tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28870828
Tiểu thuyết
14.02.2012
Ngọc Giao
Cô gái làng Sơn Hạ

 


Ông già khẽ gọi:


- Hồi à, con liệu làm cơm khách nhé. Ra chợ xem có cá mè tươi mua về làm gỏi. Hôm nay ấm trời, ta đánh chén với gỏi cá thì tốt lắm, phải không cậu?


Vĩnh chưa bao giờ cảm động sung sướng bằng lúc này, có lẽ là lần đầu trong cả cuộc đời anh. Hồi đã cắp rổ ra ngoài ngõ. Anh liếc trông theo, thấy Hồi ngoảnh lại nhìn anh miệng cười chúm chím.


III


- Lấy cho tôi chai nữa, cô Nhàn!


Vĩnh đặt mạnh vỏ chai xuống chõng. Mắt anh đỏ ngầu.


Nhàn ngồi nép bên cái tủ nhỏ và cóng nước trà tươi, rung rung đứa em nhỏ trên tay đang khóc.


- Thôi, anh Vĩnh, say rồi đấy, về mà nghỉ.


Vĩnh quay nhìn ra ngoài dòng sông tối, giọng anh thấp xuống như nói với ai kia đang mong chờ anh ở bên sông.


- Tôi không về… không bao giờ tôi còn về nữa. Có lẽ tôi sẽ phải bỏ nhà bỏ cửa mà đi…


- Đấy, anh Vĩnh, say thực rồi. Về đi kẻo cụ bà lại phải xuống tìm. Trời rét mướt…


Vĩnh gục mặt vào lòng bàn tay, tóc anh rũ rượi. Anh lẩm bẩm:


- Cơ sự thế này thì tôi đến phải bỏ nhà mà đi mất… Ai lại mắng chửi mình, xô đuổi mình như con vật…


Hớp rượu cuối cùng chưa kịp nuốt đã sặc, rồi thì nôn thốc nôn tháo, Vĩnh ngả đầu tựa vào cột tre, mắt nhắm nghiền.


Một lúc, mở mắt, anh thấy Nhàn đứng đắp chiếc khăn dúng nước nóng vào trán anh. Vĩnh nắm lấy cổ tay Nhàn, giọng anh mệt nhọc:


- Cô Nhàn!


- Dạ…


Nhàn không rút tay lại, má đỏ bừng, cúi nhìn xuống đất. Vĩnh kéo Nhàn sát lại gần.


- Tôi cám ơn Nhàn…


Cổ anh nghẹn lại. Anh nhớ đến những lần ông bố quá say, mẹ anh cũng sợ hãi đắp khăn nóng vào trán ông như thế này. Anh nhớ đến vẻ mặt buồn phiền và đôi mắt chứa đầy thương xót của bà nhìn cha anh, rồi bà buồn phiền cúi xuống, cũng như Nhàn… Nhàn lúc này đây, săn sóc anh như một người vợ, cũng có vẻ mặt sầu khổ và đôi mắt ướt lóng lánh nhìn anh vô cùng thương cảm. Anh siết chặt hơn cổ tay Nhàn:


- Tôi cảm ơn Nhàn lắm…


- Có gì đâu ạ, anh Vĩnh!


Hơi thở Nhàn rộn lên vì xúc động. Bỗng Vĩnh rời tay Nhàn ra, gọi một cái bóng vừa thoáng qua ngoài bến tối:


- Lũy! Xuống thuyền chờ tôi nhé!


Anh đứng dậy, chụp chiếc mũ nồi bẩn thỉu lên đầu, lảo đảo bước ra.


Nhàn lắc đầu chán ngán. Cô thu hàng, khép tấm giại, trèo lên ghế thổi tắt đèn.


***


Lũy khép ván cửa khoang thuyền cho đỡ gió. Rồi anh thổi mồi rơm châm đèn, rít một hơi điếu cày. Khói tỏa lên, lởn vởn đọng trên vòm mui nứa. Sóng vỗ óc ách. Thuyền khẽ tròng trành như ru. Vĩnh nằm yên, mở to mắt nhìn vào mặt Lũy. Anh này đưa bàn tay sần sùi gãi cái sẹo ở cằm. Lũy kể:


- Ngày bé, đã có lần tôi theo mấy người anh em sang Sơn Hạ. Bên ấy mở hội to, người các làng vạn quanh đấy kéo nhau đến xem đông lắm. Những kẻ dám đặt chân vào đất Sơn Hạ ấy thảy đều là những tay chơi liều lĩnh và cần nhất là phải giắt dao trong mình.


Tôi nhớ rằng, sợ không được đi, tôi đã lẻn xuống thuyền trước, cậy ván chui xuống nấp. Khi đến Sơn Hạ, chờ cả bọn lên bộ rồi, tôi mới chui lên đuổi theo sau. Lúc này, thấy tôi, họ chỉ trợn mắt nhìn, đành cho theo vậy.


Chúng tôi đứng xem họ đấu vật. Tôi còn nhớ rõ mồn một cái gã đô vật của Sơn Hạ to lớn lạ lùng, gã đã thắng tất cả đô vật khác trong mấy ngày liền. Gã ta thách đô vật các nơi xem ai dám đấu tiếp. Có một người cũng to lớn chẳng kém gì gã ta xông vào. Mọi người đứng xem thì thầm bảo nhau đó là một tay thuyền chài ở vùng khác, vật có tiếng xưa nay. Rút cuộc, gã đô vật làng Sơn Hạ bị thua. Lúc xẩm tối, chúng tôi đang ngồi uống rượu trong quán, cô con gái bà hàng chạy về cười rú lên báo tin ngoài rừng dừa mới có một cái xác lòi cả ruột. Cô ả thản nhiên nhổ cốt trầu rồi tiếp: “Đó là xác tay đô vật thuyền chài bị anh đô vật làng Sơn Hạ mình giết đấy!”.


Ăn uống xong thì xẩm tối. Chúng tôi vào đình. Mới bước đến sân đình, tôi đã sởn tóc gáy vì thấy những cây thiết lĩnh, giáo mác sáng loáng cắm trên hai giá tre bày hai bên, dưới những lá cờ ngũ hành xanh đỏ. Bọn tuần tráng anh nào cũng khỏe mạnh đi đi lại lại. Trong đình, ở hai gian bên có mấy đám thò lò, xóc đĩa. Tiếng cười thét ầm ầm như chợ vỡ. Thỉnh thoảng lại có cuộc đánh nhau; con gái, trẻ con chạy ùa cả ra ngoài. Giữa đình, phường chèo đang hát. Phường hát này mà dám nhận đám ở đây chắc cũng phải là một phường hát có gan, tay trùm cũng phải là tay ăn chơi giỏi võ.


Có một người kể chúng tôi nghe: “Một năm, phường hát này có cô đào đẹp lắm. Anh con trai một ông vạn ngỗ nghịch, võ nghệ giỏi xưa nay, chòng ghẹo cô đào hát. Bố cô đào đánh ngay con trai ông vạn ở giữa đình. Anh trai này bị thương, nhưng anh ta không tính việc báo thù. Sáng hôm sau anh làm cơm rượu ra đình mời cả phường vào thết đãi. Từ đấy, phường hát này được trai làng Sơn Hạ phục và cũng từ đấy hễ có hội hè đình đám là phường lại được dân Sơn Hạ đi mời.


