệm phê bình khi con ngựa rũ xuống thì cần một ngọn roi quất cho nó lồng lên. Cụ Hồ khi nghe nói câu này lại có ý rất hay là “cần xem con ngựa nếu đi xa về mệt phải cho ăn cỏ uống nước”. Câu nói của Người thật thấu đáo, truy tìm đến nguyên nhân, và có một giải pháp nhẹ nhàng thấu đáo hiệu quả và giầu tính nhân văn.


 


Ý KIẾN NGUYỄN ĐÌNH THI TẠI CUỘC HỌP LẦN THỨ 7, BAN CHẤP HÀNH HỘI NHÀ VĂN


(Từ ngày 5 đến ngày 8-9-1988, tại Đà Nẵng)


Đến dự có các nhà văn trong Ban Chấp hành: Huy Cận, Hữu Mai, Bùi Hiển, Vương Anh, Nguyễn Kiên, Hồ Phương, Bằng Việt, Viễn Phương, Đào Vũ, Tô Ngọc Hiến, Nguyên Ngọc, Nguyễn Khoa Điềm, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hà Minh Đức, Nguyễn Xuân Sanh, Phan Cự Đệ, Vũ Tú Nam, Nông Quốc Chấn, Hà Xuân Trường, Chính Hữu, Đoàn Giỏi, Giang Nam. Có mặt khách: Đào Duy Tùng, Trần Độ, Nguyễn Văn Hạnh và cố vấn Lưu Trọng Lư. Vắng: Nguyễn Khải, Chế Lan Viên, Vũ Thị Thường, Anh Đức, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Minh Châu.


Một số hội viên mất: Đào Cảng, Phạm Huy Thông, Nguyễn Đức Nam, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Tuân, Thanh Tịnh (cố vấn), Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ.


Hội nghị đọc Báo cáo, các đại biểu phát biểu nhận xét bổ sung. Nguyễn Đình Thi mở đầu nói:


Hội nghị Ban Chấp hành sẽ đánh giá lại tình hình văn nghệ những năm qua, khẳng định những mặt mạnh, và chỉ ra những hạn chế. Tất nhiên ý kiến có những chỗ dễ thấy nhất, có chỗ bất đồng nhưng cần tránh những ý kiến cực đoan. Nguyễn Tuân trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp đòi đốt hết sách của mình trước Cách mạng. Hiện nay cũng có một số ý kiến cực đoan phủ nhận những ý kiến trước đây vốn được thừa nhận. Đường lối văn nghệ của Đảng vẫn đúng là cơ sở cho văn nghệ phát triển. Cụ Hồ yêu cầu viết cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn. Ý kiến của Phạm Văn Đồng về các chức năng của văn nghệ nhằm hiểu biết, khám phá, sáng tạo là đúng khác với quan điểm văn nghệ Diên An. Ý của anh Trường Chinh cho rằng chưa có thời nào văn nghệ sỹ bị khinh rẻ, Đảng luôn muốn đoàn kết tôn trọng văn nghệ sỹ. Không tránh khỏi thiếu sót trong quan điểm lý luận cũng như chính sách cụ thể. Càng gần Trung ương có thể càng đỡ hơn. Chúng ta chịu ảnh hưởng của hai tài liệu: Bài của J. Đanốp với quan điểm cứng nhắc ; và bài văn nghệ Diên An của Mao Trạch Đông. Mao Trạch Đông phủ nhận tính người, quá đề cao tính giai cấp và thực dụng của văn học. Mao Trạch Đông đề cao chủ nghĩa công lợi, cái gì có lợi cho cách mạng là chân lý. Nên nói văn nghệ phục vụ cách mạng phục vụ nhân dân hơn là phục vụ chính trị. Nếu nói phục vụ giai cấp, phục vụ công nông binh thì binh là giai cấp gì. Và trong một số trường hợp văn nghệ sỹ trở thành đối tượng đấu tranh. Ở Liên Xô quan niệm của J. Đanốp cũng gây hậu quả quy phạm hóa, nguyên tắc hóa hoạt động vốn cần tự do và mở rộng. Ở Trung Quốc có người sang Liên Xô xem Ba lê phải che mặt. Ở ta cuộc đấu tranh chống nhóm Nhân văn đã thuộc về quá khứ. Cũng phải tránh hiểu lầm xem Nhân văn là đúng và bây giờ phải sửa sai. Nguyễn Hữu Đang chuẩn bị thư gửi cụ Tôn xin lập Đảng, xin gia nhập Mặt trận, Đảng đối lập với Đảng Cộng sản.


Kết hợp nhóm chính trị Nhân văn với một số phần tử có khuynh hướng chống đối.


Họp Quốc hội 1956 (mùa đông) phê cải cách ruộng đất định phối hợp các lực lượng chống đối đòi chia ghế tất cả các cấp cho các đảng từ Trung ương đến địa phương. Âm mưu hô hào báo Nhân văn số 5 đòi biểu tình công khai chống nhà nước.


Tổ chức một số để vượt biên vào Nam. Bộ Chính trị cử một ban do Lê Văn Lương phụ trách chỉ bắt được 3 người. Trần Dần, Lê Đạt là đảng viên phải khai trừ 3 năm, một số cảnh cáo không được in trong một năm.


Sau 1960 lại bước vào giai đoạn chống xét lại rồi đến chống Mỹ. Vấn đề Nhân văn nên giải quyết sớm hơn thì tốt. Trong anh em cũng có người nhẹ dạ, lầm lỡ. Sau Nhân văn số 3 một số văn nghệ sỹ đề nghị thôi nhưng Nguyễn Hữu Đang vẫn thúc giục làm.


Hiện nay chúng ta đang bước sang thời kỳ mới, sáng tác có nhiều dấu hiệu tốt, tìm tòi đổi mới, đổi mới nhưng không phải đổi dòng, văn xuôi có những tác phẩm tốt như Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu, truyện của Triệu Bôn, Cù lao tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn. Chất phóng sự tác động đến nhiều trang viết. Đi thẳng vào cuộc sống phản ánh sự thật có suy nghĩ, niềm tin đó là hướng của anh em ở Huế. Phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa là tốt nhưng không phải là duy nhất. Trong phương hướng sắp tới các nhà văn phải nâng cao trách nhiệm trước cuộc sống. Phải gắn bó với cuộc sống, nhà văn phải có những hiểu biết kinh tế, văn hóa, xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng là vấn đề trung tâm. Cần chống lại khuynh hướng thương mại hóa và các khuynh hướng phức tạp khác. Nhu cầu đọc hiện nay cũng lớn. Cuốn Pie Đại đế 3000đ vẫn có người mua. Hà Nội có hàng trăm quầy sách báo cung cấp cho bạn đọc. Báo chí phát triển khởi sắc. Có những dấu hiệu rõ rệt của một thời kỳ mới, đổi mới trong xã hội và trong văn nghệ từ sau Đại hội 6 của Đảng. Về bản báo cáo của Hội chúng ta hoan nghênh những ý kiến đóng góp của các anh chị, điểm thống nhất, điểm chưa thể thống nhất. Với chúng tôi ở Ban thư ký đã có nhiều cố gắng, để nghiên cứu, để tổng kết.


Về phần tôi hôm kỷ niệm 30 năm thành lập Hội tôi đã tuyên bố từ chức. Tôi làm quá đủ. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại tôi thấy không được phép như thế. Các đồng chí làm việc với nhà văn cần hiểu nhà văn. Người viết biết trọng ngòi bút. Anh em chúng tôi những lớp lâu năm vừa là nhà văn, vừa là đảng viên. Chúng tôi trực tiếp chịu sự lãnh đạo của anh Xuân Trường. Anh Xuân Trường và tôi là bạn. Tôi là Tổng thư ký khi anh chưa là hội viên. Nhưng khi anh là Trưởng ban ra quyết định tôi thực hiện. Khi anh Độ về cũng thế, Ban Bí thư cho Ban thư ký Hội chịu trách nhiệm.


Phần riêng, tôi chỉ có một nguyện vọng, ba bốn lần tôi xin anh Trần Độ cho thôi để viết. Nhưng còn sức tàn còn giữ cho đoàn kết. Anh cho tôi thôi, còn giữ tôi để anh em đá đít tôi thì không hay. Tôi đã từ chối tất cả các chuyến đi (Áo, Nhật Bản, Ấn Độ, Xyri). Hội Nhà văn Liên Xô mời tôi đi nghỉ, tôi không đi. Tôi từ chối hết. Đây là lần đầu tiên tôi nói hết sự thật. Trong Đại hội tới, nếu tôi biết có những người lãnh đạo không xứng đáng, tôi sẽ xin ra khỏi Hội Nhà văn. Nhà văn chúng ta phải là mình và Đảng cũng cần hiểu thêm. Thật là cao quý chúng ta là những nhà văn có tâm hồn, sống nghèo khổ, không ai có nhà có xe riêng nhưng chúng ta đã tạo được một nền văn học lớn của hiện tại.


  


MỘT CHÚT VỀ ĐỜI VĂN VÀ TÁC PHẨM


CỦA NGUYỄN ĐÌNH THI


Thứ ba 30/1/1989.


Trong một lần gặp nhà văn Nguyễn Đình Thi tôi nói: “Tôi muốn được nghe anh kể về chuyện quê hương và gia đình, về tuổi nhỏ của anh và quá trình học hành. Và nếu có điều kiện xin anh cho biết một số kỷ niệm xoay quanh những sáng tác của anh. Là một người nghiên cứu tôi muốn tò mò được hiểu tác giả”. Nguyễn Đình Thi cười và gật đầu: “Hôm nào chúng ta gặp nhau”. Anh hẹn và đã có câu chuyện kể chân tình hôm nay.


Gia đình nội của tôi quê ở Vũ Thạch gần phố Bà Triệu và Hai Bà Trưng. Trước đây là làng. Hồi nhỏ còn đi rước Thành hoàng. Mấy đời trước các cụ tôi ở Phú Xuyên, làng Cổ Trai sau kéo về Hà Nội.