Chúng tôi ra đám hát trống quân. Gái làng này đẹp lắm, cô nào hát cũng hay. Trai trong làng, trai các nơi, hễ anh nào hát thua thì bị các cô làm cho xấu hổ, cho nhục nhã. Các cô bảo trẻ con lẻn vào đứng sẵn sau lưng, anh nào thua, tức thì chúng đổ ngay nước tiểu vào đầu, vào quần áo. Mà anh nào thắng thì có thể bế xốc ngay cô gái lên đùi, cũng có thể dắt cô ấy vào rừng dừa, ra bờ sông, vào ruộng rau, cắt tàu lá chuối trải xuống đất thay manh chiếu.


Cái trinh bạch của các gái tơ làng Sơn Hạ không có nghĩa lý gì. Kể cả đàn bà có chồng có con rồi, trinh tiết, họ không cần giữ. Chỉ chết những thằng đàn ông. Anh nào bị phỗng tay trên thì lẳng lặng đến nhà hàng nốc cho say, rồi tìm bác thợ rèn cuối chợ, mua một con dao nhọn sắc. Công việc tính toán với nhau rất chóng. Một cái xác buộc vào hòn đá vất ra sông, nó sẽ từ từ trôi ra biển.


Một đêm hội hè vui vẻ, một đêm trai gái mặc sức nô đùa, vài ba cái xác trôi đi là thường lắm. Trong khi ấy thì những cặp nhân tình cứ tự do dắt nhau đi dưới ánh trăng, ra rừng dừa, ra vườn rau, ra bờ sông, trải tàu lá chuối xuống nằm, trải ngay trên miếng đất còn ướt máu, còn vài ngón tay bị chém vương vào chân cỏ. Án mạng trên cái đất Sơn Hạ này, ngày thường cũng như ngày hội, xảy ra nhanh chóng, dễ dãi như là ta nhai dập một miếng trầu. Cái xác buộc vào hòn đá nặng cứ việc trôi ra sông ra biển, để cá nó ăn cho béo. Mà cá béo thì lại lọt vào lưới của chính những kẻ đã giết người, không cần hối hận. Họ đem cá đi bán cho cha mẹ, vợ con những kẻ xấu số đã nằm trong bụng cá kia. Quan không làm gì họ, bởi huyện ở xa, phủ ở xa. Đến nơi thì tang tích không còn. Thực ra, quan cũng ngán, chẳng muốn dây vào làng hủi”.


Nhưng đó là làng Sơn Hạ mười mấy năm về trước. Bây giờ, anh Vĩnh ạ, tôi chắc dân đã khá thuần rồi.


Một điều ta nhận thấy là từ khi anh đến ở bến này, có nghe thấy nói làng Sơn Hạ đi cướp bóc ở đâu chưa? Có thấy một cái xác trai gái nào trần truồng giạt sang bến này không? Xưa kia chính mắt tôi luôn thấy. Đã một lần, tôi ra đây vo gạo, thế nào mà đặt ngay cái rá lên mớ tóc nổi lềnh bềnh.


Lũy cười phá lên, cái miệng đã méo sẵn của anh ta xếch hẳn sang một bên, má đầy những hột cơm, sẹo nhỏ.


Vĩnh không cười. Mặt anh đượm một nỗi buồn thầm kín.


Lũy thấy Vĩnh không cười thì ngẩn mặt ra. Anh nói:


- Có phải thế không? Tôi cũng nghe đồn bên Sơn Hạ, mấy năm nay, người ta giẫy cả vườn hoang để cày cấy. Một nửa dân làm ruộng, một nửa dân vẫn theo nghề chài. Thỉnh thoảng con trai bên ấy chẳng sang đây mua than bán cá là gì đấy. Họ cũng lương thiện y như chúng mình. Thí dụ anh chàng đêm nọ vào đánh bạc trong sòng bạc bác Cai, dắt theo một cô gái xinh xinh ấy. Vĩnh còn nhớ chứ? Anh ta lành ra phết, thua sáu bảy đồng mà chẳng cáu kỉnh gì. Thế mà bây giờ người ta vẫn khinh ghét làng Sơn Hạ. Ai cũng yên trí ở Sơn Hạ trai thì ăn cướp, gái thì làm đĩ, loạn dâm. Cái miệng người đời chó lắm!


Lũy thở khói thuốc lào, dụi mạnh tàn đóm xuống sạp thuyền. Đoạn anh nằm xuống, kéo chiếu đắp cho bạn và đắp cho mình.


Lát sau, anh ngoi đầu lên khỏi mép chiếu, giọng chán nản:


- Vĩnh ơi, thế anh có hết lòng giúp tôi cái việc hệ trọng nhất đời đó không?... Cái việc Nhàn ấy mà…


Vĩnh ngồi lên, âu yếm vỗ vào đầu Lũy:


- Tôi giúp anh. Anh có thể tin chỉ từ giờ đến Tết, Nhàn sẽ là vợ anh. Cứ cố dành tiền đi, rượu ít chứ.


Lũy vẫn chán chường:


- Ít lâu nay tôi sinh ra rượu chè là tại tôi rất buồn vì Nhàn. Cô ấy không yêu tôi, có thể nói cô ấy ghét tôi. Tôi biết mình xấu xí, chẳng bằng ai, nhất là chẳng bằng anh. Nhàn mê anh lắm, tôi biết. Tối nào tôi cũng phải đi qua nhà Nhàn, chứ không dám vào. Vào thì ra về thêm tủi, lại phải nốc thêm dăm cút rượu nữa mới đặt mình ngủ được. Ban nãy tôi đứng bên ngoài, nhìn Nhàn chườm khăn nóng vào trán anh. Giá Nhàn làm thế cho người khác thì tôi đã xông vào, nhưng Nhàn săn sóc anh là đáng lắm. Đã có lần tôi khổ sở quá, uống cả một chai trước mặt Nhàn, rồi gục xuống. Thế mà Nhàn cứ mặc xác tôi nằm đấy. Như vậy anh bảo tôi còn hy vọng nỗi gì?


Lũy gần như muốn khóc. Vĩnh ấn đầu bạn xuống mỉm cười:


- Anh cứ tin lời tôi. Tôi chắc mai mốt anh sẽ được ngồi nói chuyện với Nhàn.


Lũy thò tay ra ngoài chiếu, giơ lên một chuỗi dây xà tích bạc.


- Đây này, tôi đã nhịn may áo, mua cái này định biếu Nhàn. Nhưng gặp Nhàn, tôi lại hồi hộp… thế rồi thì không dám bỏ ra, không dám nói câu gì cả.


Vĩnh bật cười thương hại bạn:


- Sáng mai anh đem bán lại nó cho hàng bạc, lấy tiền may áo rét, hay bỏ ống để mai mốt mà mua trầu cau.


Vĩnh kéo chiếu lên đắp kín đầu Lũy, rồi anh với tay ra mở cửa thuyền. Đêm nay, ánh trăng mùa đông lạnh lẽo rải trên sông, trên bến. Nhìn tảng đá bên đường goòng Vĩnh nghĩ đến tối qua anh ngỏ lời xin cha mẹ cho anh lấy Hồi. Ông cử thét: “Mày mà lấy nó thì tao từ. Tao như thế này mà lại đi thông gia với quân kẻ cướp à? Tao còn sống đây, lại để mày mang con giặc cái ấy về nhà này ư? Giấy rách phải giữ lấy lề. Mình tuy nghèo khó, nhưng ở cái bến này ai cũng có lòng kính nể. Nay mày rước đứa con gái ở cái làng ăn cướp ấy về làm dâu tao, thì phỏng mày định bôi gio trát trấu vào mặt bố mẹ mày ư?”.