Ông cụ tôi mồ côi cả bố lẫn mẹ. Bà ngoại nuôi đến khi học hết tiểu học Pháp Việt, sau làm viên chức Bưu điện rồi chủ nhiệm bưu điện Phong xa lỳ, nên tôi được ở Lào. Ông cụ tôi có tài, chơi đàn giỏi, đánh đàn nguyệt, đàn bầu. Cụ hay đi hoà đàn, chơi cờ, gà chọi. Đẻ ở Mường Luông Luang Prabang, ngày nhỏ ở Phong xa lỳ. Về theo đường Xê pôn, Đông Hà. Ở Đông Dương có 5 quân khu Móng Cái, Hà Giang rồi Phong xa lỳ... Người địa phương ở Phong xa lỳ là thiểu số. Người Việt có ba loại, lính khố đỏ, tù và viên chức. Làng có đồn binh chứ chưa có phố. Thuở bé thấy những đoàn tù đi làm trong núi, xiềng chân. Gia đình giáo dục ý thức tự lập. Lệ trong nhà bố mẹ nuôi con đến 18 tuổi rồi phải tìm cách tự lập. Nhà 11 con. Bà cụ phải làm nghề phụ. Ông ngoại ở Hà Tĩnh cùng làng với Hoàng Cao Khải. Tôi không biết gì nhiều về quê ngoại. Ông ngoại nấu bếp, có nấu trong kinh từ thời Tây sang, sau nấu cho lính và dính vào vụ Hà thành đầu độc phải trốn ra ở bãi cát bờ sông (chuyện bà ngoại trong Tiếng sóng, trong Vỡ bờ ông ngoại là ông Tư Gạch). Sau thấy không sống được và trốn sang Lào, bán bánh phở cho lính. Nhà có hai cô con gái đẹp, và gây dựng cho con từ đó. Bà mẹ tôi bản lĩnh, gan góc, mỗi lần về Việt Nam đi ngựa hàng tháng không ngại đường trường xa.


Rừng núi Lào đẹp, thiên nhiên vào tôi từ bé nên không khí Việt Bắc sau này dễ quen thân. Vùng Phong xa lỳ đẹp. Sư sãi ở Lào nhiều, đến tuổi con trai vào chùa tu, học chữ cũng ở trong chùa, ở ngoài không có chỗ học. Đến tuổi đi học, tôi về Việt Nam học trường ngày nay là Lý Thường Kiệt (học cả kinh thánh và thần thoại Gia tô giáo từ nhỏ). Năm lên 7 chuyển sang trường Đỗ Hữu Vị (trường Việt Nam - Cu Ba). Học vài năm xong xuống Hải Phòng. Bà cụ bắt đầu làm bánh, bán bánh khảo, bánh đậu. Gia đình sinh hoạt khó khăn. Anh cả học giỏi đứng đầu lớp. Tôi cũng học khá. Đi làm Việt Minh bị bắt lúc 17 tuổi phải giam mấy tháng sau vì vị thành niên nên được tha. Trong tù gặp các anh Vương Thừa Vũ, Trần Đăng Ninh. Sau gặp Hoàng Hữu Nhân (đầu năm 1942). Ở tù ra, vào Chợ Lớn, tự học, thi tú tài tự do. Lệ nhà, 18 tuổi phải tự lo. Chịu khó đọc mượn sách về xem. Tôi thích sách triết, đọc rồi ghi chép sào sáo. Viết một số sách triết học sau cho xuất bản về Descartes, Kant, Nietzche. Rồi Lịch sử Đảng Cộng sản Bônsêvích ký Tâm Nguyên (Hoàng Quốc Việt) và Phương Nam (Nguyễn Đình Thi). Đọc Chủ nghĩa duy vật và kinh nghiệm phê phán của Lênin nên có cơ sở viết E. Kant. Tôi viết một cuốn sách bằng tiếng Pháp, giống như triết học nhập môn. Bài Sức sống của dân tộc Việt Nam qua ca dao cổ tích viết nhân ngày hội thanh niên năm 1944. Tôi viết đều trên Tri Tân từ 1942, 1943. Bàn về tư duy trên Tri Tân được cụ Mai thích. Gặp Đặng Thai Mai năm 1943. (Cụ ở phố Phó Đức Chính). Tôi hỏi cụ Mai là nên học hay đi làm. Cụ khuyên nên học tiếp Luật cho xong. Bị bắt lần 2 về Văn hoá cứu quốc, cùng hoạt động với Tô Hoài, Nguyễn Hữu Đang, Như Phong, Nam Cao... do Vũ Quốc Uy liên lạc. Bị đưa ra toà. Toà chiếu cố tôi sinh ở Luang Prabang (nhượng địa của Pháp) nên không việc gì, thực chất là có đút tiền cho mật thám. Lúc ra toà là thời kỳ Đờ Gôn, sau họ thả cả 4 người rồi giải về Hà Nội quản thúc.