Anh đã đau đớn, tức giận đến nỗi không sao nhịn được: “Ấy là thầy chỉ nghe người ta đồn đại những tiếng xấu cho cái làng ấy mà thôi. Hiện giờ, người ta cũng làm ăn lương thiện như mình. Cha anh cô ấy cũng có chữ nghĩa như mình, cô ấy cũng lành hiền trong sạch như là mẹ con…”.


Ông cử vơ lấy cái chén ném vào anh, ông thét: “A, thằng này hỗn láo! Mày ví những quân ăn cướp với cha mày, so sánh con đĩ với mẹ mày”.


Rồi ông bước xuống giường, kéo tay anh ra cửa. Bà cử cuống quýt níu lấy áo ông: “Thôi, tôi lạy ông, con nó dại ông để tôi bảo nó…”. Nhưng ông hất tay bà ra, ông lôi Vĩnh xuống bến. Đến cái tảng đá bên đường goòng, ông đẩy Vĩnh ngồi xuống đấy, chỉ tay ra ngoài biển mịt mù: “Tao nói cho mày biết, bao giờ ngọn hải đăng kia tắt, tao chết, thì mày muốn làm gì mặc ý mày. Chứ ngọn lửa ấy còn, tao còn, thì tao quyết không cho mày lấy con giặc ấy. Tao để mày ngồi trên hòn đá này suốt đêm nay mà ngẫm”. Rồi ông lại trèo lên dốc núi. Vĩnh một mình gục đầu xuống cánh tay.


Vĩnh lắc đầu, cay đắng nghĩ đến lời ăn tiếng nói của người cha. Anh trông lên chân núi, gian nhà anh lờ mờ dưới ánh trăng khuya, trong đó người mẹ già đang khóc vì anh.


***


Tinh sương, Vĩnh đã sang Sơn Hạ. Phiên, anh Hồi, đang cuốc đất trong vườn rau, bước ra niềm nở đón anh. Vào giường ngồi, đã uống hết hai chén trà mà chưa thấy tiếng Hồi, anh băn khoăn nhưng hỏi thì không dám. Ông già cũng vừa ngủ dậy, từ trong buồng bước ra. Trông thấy anh, ông có vẻ bằng lòng lắm. Có tiếng cười của Hồi ngoài ngõ. Hồi bước lên thềm tình cờ thấy Vĩnh, mặt cô ửng đỏ. Có lẽ Hồi mừng thầm, nghĩ hôm nay Vĩnh sang sớm thế, chắc là để báo cho mình một tin mừng.


Phiên tinh ý mỉm cười, hỏi cho em đỡ thẹn:


- Cô ra chợ mua gì thế?


- Em mua một cái gương. Nhà chả có cái gương nào, em cứ phải đội khăn mò, có soi thì lại ra chum nước.


- Em tôi dạo này sao hay làm dáng thế! Đưa anh coi gương có đẹp không.


Xem gương rồi, Phiên cười, nhìn em bảo:


- Chiếc gương sáng quá! - Và quay lại cười với Vĩnh - Chú Vĩnh ạ, em tôi về việc mua bán thì kén chọn sành đáo để, chẳng mấy khi bị hớ đâu.


Má Hồi lại thêm ửng đỏ. Vĩnh đưa mắt nhìn Hồi. Cả hai cùng hiểu ý nghĩa câu nói của Phiên. Lúc này Vĩnh thấy quý người con trai ấy quá, muốn nắm lấy bàn tay Phiên thật chặt.


Một lát sau, Vĩnh bấm Phiên ra vườn. Vĩnh thú thật việc cự tuyệt của ông bố, giọng anh thành thực, đau buồn. Phiên cắn môi dưới, lắc đầu. Hồi nấp sau một bụi chuối, bước ra. Mắt Hồi đã ướt, nhìn Vĩnh:


- Thầy em và chúng em cũng đoán trước sự việc này rồi. Cái làng này, ai chẳng có quyền khinh. Bây giờ, tùy anh…


Vĩnh cúi nhìn xuống đất. Rồi bỗng anh nắm lấy tay Phiên và tay Hồi, mắt anh như rực lửa:


- Cơ sự đã thế này thì ngay từ hôm nay tôi không về nữa. Tôi sẽ dựng một căn nhà gianh ở làng này, để theo bác ra khơi, đợi khi nào thầy tôi hồi tâm lại, sẽ hay.


Hồi ngước mắt nhìn Vĩnh. Hai bàn tay họ nắm chặt nhau, thầm trao tình gắn bó.


IV


Phiên và Hồi đã giúp Vĩnh dựng xong một gian nhà gianh vách đất bên cây đa cổ thụ gần ngay giếng nước. Hai nhà cách nhau chỉ một quãng, nên ngày nào ba người cũng qua lại chơi bời thân mật. Mới được chừng nửa tháng, Vĩnh đã theo Phiên ra biển hai, ba bận. Vĩnh khỏe mạnh, can đảm, sáng ý, thành ra học được nghề chài lưới chẳng khó khăn gì.


Một sớm, ông trùm Vạn, bố Phiên bảo con đưa Vĩnh đi xem cảnh đảo, cùng lúc, thăm hỏi bà con trên đảo. Ông nói:


- Tôi cần báo trước với anh Vĩnh: dân đảo dừa này đều là tứ chiếng quần cư. Phần đông ông cha họ xưa kia là những người cầm vũ khí trong các cơ đội hùng mạnh của Đề Thám, Tán Thuật, Cai Vàng. Những cơ đội nghĩa quân ấy đã dần dần tan rã chỉ do cái hèn nhát của một tên vua. Đọc sách sử, anh đã rõ.


Nghe ông trùm giới thiệu gốc nguồn dân đảo, Vĩnh kinh ngạc, lạnh sống lưng. Ông trùm tiếp:


- Qua nhiều năm, họ rủ nhau kéo đến đây sinh sống, một lòng, một chí, chịu sự dìu dắt của tôi. Họ thay tên đổi họ, tất cả chung một họ Trần. Tôi đã tình cờ tìm ra cái đảo này, đặt nhát cuốc đầu tiên xuống mảnh đất hoang này. Bởi thế, họ xây cho tôi cái sinh phần ở cuối đảo, lát nữa, anh sẽ thấy.


Vĩnh đã cùng Phiên đi hết đảo, đã thăm hỏi khắp mặt cư dân. Vĩnh nhận thấy họ rất đàng hoàng trong thái độ và ngôn ngữ. Phút giây đầu, anh mến họ và họ cũng quý anh.


Thấm thoắt qua nửa tháng. Một buổi trưa, Vĩnh ra sông tắm; về, thấy đông nam nữ hội nhau trên mảnh sân rộng nhà cụ trùm, người cầm đoản côn, người cầm mã tấu, đoản dao, giáo mác. Vĩnh đứng khuất mình ở một góc sân. Yên lặng như tờ. Ông Vạn ngồi chiếc ghế to đặt trên thềm. Ông giảng giải cho môn đồ nghe về võ thuật.


Vĩnh thêm kinh ngạc về lai lịch ông trùm. Thì ra ông già này, thoạt nhìn hình dáng có vẻ suy nhược, tàn phế đến nơi (ngỡ là ông chờ chết) lại là một con người toàn tài văn võ, khéo ẩn mình.


Cuộc thao diễn vũ thuật kéo dài đến tận chiều. Lòng náo nức, Vĩnh vẫn đứng ở góc sân, sau một cây đại thụ, nhận xét tài lực của đám môn sinh ông Vạn. Cả nam lẫn nữ, người nào cũng mạnh, nhanh, song cách sử dụng binh khí đôi lúc, đôi người, còn khiếm khuyết, cần phải kịp sửa ngay. Bỗng ông trùm cất tiếng lệnh cho Hồi ra đấu mã tấu với một thanh niên tráng kiện, khôi ngô. Hồi không chút rụt rè, vâng lệnh. Hồi vận lối võ sinh, đầu quấn khăn tím đầu rìu, quần mầu mận ống bó chẽn, áo màu xanh quấn ngang lưng giải lụa hồng, chân dẫm đất. Vào cuộc, hai thanh mã tấu chạm nhau tóe lửa. Đường đao của cô gái biến hóa khá lanh lẹ, có những nhát chém ngang, chém bổ thượng xuất thần. Địch thủ cô không kém. Vĩnh tấm tắc khen. Qua mấy đường đánh hụt, Hồi nghe như đã thở. Đôi võ sinh dồn nhau tới sát vòng vôi, gần ngay chỗ Vĩnh. Chàng trai dần dần dồn cô gái vào thế bí. Đỡ một đòn quá mạnh của đối phương, Hồi vô tình xoay lưng về Vĩnh. Quá hồi hộp, Vĩnh nói đủ Hồi nghe, mách người yêu một thế thủ, thế công. Tình yêu luôn sẵn luồng giao cảm, Hồi nghe tiếng Vĩnh, nghe hơi Vĩnh, thốt khỏe ra. Nhanh như làn gió, cô phá đòn địch, hạ mình thấp xuống, phóng đao quét ngang chân, tung mình lên, phóng cước. Đối thủ của Hồi kêu lên một tiếng, ngồi bệt xuống. Cả võ trường hò reo. Ông Trùm vuốt râu cười. Đôi mắt tưởng như kèm nhèm của ông già, thực tình, đã nhận rõ toàn thể hiện trường. Ông biết và mừng, thấy thằng rể tương lai của ông đã khéo giấu mình ít ngày nay trước mặt ông. Anh chàng mách cái nước đỡ đòn hạ địch cho con gái mình ắt phải là một tay cao thủ, cũng là trúng ý ông lúc đó, song ông không thể lên tiếng “gà” cho con gái.


Hồi cúi đỡ anh chàng bại trận đứng lên, nói mấy câu nhún mình xin lỗi, rồi quay lại phía Vĩnh, đôi mắt đã sẵn đen nhánh càng thêm lóng lánh, chớp động hàng mi dài cong vút. Mồ hôi đọng trên vầng trán, cặp má anh đào. Hồi loay hoay nắn túi tìm khăn lau mặt. Vĩnh nhanh tay đưa Hồi khăn tay của anh, Hồi lau xong, nở nụ cười duyên, đút vào túi áo:


- Cảm ơn, cảm ơn anh Vĩnh!


Cách đó ba hôm, ông trùm muốn biết thực tài Vĩnh, tự đánh cồng, triệu tập võ sinh tại sân nhà. Ông mời Vĩnh thao dượt một bài quyền, bài côn, bài kiếm. Thế chẳng thể đừng, Vĩnh đành phải vâng lệnh ông trùm một mình đứng giữa sân, trước mấy trăm cặp mắt, biểu diễn mấy môn anh đã được một võ sư người Nghệ Tĩnh truyền dạy ban đêm trên đỉnh núi Bến Than.


Dân đảo, không thiếu mặt nào, hết lời thán phục người khách lạ. Từ buổi ấy, họ tìm đến với anh, khách lạ thành người quen, bạn quý. Riêng Hồi, kể làm sao xiết cái vui, cái mừng, cái trọng đối với Vĩnh, đóa hoa diễm phúc của đời cô.


Một hôm, Vĩnh nằm trong lều, nghe mưa gió. Anh nghe tiếng chân người rậm rịch chạy qua. Vĩnh vặn cao ngọn lửa đèn hoa kỳ, khẽ rút then cửa, ló đầu ra. Phiên và Hồi vừa đi tới. Thấy Vĩnh, Hồi ghé tai nói nhỏ:


- Em có lỗi, không nói anh biết từ chiều. Canh ba đêm nay, thám báo của bố cho biết có hai thuyền Tàu Ô ở Móng Cái sang, đem hàng lậu vào Cửa Tùng bán. Bố cho lệnh đánh, thuyền mình phục sẵn tại ngã ba sông gần cửa biển. Chúng em sắp khởi sự cất quân. Anh ở nhà, chờ sáng tỏ, em về. Đừng nóng ruột, đừng lo gì cho em hết, nghe anh!


Nói rồi. Hồi vuốt má Vĩnh, thầm thì, giọng ngọt ngào mát rượu: “Nghe, anh! Đừng lo gì cho em nhé. Em đã quen rồi, anh Vĩnh à!”.


Vĩnh nhìn thẳng vào mắt Hồi, giọng như đao kiếm:


- Hồi thưa với bố, cho anh góp sức trận đánh này. Anh rất muốn coi tận mắt lũ giặc Tàu Ô khét tiếng hung ác xưa nay. Anh rất muốn coi tận mắt trai gái đảo dừa tung hoành hoạt động ra sao, nhất là trong đó có em, cô gái làng Sơn Hạ, cô gái yêu quý của anh, của cả đời anh.


Hồi đưa mắt nhìn Phiên. Người anh vui vẻ gật đầu. Tiếng cồng vẳng tới. Hai anh em vội kéo tay Vĩnh cùng rảo bước đến “đại bản doanh”, sân nhà ông trùm Vạn. Thấy Vĩnh trong ánh lửa những cây đuốc nhựa thông, ông trùm giơ cao cánh tay vẫy mời. Vĩnh bước đến gần ông già. Ông bảo:


- Tôi chưa muốn để anh dự trận là vì còn e ngại! Nay anh có bụng hào hùng muốn cùng sinh tử có nhau, tôi xin mời anh đi. Anh giám sát thế trận, thấy điều gì lợi hại, bảo ngay cho chúng tôi biết. Không cần giữ ý.


Vĩnh khẽ vâng. Ông lại dặn thêm:


- Điều này, bác nói thật. Cái con bé Hồi của cháu ấy, nó gan dạ, liều lĩnh lắm đấy. Phải canh chừng nó, luôn luôn để mắt đến nó. Bác tin ở hành động khôn ngoan của cháu.


Canh hai, đoàn thuyền trai gái đảo dừa lặng lẽ tiến ra cửa biển. Canh ba, thuyền Tàu Ô đến, bị đánh bất ngờ. Tàu Ô nổ súng. Hồi, đoản kiếm cầm tay, né mình sau cột buồm to, bảo Vĩnh:


- Anh tưởng ta không có súng à? Anh chờ nghe đấy!


Lập tức, súng ở mấy thuyền dân đảo liên hồi trả lại súng Tàu Ô. Đạn giặc nhả thưa dần. Hồi, Phiên thét hiệu lệnh, cùng Vĩnh và quân nhảy cả sang thuyền giặc. Quần chiến bằng mã tấu, côn kiếm một hồi, giặc biển chết nhiều trên mặt sóng, một số nhảy xuống bơi trốn chạy.