Về văn học tôi hoạt động chậm hơn, lúc đầu kháng chiến chống Pháp sáng tác nhạc trước. Tôi biết nhạc dân tộc và nhạc cổ điển phương Tây. Tôi học nhạc theo kiểu sách vở. Cảm xúc văn chương của tôi gắn nhiều với hiện đại và cổ điển của nghệ thuật dân tộc. Thơ mới hơi Tây, thơ của tôi gắn với cuộc sống tự nhiên. Tôi vào Hà Nội trước tiếp quản, với thông hành giả đi theo Cácmen quay phim. Lúc vào lính Pháp còn chiếm đóng. Vào trước khoảng 10 ngày. Pháp chuẩn bị rút khỏi Hà Nội. Đi vào kháng chiến, tôi bắt đầu sáng tác, cả thơ và văn xuôi. Về văn xuôi đáng kể là Xung kích. Tôi viết Xung kích khoảng ba tuần, chép lại một tuần liền. Xung kích còn giữ được bản chép tay. Đi vào đời sống chiến trường, Tố Hữu cùng Nguyễn Đình Thi lên trung đoàn Sơn La đánh trận Trại Vải. Ở trung đoàn Sơn La gặp Trần Dần và Trần Vũ. Trần Dần làm báo ở trung đoàn Sơn La, sau tôi cùng Mai Văn Hiến, Nguyễn Sáng đi 308. Anh Tô Ngọc Vân bị chết ở đèo Lũng Lô.


Trận đầu thu đông đi với pháo binh Trại Vải (bộ binh) là trận thứ hai ta cũng không thắng. Năm 1948 đi địch hậu cùng ông Nguyễn Tuân, 1949 đi với 308 đường số 4. Nhà văn Trần Đăng mất. Viết truyện Ông cụ đưa đường. Năm 1950, 1951 đi chiến dịch Trung du. 1950 chuẩn bị Đại hội 2 phải đi theo Tố Hữu lên Tuyên Hoá làm báo cáo cho đại hội.


Sau chiến dịch Trung du xin vào hẳn quân đội làm chính trị viên phó tiểu đoàn ở ban chỉ huy Trung đoàn và xuống các đại đội. Sau về tiểu đoàn. 1954 đi Điện Biên Phủ, sau Điện Biên Phủ rút về làm phim rồi đi dự Đại hội 2 của Hội Nhà văn Liên Xô.


Hoà bình lập lại tôi viết Con nai đen. Con nai đen vốn tên là Vua nai của Ý. Con nai đen của tôi có những điểm khác. Tôi đã cùng Phạm Văn Khoa xem vở kịch rồi viết Con nai đen (có pho tượng biết cười, có hồn, xác). Tôi thêm ông lão hát rong và một số nhân vật. Ông lão hát rong trong nguyên bản là phù thuỷ. Cũng trong nguyên bản, đoạn pho tượng biết nói rất giỏi. Cô gái trách ông vua: “Anh thấu hiểu lẽ đời sao anh lại bày trò thế”. Câu này là hơn tác phẩm của mình. So sánh thật giả để phát hiện nguyên hình cái xấu. Đây là cuộc đấu tranh phức tạp giữa cái thiện - ác. Cái ác nhiều khi nhập vào cái thiện gây lẫn lộn khó phân biệt. Nhân dân là người sáng suốt nhất nhận ra lẽ phải. Người hát rong là hình ảnh của nhân dân. Vở Con nai đen do Thế Lữ đạo diễn. Mấy cô diễn, một cô đã mất.


Trong thời kỳ chống Mỹ tôi viết Mặt trận trên cao và Vào lửa, những tác phẩm đáp ứng kịp thời yêu cầu thời sự, đề tài mới người viết không dễ thành thuộc. Sau đó chuyến đi Nam là thời kỳ gay go nhất. Dọc đường Trường Sơn nguy hiểm. Vào Nam là miền đất không quen thuộc sợ mình chết là hết. Ngồi ở Mỹ Tho nghĩ về miền Bắc thấy xa lắm, tôi như quên nhiều thứ về đời riêng và cuộc sống chung trước đây. Trong Giấc mơ anh lính quên là thế. Sau 1975 viết một số vở kịch. Kịch lúc này hấp dẫn tôi và rất thích hợp để thể hiện những suy nghĩ của mình. Năm 1983 viết Giấc mơ, 1983 Rừng trúc, Hòn cuội 1987, 1979 Nguyễn Trãi ở Đông Quan, 1980 Tiếng sóng, Giấc mơ gửi gắm nhiều tâm sự, suy nghĩ về chiến tranh, vấn đề sống, chết. Tiếng sóng (khi tự nhiên một con người nhìn rõ sự thật về mình thì phản ứng ra sao). Rừng trúc là vấn đề quyền lực trong xã hội. Nguyễn Trãi ở Đông Quan là vấn đề người trí thức ở Việt Nam. So sánh với Galilê của Berthol Bretch, Khuất Nguyên của Quách Mạt Nhược và Nguyễn Trãi ở Việt Nam (gắn với vấn đề sống còn của dân tộc). Galilê đặt vấn đề khoa học, thần quyền, tôn giáo. Khuất Nguyên nói về sự nhơ bẩn của thói đời. Nguyễn Trãi ở Đông Quan có một phần phê giáo điều nhưng vấn đề chính là sống còn của dân tộc. Tổ quốc không bao giờ mất. Tôi cũng viết tiếp một số vở khai thác từ sự tích rất sâu sắc của dân gian. Bi kịch về chiến tranh (Cái bóng), tự do định mệnh (Người đàn bà hoá đá), giai cấp và trở lực (Trương Chi). Còn có nhiều vấn đề như nghệ thuật và cuộc sống, bản lĩnh của người viết, người viết có đánh mất mình hay không? Nguyễn Trãi ở Đông Quan và Rừng trúc có tính chất kịch nhất. Giấc mơ là kịch hiện đại. Tiếng sóng gồm 5, 6 mẩu chuyện gộp lại. Hoa và Ngần nói về phong tục cũ trong xã hội và cách nhìn nhận đánh giá phẩm giá con người. Một số vở kịch khi diễn gặp khó khăn như Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Rừng trúc. Rất tiếc, nhưng cũng không dễ tránh khỏi cách nhìn nhận chật hẹp đó. Một số vở được in và diễn ở nước ngoài. Hunggari diễn Giấc mơ. Giấc mơ in ở Liên Xô trong Tác phẩm văn học phương Đông (có hai bản dịch ở Liên Xô, một bằng văn xuôi, một bằng thơ). Về Vỡ bờ có hai bài phê bình của B. Pôlêvôi và Đônmatốpxki vào khoảng 1963. Zimonina Inna dịch Tiếng sóng. Rumani sẽ in 1 tập thơ. Tôi viết nhiệt tình và cố tìm cái mới. Lớp trẻ bảo Nguyễn Đình Thi là Eptusenkô, lớp già bảo là Simonov, B. Pôlêvôi, Sôlôkhốp. Anh em trong nước người nghĩ mình là bảo thủ, người bảo là tân tiến nên ý kiến cũng khác nhau.


Nhìn lại thì đời văn, tôi viết nhiều loại. Tôi dự kiến sẽ in thành 3 tập. Tập I là thơ gồm Người chiến sỹ, Bài thơ Hắc hải, Dòng sông trong xanh, Tia nắng và những bài chưa in. Phần văn xuôi in 6 truyện ngắn trong Bên bờ sông Lô như Ông cụ đưa đường, Cỏ mềm, Bên bờ sông Lô, Cái Tết của mèo con... Phần lý luận phê bình in một số bài như Sức sống của dân tộc Việt Nam qua ca dao, cổ tích, Nhận đường, Mấy ý nghĩ về thơ. Công việc người viết tiểu thuyết là một công trình riêng khó đưa vào tập. Tiếp theo là một số bài viết về các tác giả như Trần Đăng, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân. Một số bút ký có tính chất chính luận như Văn Hồ Chủ tịch với nhân dân nhân kỷ niệm 10 năm Bác mất. Một số diễn văn đọc ở nước ngoài...


Tập II in các tác phẩm Xung kích, Vào lửa, Mặt trận trên cao và trích một số chương trong hai tập Vỡ bờ.


Tập III in tất cả các vở kịch Hoa và Ngần, Rừng trúc, Giấc mơ, Tiếng súng, Cuội. Làm tuyển cũng khó ví dụ các công trình về lý luận như Công việc của người viết tiểu thuyết. Một số cuốn Mấy vấn đề..., Một số vấn đề... phải tuyển chọn. Vỡ bờ cũng không in được cả 2 tập. Rồi sẽ tính dần sau. Còn về ảnh hưởng nước ngoài? Nhà văn nào cũng chịu ảnh hưởng nước ngoài hoặc với một trào lưu văn học hoặc với từng tác giả cụ thể. Về văn học Pháp tôi chịu nhiều ảnh hưởng của văn chương Pháp thế kỷ XX như thơ Aragon, Apollinaire. Tôi thích thơ Tagore, Cách mạng chính là cuộc đối thoại với Tagore. Tôi thích Lev. Tolstoi và một vài tác giả trong văn học Xô viết như Êrenbua. Sau có đọc Sôlôkhốp với Đất vỡ hoang. Văn học trong nước tôi quý trọng truyền thống văn học dân tộc với Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Cao Bá Quát. Thời kỳ hiện đại tôi ít đọc Tự lực văn đoàn và Thơ mới. Và khi viết tôi cũng không chịu ảnh hưởng lối viết của Tự lực văn đoàn và Thơ mới. Tôi viết Xung kích khi đi chiến dịch Trần Hưng Đạo đánh vào Vĩnh Yên nhưng chưa chiếm được thị xã Vĩnh Yên. Trận kết thúc là trận núi Đanh. Trận đánh đồn chính là trận đánh đồn Thằn lằn do Nguyễn Quốc Trị chỉ huy. Sau này đọc một số truyện của tôi trong kháng chiến Thụy An bảo: “Kháng chiến mà anh cũng viết được thế à?”. Chắc muốn nói đến chuyện tình cảm giữa Sản, Kha, Lý trong Xung kích (1952). Xuân Diệu thích Xung kích vì thấy có cái gì mới. Đến Vỡ bờ thì ý kiến khen chê phức tạp hơn. Sau này tôi gặp Vũ Đức Phúc ở nhà cụ Mai, tôi bảo phê bình phải tôn trọng tác giả. Vũ Đức Phúc không nói gì.