Hồi cầm quân trận ấy, toàn thắng kéo về với hai thuyền hàng của Tàu Ô. Ông trùm chia đều cho dân đảo. Cả ngày sau, Hồi nói cười vui vẻ. Hồi rủ Vĩnh đến bãi lau, ngồi đón cơn dông đang kéo đến. Vĩnh vuốt ve bàn tay trắng mịn của Hồi, bàn tay này, đêm qua, đã thọc lưỡi kiếm suốt bụng qua lưng tên cướp biển. Bàn tay dính máu. Tuy nhiên, Vĩnh vẫn thấy yêu bàn tay ấy, bàn tay người đẹp dám diệt cái ác, trừ cái hại cho thiên hạ. Cái đẹp chỉ có thực trong hành động. Vĩnh bồi hồi, đặt bàn tay ấy lên ngực Vĩnh.


Tuần sau cách đó, ông trùm Vạn chỉ định Vĩnh cầm đầu một trận đánh thuyền cướp biển, có Hồi và Phiên bên cạnh. Trận ấy, Vĩnh vận dụng toàn trí lực, thắng rất nhanh, rút quân về cùng chiến lợi phẩm sớm hơn giờ ông trùm chờ tin tức. Ông ôm Vĩnh, vỗ vỗ vào lưng, cũng không quên xoa đầu con gái quý.


Hồi bưng khay rượu, đồ nhắm đặt lên bàn. Ông trùm rót rượu mời Vĩnh. Rượu ba tuần, ông vào buồng mở rương sắt, lấy ra thanh kiếm đưa Vĩnh xem.


- Thanh cổ kiếm đã nhuộm nhiều máu giặc. Kiếm tùy thân của ông Tán Thuật để lại cho ông cụ sinh ra ta đó. Thuở ấy, ta còn trai tráng, theo bố sung quân, chuyên giữ ngựa cho ông Tán Thuật, sau chuyển sang theo hầu ông Cai Vàng, được hai ông thương yêu, truyền võ nghiệp. Ông Tán Thuật trao ta thanh kiếm cổ này, dùng trừ diệt lũ quan văn bán nước, ôm chân giặc Pháp - Giọng ông thấp xuống: - Bữa nay, ta trao cho cháu. Tay yếu già rồi. Kiếm báu cất lâu hoen rỉ. Cháu dùng nó thay ta, thỏa mãn linh hồn các bậc tiền nhân, tiền bối.


Hai tay đón nhận cổ kiếm, Vĩnh cúi đầu:


- Cháu ghi ơn bác trọn đời. Cháu ở lều tranh trống trải sợ kẻ gian trộm mất. Xin gửi bác, khi nào dùng sẽ xin bác trao tay.


Ômg trùm ưng ý, cười ha hả, tiếng cười già trẻ tương tri.


Tiết trời sang hạ. Khắp rừng cây đảo ve sầu lảnh lót. Vĩnh, một mình, ngồi bên bãi sậy, ôm cây đờn nguyệt mượn của cụ trùm. Mặt trời đã khuất nơi chân mây đỏ ráng. Anh đờn đôi khúc, tiếng đờn gợn gợn oán than. Tâm trạng anh rối loạn, nỗi đau nghĩ đến mẹ già bên kia bến, thấm vào đường tơ, rung lên những âm thanh não ruột, Vĩnh có ý đợi Hồi. Cô đi đâu từ sớm, anh không biết, chỉ đoán là Hồi đi lo việc của ông trùm.


Bóng tối đổ xuống rừng cây, nhuộm đen sông nước. Có tiếng động rất nhỏ đâu đây. Vĩnh ngừng đờn, chưa kịp quay đầu lại nghe hơi gió, thì, như tia chớp, một mũi lao xuyên vút tới. Vĩnh nghiêng mình, cúi thấp, phóng cánh tay ra gạt, nhưng không kịp né, mũi lao đã cắm ngập vào mạng sườn, cán gỗ rung rinh. Vĩnh ôm vội vết thương, định nhổ lưỡi lao. Một bóng người nhào tới. Ánh thép loáng lên. Một vế đùi anh bị bồi thêm nhát chém cực kỳ hung hiểm. Thân hình Vĩnh liền đổ xuống. Gian nhân co chân chạy, chưa kịp rút lại ngọn lao cắm ở sườn Vĩnh, bởi nó nghe tiếng chân ai chạy đến. Phiên bấm đèn soi. Nhận rõ mặt thằng Sói, Phiên vừa tri hô ầm ĩ, vừa rượt đuổi tên hung thủ. Rừng cây đen đặc tối giúp nó biến đâu mất. Phiên quay lại. Mấy người trai nhà gần đó đã đứng quanh vũng máu. Họ cùng Phiên khiêng Vĩnh về lều.


Lát sau, Hồi đi việc ở thôn bên về, nghe tin, chạy đến. Cái gan, cái liều của cô gái trong trận đánh lúc này không còn nữa, nhường cho tiếng kêu than, nức nở, nước mắt của cái “Nhi nữ thường tình”. Hồi ngất lịm bên cạnh Vĩnh. Ông trùm vẫn bình thản như thường, bảo người trai thủ hạ:


- Chạy mau tìm anh Dềnh Xảy, mang cả thuốc men, đến ngay đây!


Bố Dềnh Xảy, xưa là thủ túc chữa bệnh cho gia đình cụ Hoàng Hoa Thám, Dềnh Xảy học được nghề cha, lưu lạc đến đảo này từ ngày đảo mới được ông Trùm Vạn dựng lên. Anh chữa mọi bệnh toàn bằng lá thuốc, được mọi người tin cậy.


Hồi tỉnh dậy, nghiến răng rút mũi lao ở sườn Vĩnh. Máu ộc ra. Máu ở đùi cũng chảy ròng ròng. Lòng dạ cô đau như cắt. Dềnh Xảy tận tình bôi thuốc, rịt lá, băng bó, và đổ thuốc cho Vĩnh uống. Anh dần tỉnh, hé mắt trước hết nhìn Hồi, mỉm cười. Đầu óc anh đã sáng ra. Anh bắt đầu nhớ đến lời một bà già ở xóm lau nói với anh bữa nọ: “Cháu nên cẩn thận giữ mình. Ở cuối bãi kia, có cái thằng Sói thiên lôi đánh không chết, đã lâu rồi nó mê say theo đuổi, rình mò con bé Hồi, mong cướp cô làm vợ. Ông trùm cự tuyệt không cho nó đặt chân vào ngõ. Cô Hồi cũng đã có lần tát vào mặt nó ngay giữa chợ cá tôm. Nó thù, uống rượu say dọa giết cô Hồi. Hơn một tháng nay, biết cô Hồi sắp làm vợ cháu, nó lại rêu rao hàng quán thề phải giết cháu bằng mọi cách…”.


Vĩnh nghe bà già nói vậy, anh vẫn không để dạ, coi thường. Bởi trong thâm tâm Vĩnh nỗi chán chường, mệt mỏi khiến anh coi sống chết là chuyện không đáng quan tâm lắm.


***


Ông trùm Vạn, anh em Hồi, bà con thôn xóm đảo cho đến thầy thuốc Dềnh Xảy ngày đêm chăm nom cứu chữa, canh gác cho Vĩnh nằm tĩnh dưỡng. Vết thương ở sườn tuy đã đỡ đau, nhưng dù thuốc gì đi nữa, máu vẫn rỉ ra, khiến Vĩnh cứ gày yếu đi, nhắm mắt là mê sảng, oán cha, thương mẹ. Vết chém ở đùi thịt có lành rồi, nhưng xương vỡ nát, thuốc đều vô hiệu.