Xong buổi nói chuyện tôi cám ơn anh về những điều tâm tình mà anh kể và tôi chưa được biết qua sách báo.


 


VÀI SUY NGHĨ VỀ NGHỀ BÁO


Ngày 25/5/1994.


Nguyễn Đình Thi là nhà văn, nhà thơ, tác giả kịch... Ông cũng là tác giả của nhiều bài báo có giá trị. Bằng cuộc đời nhiều trải nghiệm Nguyễn Đình Thi cũng là nhà chính luận xuất sắc. Năm 1995 khi làm Chủ nhiệm Khoa Báo chí Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, tôi đã mời nhà văn đến nói chuyện với Khoa Báo chí. Anh nói vui: “Tuy hơi trái nghề, nhưng nể anh, tôi nhận lời”.


Ở nước ta có nhiều nhà văn, đồng thời cũng là nhà báo. Hai công việc viết văn và làm báo không mâu thuẫn mà có thể hỗ trợ tốt cho nhau trong nghề nghiệp. Nghề chính của tôi là viết văn, nhưng tôi cũng đã làm báo – báo hàng ngày, hàng tuần, tạp chí. Thực chất báo hàng ngày là để phục vụ tốt công tác chính trị của Đảng và Nhà nước.


Sau Cách mạng tháng Tám, Hội Văn hoá cứu quốc cùng một lúc đã cho ra mắt bạn đọc nhiều tờ báo. Đó là báo Cứu quốc, Cờ giải phóng, Tiên phong - nửa tháng một số, tuần báo tiếng Pháp La Republique và một số tờ báo tiếng Trung Quốc là Tân Việt Hoa. Như Phong và Tô Hoài làm báo Cứu quốc, Nguyễn Huy Tưởng và tôi làm báo Cờ giải phóng. Nguyễn Huy Tưởng làm thư ký toà soạn.


Những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp ở Hà Nội, Trung ương giao cho Thép Mới phụ trách báo Mặt trận Hà Nội, Cứu quốc thủ đô. Toà soạn của báo đặt tại làng Sét để hàng ngày phản ánh được kịp thời tình hình mặt trận thủ đô. Thời kỳ đầu ở chiến khu Việt Bắc cũng như ở các khu khác, đa số các nhà văn đều tham gia làm báo. Trước hết, đây là một công việc rất có ý nghĩa và rất quan trọng; bởi vì qua báo chí nhà văn có thể đóng góp trực tiếp tiếng nói của mình với công cuộc kháng chiến. Hai nữa về mặt nghề nghiệp, làm báo và làm văn rất gần gũi với nhau, làm báo tốt, giúp cho viết văn tốt. Với khả năng sáng tác của mình, nhà văn đi vào đời sống, gắn bó với những vấn đề thời sự của cuộc kháng chiến, của từng vùng quê, của từng người dân, nên có thể phục vụ tốt công tác báo chí. Về phía nhà văn, hoạt động báo chí giúp cho việc hiểu sâu cuộc sống, hoà đồng với quần chúng cách mạng, tích luỹ tư liệu để phục vụ cho việc sáng tác tác phẩm văn học của mình.


Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp và cũng từ đó về sau, tôi đều làm báo Văn nghệ. Khi Hội Văn nghệ thành lập, tờ báo của Hội do Tố Hữu phụ trách, Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng là thư ký toà soạn. Sau này ra thêm tờ Tin Văn nghệ là báo hàng tuần. Tuy không chuyên về công tác báo chí, song tôi cũng có một số suy nghĩ. Có lẽ đối với báo chí thì quan trọng nhất là đội ngũ phóng viên. Những tờ báo hàng ngày có uy tín trên thế giới đều có những phóng viên bình luận tin, phóng viên viết phóng sự. Nhiều khi ý kiến của những phóng viên chuyên sâu về một vấn đề xã hội trong nước hoặc nước ngoài có thể làm nghiêng ngả dư luận trong một nước. Trước kia ở Pháp có hai phóng viên viết về Việt Nam là Louis Roband và André Viollis. Louis Roband đã viết những phóng sự về cuộc khởi nghĩa Yên Bái – Nguyễn Thái Học khi bị thực dân Pháp xử bắn; về phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh. Những phóng sự này đã góp phần giúp tôi giác ngộ cách mạng khi còn trẻ tuổi. Người thứ hai là nữ phóng viên André Viollis đã viết Đông Dương cấp cứu (Indochine SOS). Bà đã theo Bộ trưởng thuộc địa Pháp đến Nghệ An và đã tận mắt nhìn thấy người dân ở đây phải sống đói khổ như thế nào. Bà đã vào nhà tù và tìm gặp những người chính trị phạm, phỏng vấn họ... Và khi trở về bà đã viết: “Nếu nước Pháp không cải tiến chế độ thuộc địa thì trong khoảng 10 đến 15 năm nữa sẽ mất Đông Dương”. Và lời tiên đoán ấy của bà đã thành sự thật.