Hồi sớm tối ngồi bên Vĩnh hăm hở an ủi Vĩnh: Hồi sẽ trả thù, lấy đầu thằng Sói. Vĩnh nhìn Hồi âu yếm, chỉ lắc đầu cười mỉm. Ông trùm, sau hôm Vĩnh bị thương, sai người truy lùng thằng Sói. Ngay hôm đó, Sói đã tự đốt gian lều con của nó trên bãi sú, tại đó nhiều năm nay nó sống chơ vơ, không hề một ai lui tới. Cả tài sản của Sói là một con thuyền, tấm lưới. Nó đốt lều rồi đẩy thuyền đi mất hút, biệt tăm. Người ta không biết lai lịch Sói, chỉ đoán phỏng là nó vượt tù, giết người cướp của, bị Tây truy nã, trốn vào đây, ngay từ ngày đầu ông trùm mới đến. Vì thế, ông trùm không nỡ trục xuất nó ra khỏi đảo. Không ai ưa nó. Thân hình nó to cao, mắt lồi, râu quai nón nối liền với râu cằm, râu mép. Quanh năm uống rượu với cá sống thay cơm. Ở đâu có đàn bà, có nó, là có máu rửa oán thù.


Qua một tháng, Vĩnh đã được Hồi nâng đỡ ngồi lên tập lần ra cửa. Tấm thân cường tráng của Vĩnh sút rạc đi nhanh chóng. Chân phải gẫy xương, khó lê thành bước, luôn luôn Vĩnh nhọc mệt, đau nhức, phải dựa mình vào vai Hồi cho khỏi ngã. Hồi càng rên rỉ, xót xa, càng căm thù thằng Sói.


Thương Vĩnh không kém gì Hồi, ông trùm, một buổi ban mai, ngồi kỳ cạch làm cho Vĩnh đôi nạng gỗ. Vĩnh tập đi đu mình giữa cặp nạng như cái chuông khi bước, Hồi nhìn anh, lau nước mắt. Vĩnh chỉ mỉm cười.


Trong cơn ốm, hai bức thư của bà cử nhờ Lũy – bạn thân Vĩnh ở Bến Than - ghé thuyền, lên đảo, tìm Vĩnh trao thư. Nhưng Hồi dặn mọi người không cho Lũy gặp Vĩnh, sợ rằng Vĩnh xem thư mẹ, anh càng thêm ốm.


V


Vào một ngày hè oi nóng. Mây trắng xốp như băng tuyết trải bồng bềnh khắp nền trời xanh sáng. Chiếc thuyền gỗ nhẹ hình lá trúc uể oải rẽ sóng lướt tới đảo xanh làng Sơn Hạ. Thuyền ghé bãi lau ven đảo. Ông cử, bố Vĩnh, khăn lượt, áo the, quần lụa trắng đã ngả màu, tay chống ô lục soạn, tay cầm chiếc roi tre gai lớn bước lên bờ. Lũy, bạn chí thiết của Vĩnh, mặt buồn rười rượi, vẫn ngồi yên dưới thuyền, không nhúc nhích. Anh thương bạn, biết rằng Vĩnh sắp bị người cha khắc nghiệt kia làm nhục.


Chó sủa vang. Gia nhân ông trùm chạy ra ngõ, thấy khách lạ hỏi chủ mình, vội đưa khách vào nhà. Ông trùm đứng trên thềm đón khách. Nét mặt chủ nhân ân cần, tươi tỉnh bao nhiêu thì nét mặt khách hằm hằm, bực tức bấy nhiêu. Linh cảm đã thầm báo ông trùm vị khách quý là ai, nên nét mặt ông nghiêm lại. Ông giơ tay mời khách:


- Xin lỗi, mời cụ ngồi. Quý nhân cho kẻ già nua thô lậu này được biết lý do cuộc thăm viếng bất ngờ này…


Ông cử cau mày, quắc mắt, ngó mặt ông trùm, dằn giọng:


- Tôi cất công sang cái đất này, chính vì cần gặp thằng con tôi, thằng Vĩnh. Đã mấy tháng nay, nó bỏ nhà đi lang bạt, có thể nay làm đạo tặc, có thể mai bị tù đày. Nó trốn lẩn tại nhà này, tôi biết. Ông mau gọi nó ra đây.


Ông trùm ù tai, tím ruột. Ông nhìn sững mặt ông cử, chợt cắn môi. Hình dáng một con người cũ, lâu rồi, đúng hơn là một cái bóng ma đang rõ nét, nổi hình trước mặt ông. Một kẻ thù, một tên phản bội, đã qua nhiều năm ông lặn lội đi tìm kiếm mà chưa thấy. Lão đây rồi!


- Ông có nghe tôi nói đấy không? - Ông cử gắt - Mau bảo thằng nghịch tử, thằng đạo tặc ra đây. Nhà ông là một ổ dâm loạn, một nơi nhà chứa. Ta sẽ sai người đốt. Ta sẽ triệt hạ cái làng quỷ dữ này…


Cơn tức giận khiến nước miếng chảy ra, cổ tắc nghẹn, không thốt nên lời nữa, ông cử hằm hằm, đập ngọn roi tre xuống chiếu.


Ông trùm vẫn ung dung cười nhạt, hướng ra sân, lên tiếng:


- Phiên đâu, anh ra lều, dắt anh Vĩnh lên đây. Mau!


Có tiếng dạ ran. Giây phút chờ đợi Vĩnh đến, khách chủ không hề nói năng gì cả. Lát sau, tiếng nạng gỗ khua lọc cọc lối đi lát đá, Vĩnh tới thềm, nắng dãi chói chang. Anh nhìn lên, nhận thấy cha mình. Bất giác một bên nạng tuột nách rơi xuống đất. Cả thân anh treo vào một nạng, muốn nhào sập xuống.


Ông cử, cơn điên giận nén dồn từ này, thấy mặt Vĩnh, bốc lên, bật lên như sức lò xo. Ông bật dậy, bước xuống thềm, giơ thẳng cánh tay quất, vụt, đánh tới tấp vào đầu, vào mặt, vào khắp cái thân hình què quặt, ốm đau. Vĩnh nghiến chặt hai hàm răng, không tránh, không đỡ, không kêu một tiếng. Chiếc roi tre gai xé thịt da, rạch bật máu Vĩnh. Anh vẫn đứng lặng như cục đá, trợn mắt nhìn người bố. Ông cử thở dốc lấy hơi sức, rồi lại vụt, lại quất, lại đánh, Vĩnh vẫn nghiến răng đứng trơ trơ.


Từ nãy, Hồi nấp sau bụi cúc tần, giận, thương, uất ức, làm cô run lập cập. Bất thần, Hồi một bước, nhảy vọt ra, giơ lưng, giơ mặt, hứng lấy, đỡ lấy ngọn roi gai vun vút xuống. Máu ở mặt Hồi ứa chảy. Vai áo lụa rách toang dưới sức roi, rạch da thịt hằn hai ba lằn máu. Ngọn roi gẫy làm đôi. Ông cử vứt roi xuống đất, hầm hè bước lên thềm, gieo phịch người xuống ghế.


Từ đầu đến lúc này, ông trùm vẫn ung dung tự tại - trầm tĩnh vuốt râu, uống nước, mắt nhìn vòm trời nắng đổ sao vàng, miệng như muốn cười, không muốn nói.


Ông cử thở một hồi, nhìn xuống. Vĩnh vẫn đứng trơ trơ. Bên Vĩnh, một cô gái yêu kiều, thanh nhã, gương mặt như hoa, đang lay động Vĩnh, cố dìu Vĩnh bỏ đi. Nhưng Vĩnh vẫn trơ như đá, vững như đồng, bất động với bàn tay ấp ủ, xoa vuốt của Hồi.


Ông cử vơ chén nước, uống một hơi, quát Vĩnh:


- Thằng Lũy chờ ngoài thuyền đó. Thằng nghịch tử mau ra thuyền mà về bến. Tao còn phải dạy mày đến nơi đến chốn, không phải trận đòn này đã đủ đâu!


Vĩnh vẫn không động đậy, mắt đỏ vằn tia máu, mở to ra, nhìn người bố không hề chớp.


Ông trùm, tới lúc này, xoay người lại, dịu dàng bảo Vĩnh:


- Thôi thế đủ rồi. Ta đã hiểu ra tất cả. Hồi hãy đưa anh Vĩnh về lều nghỉ. Ta có câu chuyện cần nói riêng với khách. Các con hãy lùi mau.


Vĩnh từ từ nhích động. Hồi cúi nhặt chiếc nạng gỗ. Hai người khuất dạng sau những bụi cây, tiếng ve sầu rả rích trong nắng lửa.


Tư thế vẫn ung dung, ông trùm đưa tia mắt như lưỡi dao vào thẳng mặt ông cử, cao giọng nói:


- Nào, bây giờ, tôi nói chuyện với ông cử Văn đây! Ông dỏng tai nghe cho rõ.


Cái tiếng cử Văn làm ông cử giật bắn mình. Ông lẩm bẩm: “Sao lão quê mùa hủ lậu này biết tên ta?”. Ông trùm nhận thấy cái giật mình của ông cử, ông điềm nhiên tiếp:


- Ta biết ông. Ông không thể biết ta. Bởi ta là người đi truy lùng, còn ông là kẻ đi trốn lẩn.


Mặt ông trùm đanh lại:


- Cách đây khá nhiều năm, cử Văn, tức huyện Văn đã nhúng ngòi bút lông vào máu. Cử Văn đã viết thư tố cáo với triều đình Huế, với cha con thằng giặc bán nước họ Hoàng, với quan Tây, bắt tù tội, xử tử tất cả năm bậc sĩ phu khoa bảng về tội gia nhập Cần Vương. Trong hàng ngũ Cần Vương đó, có cả ngươi, thằng ngụy nho liếm gót giặc. Tây cho ngươi một chức quan. Nhưng ngươi sợ chết, ngươi bỏ ghế quan, đi lẩn trốn. Nghĩa quân Bãi Sậy giao cho ta lệnh tìm kiếm giết ngươi, rửa oán cho năm mạng.


Cử Văn, mặt như tràm đổ, cúi gằm mặt xuống. Ông trùm cười nhạt, tiếp:


- Nhiều năm rồi, ta nghe ngóng tin ngươi. Hóa ra kẻ thù ta ở ngay sát nách. Nếu biết, ta đã sang bến “thăm” ngươi với lưỡi kiếm này rồi!


Ông với tay lấy thanh cổ kiếm, soạt một tiếng, kiếm ra khỏi vỏ, sáng ngời, dường như nồng tanh hơi máu.


Cử Văn run sợ, hai tay xoắn vào nhau, như muốn van xin, lạy lục ông trùm. Nhìn thấu tâm trạng hèn nhát của kẻ thù, ông trùm lặng lẽ nhìn sân nắng, vuốt chòm râu cước, cười khẩy:


- Cái đầu ngươi có đáng được hưởng lưỡi kiếm này không, ngươi tự xét xem. Lúc này, mệnh ngươi ở tay ta. Ngươi tự đâm đầu vào máy chém. Nhưng ta rộng lòng, mở đức mà nghĩ lại. Ta cho ngươi tạm sống mà về, chính bởi ta nghĩ đến cái tình của đôi trẻ, trai tài gái sắc, chúng thương yêu nhau. Giết mi, trừ đi một lão ngụy nho phản phúc, ta chỉ cần đưa một nhát gươm, nhưng ta không nỡ làm đau lòng con trẻ, mặc dầu chúng chẳng coi ngươi là người cha hiền đức.


Ông trùm ngừng lại, rũ áo đứng lên, quát lớn:


- Thôi, ta nói thế đủ rồi. Ngươi có thể ra thuyền rồi đấy. Cút mau!


***


Qua mấy hôm sau, người Bến Than biết tin ông cử vội khăn gói gió đưa, xin tiền bà vợ làm lộ phí trở về quê quán vùng Kinh Bắc. Bà cử đi theo. Ông nhất quyết không cho, thề không bao giờ nhìn mặt vợ và thằng nghịch tử.


Cũng một tuần sau, ngoài Bến Than lại nghe tin ông cử chết bệnh ở dọc đường, mất xác. Bà cử kêu khóc, ốm, không dậy nổi.


Hồi bàn với Vĩnh, xin sang sông rước đón bà cử về xóm đảo thuốc thang hầu hạ, cho người Bến Than khỏi chê cười Vĩnh, cho Hồi trọn đạo dâu con. Vĩnh không muốn về bến cũ với tấm thân tàn tật, ngại thiên hạ xì xào, ngại hơn nữa là Nhàn. Vĩnh sợ, không dám thấy mặt người gái thủy chung, hiền đức ấy. Vĩnh viết thư, năn nỉ xin mẹ sang bên đảo. Trong thư có cả lời mời mọc chân thành của ông trùm Vạn. Một sớm, Hồi cùng Phiên chở thuyền sang bến, Hồi trình bày hết lẽ, sụp lạy “mẹ chồng”, sau đó, bà cử mới ưng thuận sang sông, sống với con trai.


Thấy đôi trẻ yêu nhau, ông trùm khôn cầm nước mắt. Nhân có bà cử đã sang chung sống với con, ông trùm quyết định tổ chức hôn lễ cho con. Vĩnh không muốn cưới. Anh nghe trong mình khó thọ, không nỡ để người vợ trẻ sớm thành góa bụa. Vĩnh xin khất năm sau. Ông trùm không bằng lòng, mà Hồi thì khóc, tủi phận mình. Vĩnh đành tắc lưỡi nghe lời. Đám cưới rất xuềnh xoàng, đơn giản. Không hoa, không pháo, không cỗ. Chỉ có chén trà suông, mời bà con chứng giám. Hồi não ruột thở dài, cầm tay Vĩnh: “Thôi, thế cũng là xong!”. Sớm chiều, Hồi hết lòng nâng niu chồng, hết lòng hầu hạ mẹ chồng, ai cũng khen Hồi vợ hiền dâu thảo.


***


Thằng Sói, từ hôm định giết Vĩnh, rồi tự đốt lều, trốn tránh nơi xa, không ai thấy bóng Sói quay lại đảo dừa. Người xóm dần cũng quên đi, duy có Hồi, không bao giờ cô gái ấy nguôi thù khi vợ chồng cô còn tồn tại ở xóm làng Sơn Hạ.