Đối với các báo hàng ngày, theo tôi quan trọng nhất vẫn là cách đưa tin. Đưa tin phải biết định hướng, chọn tin nào và bỏ tin nào. Việc đưa tin rất quan trọng. Nhiều nhà báo thường thích viết bài hơn đưa tin vì chưa đánh giá đúng tầm quan trọng của tin, nội dung của tin tức cũng như cách đưa tin. Một số tờ báo ở nước ta hiện nay thường đưa tin quá nhiều về người mẫu – thời trang, về thi hoa hậu ở trong nước và nước ngoài. Điều đó sẽ dẫn đến tâm lý đề cao sắc đẹp của người con gái, mà không thấy hết được những cái đẹp về phẩm chất, đạo đức, tài năng của người phụ nữ. Ngoài ra một số báo còn đưa tin nhấn mạnh đến sự may rủi trong việc làm giàu, trong xây dựng gia đình, và nhiều chuyện đời tư của các diễn viên điện ảnh, ca sỹ... Điều đó làm cho một số người sinh ra ảo tưởng về may rủi, về số mệnh, đi đến chỗ tin vào bói toán, đi chùa cúng bái.


Đưa tin rất quan trọng, vì vậy biên tập tin phải rất cẩn thận, phải xem đó như là khâu chính, nhất là đối với các báo hàng ngày. Báo hàng ngày của nước ta, đưa tin còn giống nhau, thường dựa vào bản tin của Thông tấn xã Việt Nam, rồi sửa đi chút ít. Ngày nay yêu cầu của người đọc về tin khác xa trước kia. Họ có nhiều kênh truyền hình, nhiều báo chí, nhiều đài phát thanh trong và ngoài nước để tiếp nhận thông tin. Vì vậy phải tạo cho người đọc các loại thông tin không phù hợp. Báo chí thế giới ngày nay với những phương tiện hiện đại đang ra sức cạnh tranh tin tức, làm sao để có tin mới nhất, sớm nhất, quan trọng nhất? Và ở trên các báo, các đài phát thanh, truyền hình làm sao để có thể đưa tin theo cách khác nhau? Như chúng ta đã biết, nhìn vào cách đưa tin của một tờ báo, ta có thể thấy rõ được khuynh hướng, trình độ, cũng như quy mô của tờ báo đó. Đưa tin phải góp phần nâng cao trình độ dân trí trên những vấn đề xã hội quan trọng, không nên đi sâu vào những loại tin tức giật gân, gợi trí tò mò, câu khách. Ở nước Pháp, tờ báo Le Monde, có thể nói đăng rất ít ảnh, đa số chỉ có các bài viết, không in chữ màu, chỉ có chữ đen trên nền giấy trắng, nhưng nó đã góp phần không nhỏ làm nên khuynh hướng chính trị của nước Pháp. Tin của báo này được đưa một cách thận trọng, chính xác từ tin trong nước đến nước ngoài; và tất nhiên những bài bình luận họ thể hiện rất rõ quan niệm riêng của mình. Ở nước Anh, tờ báo Times là tờ báo thường được người ta cho là “khô khan” nhưng lại bán rất chạy. Có lẽ người ta đã tìm thấy được ở trong tờ báo này có nhiều tin tức cần thiết ở trong và ngoài nước.


Bình luận cũng là một chuyên mục rất quan trọng của một tờ báo. Bình luận về chính trị, kinh tế, xã hội thể hiện rõ khuynh hướng của tờ báo. Cần phải có những nhà bình luận có tri thức, có kinh nghiệm giỏi như nhà bình luận nổi tiếng của báo Nhân đạo của Pháp là André Wilsère. Mỗi ngày ông chỉ viết một bài bình luận ngắn khoảng 10-5 dòng. Những bài viết này khi thì viết về những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội lại có khi chỉ viết về đường phố. Những bài viết của ông tuy ngắn, nhưng súc tích và gợi mở.


Trên các báo ở nước ta, những bài báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh CB – là những bài báo rất quan trọng. Các bài này thường ngắn, đề cập những vấn đề quan trọng nhất của xã hội, câu văn bình dị, dễ hiểu, dễ thuyết phục. Bình luận trên các báo hàng ngày không nên quá dài, nếu dài sẽ kém phần tác dụng đối với người đọc.


Trên báo chí, các bức ảnh cũng góp phần rất quan trọng cho giá trị của một tờ báo, nhiều khi nó còn thay thế cho bài viết và nói lên bao điều. ảnh anh hùng liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi do phóng viên Pháp chụp được đúng vào lúc anh Nguyễn Văn Trỗi sắp bị xử bắn. Chúng ta rất cần tấm ảnh đó, và cuối cùng phải nhờ Tân hoa xã Trung Quốc liên hệ tìm hộ. Nhiều khi các tờ báo phải mua những bức ảnh có giá trị tương đương. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở Việt Nam, có một bức ảnh nổi tiếng, chụp về một em bé gái vừa chạy vừa khiếp sợ vì lửa của bom napan đang bốc cháy trên người. Bức ảnh có một sức mạnh tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ đối với nhân dân Việt Nam rất mạnh mẽ, làm cho nhân loại trên thế giới thấy được sự tàn khốc của cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam.


Trở lại với nhân vật trung tâm của báo chí là phóng viên. Theo tôi phóng viên phải là người chịu khó đi nhiều nơi, phải xông xáo và bằng trí óc của mình ghi chép lại, phát hiện, điều tra những vấn đề của cuộc sống. Phải tạo tính khách quan cho thiên phóng sự về cuộc sống của mình. Sự thực bản thân nó mang tính thuyết phục. Song phóng sự phải có thiên hướng. Người viết đứng ở vị trí nào, vấn đề nêu ra, thái độ thừa nhận hay phê phán những hiện tượng được đề cập tới như thế nào - đều thể hiện ở trong bài phóng sự. Có những trường hợp phóng viên phải có bản lĩnh, phải dám đến những nơi khó khăn đầy thử thách, thậm chí đòi hỏi cả sự hy sinh bản thân mình. Một thiên phóng sự hay có khi dám đối chọi với dư luận xã hội lúc này và người phóng viên phải có can đảm và bản lĩnh vững vàng. Những phóng viên quốc tế còn đòi hỏi một trách nhiệm nặng nề hơn. Họ phải linh hoạt, tháo vát và phải tự mình tạo lập những mối quan hệ thuận lợi cho công việc, mà vẫn thực hiện đúng được đường lối chính sách đối ngoại của Nhà nước mình. Phó Tổng biên tập báo New York time sang Việt Nam giữa lúc Mỹ đang tăng cường ném bom phá hoại ra miền Bắc, và một trong những mục đích của nhà báo này là quan sát xem nhân dân Việt Nam có chịu đựng nổi bom đạn của Mỹ như thế này không? Sau khi ông sang Việt Nam về, tôi có gặp ông ở Liên Xô. Tôi có nói với ông rằng: “Cuộc chiến tranh chống Mỹ ở Việt Nam có nhiều bất ngờ. Chúng tôi không ngờ các ông đưa vào Việt Nam đến nửa triệu quân, nhưng chúng tôi vẫn chống trả được. Mỹ ném bom vào các trường học, vào đê điều ở Việt Nam. Báo chí của các ông phải lên tiếng phê phán. Đó là tiếng nói hợp với lương tri nhân loại”.


Làm phóng viên báo chí phải có kiến thức nhiều, hiểu biết nhiều và có lĩnh vực phải đi sâu. Vốn hiểu biết của phóng viên không được khép kín, mà phải mở ra để luôn tiếp nhận những cái mới của cuộc đời. Với phóng viên báo chí, thì phóng viên báo hàng ngày thường dễ vất vả hơn cả. Báo hàng ngày chỉ được xem một lần trong ngày hôm ấy; ngày hôm sau, người đọc xem báo ngày hôm sau. Báo hàng tuần, phải “sống” được một tuần, tạp chí hàng tháng phải “sống” được một tháng. Báo hàng tuần phải có một số bài có nội dung sâu sắc, vượt lên những thông tin hàng ngày. Báo hàng tuần thường có nhiều thể loại. Ở nước ta thịnh hành là loại “Magazine” có đủ các món ăn, cái gì cũng có một chút từ xã hội, chính trị, kinh tế đến gia đình, tình yêu. Đó cũng là một tình hình thực tế. Báo chuyên đề, thường chỉ đi sâu vào một số vấn đề, nên số người đọc ít hơn.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi. Chuyên luận, trò chuyện và ghi chép của Hà Minh Đức. NXB Văn học, 12-2011.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
Na Hang: Sắc nước hương trời - Trần Mai Hưởng 30.09.2019
Nhìn mưa, nhớ Nguyễn Ngọc Ly - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Trúc Cương - Liêu xiêu một đời - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Ngôi sao xa xôi thưở ấy - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Sun Group, Địa Ngục Tự - Bài 2: Dấu chấm hỏi về 'vòng tròn khép kín' ở Tam Đảo II - Nhiều tác giả 26.09.2019
Điều tra độc quyền: Sun Group, Địa Ngục Tự và ma trận chiếm lĩnh rừng quốc gia Tam Đảo - Nhiều tác giả 23.09.2019
Nguyên Ngọc con người lãng mạn - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2019
xem thêm »