Cơn mưa vừa dứt, nắng hoe lên. Hồi dắt Vĩnh ra ngồi chơi bên bờ lau sậy mọc um tùm. Ở đây, mọc lên một thân cây lớn, quá cỡ vòng ôm. Người đảo không biết tên nó là loại cây gì, thân to, cao vút, suốt cả bốn mùa cành lá tươi xanh. Người ta gọi nó là cây xanh. Hồi yêu mến cây xanh, vì Hồi đã tập đi, tập chạy dưới vòm lá cây này. Hồi tựa lưng vào thân cây. Vĩnh nằm trên rêu cỏ, gối đầu lên đùi vợ.


Thốt nhiên, Hồi rú lên một tiếng:


- Nó kia rồi! Nó, đúng nó!


Hồi nhấc đầu Vĩnh lên, đứng vùng dậy, nhanh tay với cây lao của kẻ thù mà lúc nào đi đâu Hồi cũng mang theo phòng khi gặp Sói, giết Sói bằng mũi lao thù truyền kiếp.


Hồi cầm lao, chạy xuống bãi lau; ở đấy luôn đậu chiếc thuyền nan sẵn đôi chèo gỗ tốt. Thuyền Sói đang rẽ nước ngược dòng sông, không biết có Hồi trong bãi sậy.


- Nó đấy! Nó đấy! Em đuổi theo, giết nó, một mất một còn!


Thấy vợ một mình chọi nhau với con ác quỷ, Vĩnh không đành lòng ngồi đợi. Anh tập tễnh đuổi theo, cũng xuống thuyền. Hồi kêu lên:


- Anh để em đi. Em quyết giết nó, không cần anh giúp sức.


Nhưng Vĩnh mỉm cười, bình tĩnh trong bất cứ tình huống khó khăn nào:


- Kẻ thù của anh. Phải để chính bàn tay anh giết nó. Chèo đi, kẻo nó chuồn mất đấy!


Hồi dồn hết sức chèo. Thuyền nan, nhẹ, trườn nhanh cỡi lên đầu sóng ngược. Thằng Sói quay lại nhìn thấy vợ chồng Hồi. Nó nổi cơn ghen, quát to một tiếng, lao cả thuyền gỗ vào chiếc thuyền nan mỏng manh. Nhưng trước khi mũi thuyền nó đâm tới, tay Hồi đã phóng mạnh ngọn lao, mũi sắc loáng cắm ngập vào lưng Sói. Nó rú lên. Cán lao rung trên cái lưng trần to như lưng trâu mộng. Máu nó đổ ra. Nó gào thét, nhảy xuống nước, dang hai bàn tay sắt lật úp thuyền nan, làm cho Hồi và Vĩnh chìm xuống nước. Vẫn mang cây lao run bần bật trên lưng, máu hòa với nước, Sói ngụp xuống, quờ quạng tìm Hồi, Vĩnh. Hồi vốn giỏi bơi hơn Vĩnh. Cô bơi vòng ra sau lưng Sói, cố rút mũi lao ra, đâm Sói. Vĩnh dồn hết lực tàn còn lại trong tấm thân đau ốm vào đôi bàn tay trước kia bẻ sắt, chém gạch tựa chém bùn, gắng sao bóp được cổ kẻ tử thù. Sói bơi không bằng Hồi, chỉ ngang sức Vĩnh. Dưới sóng nước, bọt ùng ục nổi lên, nó xoay ngang, lộn dọc, tránh đòn của hai đối thủ. Nhân lúc Sói đạp sóng ngoi lên, nó bị hở đòn. Mười ngón tay Vĩnh đã nắm được cổ Sói. Vĩnh nghiến răng, nghiến răng, gồng hết sức mình, bóp chặt, siết chặt. Tiếng sặc, tiếng thở của Sói đã đuối hơi, khiến nước sủi tăm, hòa với máu Sói, ùa cả vào miệng Vĩnh, Hồi. Không bỏ lỡ, Hồi luồn lách, rút được mũi lao nơi lưng Sói, Hồi giữ đứng tư thế, cắm ngập mũi lao vào trúng sườn Sói. Nó giẫy mạnh, rú lên, rồi chân tay nó cứng đờ dần. Thân con trâu mộng từ từ chìm xuống.


Vợ chồng Vĩnh mệt, không còn đủ sức bơi. Thuyền nan của Hồi đã lật, sóng cuốn ra xa. Vĩnh, Hồi cố gắng bơi đến thuyền của Sói, kéo nhau lên. Hồi ngồi thở rộn. Vĩnh nằm duỗi chân, gối lên đùi Hồi, cũng thở. Nụ cười quen thuộc, nụ cười bình thản lại nở trên môi Vĩnh. Anh vuốt tóc Hồi, khẽ nói:


- Vậy là chúng ta rửa được hận thù. Anh có ra đi, cũng được thôi! Cũng nhẹ thôi! - Vĩnh nhìn trời xanh, cười thành tiếng: - Anh có ra đi…


Hồi thốt rùng mình, nhìn Vĩnh, ôm chặt Vĩnh:


- Anh ơi, sao anh nói gở vậy, em sợ lắm, em khổ lắm, anh ơi…


Thuyền trở về, xuôi nước, đậu vào bụi lau. Hồi lấy đôi nạng vẫn dựa gốc cây, đưa Vĩnh. Lắng nghe tiếng nạng gỗ lọc cọc trên lối đi lát dày đá sỏi, Vĩnh ngửa mặt hát mấy câu vui nhộn Vĩnh thường quen hát. Hồi lên nhà trên, thuật câu chuyện giết Sói cho ông trùm nghe. Ông cười khoái trá, tợp liền ba chén rượu.


***


Sau cuộc rửa thù một mất một còn, Vĩnh mỗi ngày thêm đau yếu. Vết thương cũ ở mạng sườn ngâm nước quá nhiều, bị nhiễm trùng loét lở ra. Đôi chân gần như bại liệt. Cơn sốt nóng lạnh kéo dài ngày đêm. Vĩnh gầy rạc, không ăn không ngủ. Thầy mo Dềnh Xảy trên đảo bó tay, chịu không chữa nổi. Vĩnh nằm chờ đi, không rên la, không buồn tiếc, coi nhẹ như đợi chờ một cuộc viễn du giải kiếp.


… Cho đến một đêm giông bão nổi động trời, bàn tay Vĩnh rời mấy ngón tay mềm trắng của vợ yêu, thở dốc lên mấy tiếng, rồi đi, nụ cười không tắt.


Hồi sống cô đơn, vò võ. Người gái góa không còn thấy đâu là biển hồ, rừng núi, cỏ cây, trời đất. Hồi thoi thóp sống với hình ảnh Vĩnh không thể chết trong cô.


Mộ Vĩnh kề ngay gốc cây xanh đại thụ. Đôi nạng gỗ treo ở thân cây. Một buổi tinh mơ, Hồi lại trèo lên ngọn dừa cao có tấm giấy hồng điều gió bay phơ phất, như bàn tay ai vẫy gọi đi. Tấm giấy đỏ đưa duyên buổi trước, giờ đây tựa như cành phướn đón hồn ma nơi hoang đảo.


Người gái góa làng Sơn Hạ thốt thở dài, quen miệng nói:


- Thôi! Thế cũng là xong.


Đăng Tiểu thuyết thứ Bẩy các số 289, 290, 291/1939
Cô gái làng Sơn Hạ, NXB Tân Dân, 1942


Nguồn: Mưa thu. Tuyển tập truyện dài của Ngọc Giao. Nguyễn Tuấn Khanh tuyển chọn. NXB Văn học sắp phát hành.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 19.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 13.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »