tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28896079
Tiểu thuyết
10.02.2012
Stefan Zweig
Thế giới những ngày qua

Một điều ám ảnh như thế, một sự tôn thờ đến cuồng tín các mỹ thuật như thế, một sự đánh giá quá cao đẩy tới mức phi lý những giá trị mỹ học tất nhiên chỉ có thể phát triển trên sự phương hại cho những lợi ích thông thường của lứa tuổi chúng tôi. Ngày nay nếu như tôi tự hỏi xem lúc đó chúng tôi tìm thời gian đọc tất cả những sách đó vào lúc nào, khi mà hàng ngày đầy ắp giờ lên lớp và bài học thêm, tôi hoàn toàn nhận ra rằng điều đó được thực hiện bằng cách làm thiệt cho giấc ngủ của chúng tôi và đương nhiên là ảnh hưởng tới sự tươi tắn của thân xác. Mặc dầu tôi đã phải thức dậy lúc bảy giờ sáng, không bao giờ tôi gấp sách trước một, hai giờ đêm - thói quen xấu mà tôi đã mắc phải từ đó cho đến suốt đời là đọc rốn thêm một hay hai tiếng nữa dù đêm đã rất khuya. Bởi vậy tôi đã không thể hồi tưởng lại khác hơn là phút cuối cùng mới lên đường đến trường, mặt chưa rửa sạch, ngủ chưa đẫy giấc, vừa chạy vừa ngốn bánh bơ; chẳng có gì đáng ngạc nhiên rằng đi đôi với tất cả chất tri thức của chúng tôi, tất cả chúng tôi đều mang vẻ mặt gầy gò và xanh xao như trái cây chưa chín, và hơn nữa, áo quần tương đối là cẩu thả. Bởi đồng xu cuối cùng trong số tiền túi, chúng tôi chỉ cho việc mua vé xem hát hay nghe nhạc, hoặc còn mua sách, và ngoài ra, chúng tôi ít quan tâm đến việc chiều lòng các cô gái, chúng tôi muốn buộc mình phải phục tùng cho những yêu cầu cao hơn. Dường như chúng tôi coi việc đi chơi với bọn con gái là mất thời giờ, bởi vì với sự vây vo trí thức, chúng tôi coi phái kia khá thấp về năng khiếu trí tuệ và chúng tôi không nghĩ tới việc phung phí thời giờ quý báu của mình cho những chuyện dông dài. Khó có thể làm cho một thanh niên thời nay hiểu được rằng chúng tôi dốt và coi khinh tất cả những gì dính tới thể thao đến thế nào. Chắc chắn rằng ở thế kỷ qua, cái mốt từ nước Anh còn chưa ồ ạt trên hành tinh. Không có sân bãi cho hàng trăm nghìn khán giả gào thét nhiệt tình khi một võ sĩ quyền Anh đấm một quả vào hàm dưới đối phương; báo chí còn chưa cử đi những phóng viên có trách nhiệm đăng đầy những cột báo theo giọng văn Homère tường thuật về một trận Hockey. Những bước dấn lên trong các cuộc đấu vật, những câu lạc bộ điền kinh, những quán quân thể thao ở thời chúng tôi bị coi như biểu trưng cho vùng ngoại ô, và công chúng của những loại này bao gồm dân đồ tể và cửu vạn; cùng lắm chỉ có những cuộc đua ngựa, sang trọng hơn, quý phái hơn, tôi cuốn được hai hoặc ba kỳ mỗi năm cái mà người ta gọi là xã hội thượng lưu, nhưng chẳng phải chúng tôi là những người coi mọi sự luyện tập thân thể là hoàn toàn mất thời giờ. Ở tuổi mười ba khi sự lây nhiễm văn chương và trí tuệ ấy bắt đầu đến với tôi, tôi ngừng việc trượt băng lại, dùng để mua sách số tiền cha mẹ tôi cho để đi học nhảy, đến mười tám tuổi, tôi không biết bơi, không biết nhảy, không biết chơi tennis, đến bây giờ tôi còn không biết đi xe đạp, không biết lái xe hơi, và về chơi thể thao, một đứa bé mười tuổi có thể buộc tôi phải kính nể. Đến nay, năm 1941, tôi hoàn toàn không phân biệt rõ ràng sự khác nhau giữa bóng chày và bóng đá, giữa Hockey và mã cầu, và trang thể thao của một tờ báo với những chữ số không thể giải thích nổi của nó, đối với tôi cứ như là chữ Tàu. Về phương diện những kỷ lục về sự khéo léo hay về tốc độ, tôi theo một cách không hề lay chuyển quan điểm của Shah ở Ba Tư khi người ta muốn thuyết phục tham dự một hội đua ngựa hàng năm, ông ta đã trả lời với sự khôn ngoan phương Đông: "Để mà làm cái gì? Tôi biết rõ một con ngựa có thể chạy nhanh hơn con khác, tôi chẳng quan tâm biết con nào hơn con nào". Chúng tôi coi thường việc mất thời giờ vào trò du hý cũng như việc luyện thân thể; riêng việc chơi cờ phần nào được dung thứ trong con mắt của chúng tôi bởi nó đòi hỏi việc vận dụng trí óc; và điều còn phi lý hơn nữa, mặc dù chúng tôi tự cảm thấy là những thi sĩ non hay ít ra là ở dạng tiềm tàng, vậy mà chúng tôi rất ít quan tâm đến thiên nhiên. Trong hai mươi năm đầu tiên, có thể nói tôi không nhìn thấy chút gì về những vùng phụ cận kì diệu của Vienne; những ngày đẹp nhất và những ngày hè nóng bức nhất, lúc mà thành phố vắng tanh, đối với chúng tôi có sự kỳ thú riêng, bởi vì trong quán cà phê, chúng tôi có được nhanh hơn và nhiều hơn những số báo và tạp chí. Phải mất đến hàng chục năm tôi mới tìm lại được sự thăng bằng tự giải thoát khỏi niềm khao khát thiếu thời và quá đáng đó, và trong một chừng mực nào sửa chữa sự vụng về thân xác không thể tránh khỏi của tôi. Nhưng nhìn chung, không bao giờ tôi lấy làm tiếc cơn mê cuồng đó của thời đi học trường phổ thông và tiếc vì đã chỉ sống bằng mắt và bằng những dây thần kinh. Nó đã làm cháy trong huyết quản tôi một niềm mê say những điều của trí tuệ mà tôi không bao giờ muốn mất, và tất cả những gì tôi đã đọc và học tập được bấy lâu đều được xây cất trên những nền tảng vững chắc của những năm ấy. Về sau, người ta có thể đuổi kịp những gì mà người ta đã lơ là về mặt cơ bắp, còn cái đà vươn tới tinh thần, sức mạnh cảm thông của tâm hồn chỉ có thể rèn luyện ở những năm quyết định của sự đào tạo, và chỉ có người nào đã sớm học làm nở rộ tâm hồn mình thì sau này họ mới có quyền mang trong bản thân mình toàn thế giới.


*


Sự kiện đích thực về những năm tuổi trẻ của chúng tôi là có một cái gì mới đang được chuẩn bị trong nghệ thuật, một cái gì đó say mê, có vấn đề hơn, phiêu lưu hơn là những gì từng làm vừa lòng cha mẹ và những người xung quanh chúng tôi. Tuy nhiên, bị lóa mắt chỉ bởi cái vẻ ấy của cuộc đời, chúng tôi không để ý rằng những biến đổi ấy trong lĩnh vực mỹ học chỉ là những khúc dạo đầu, những điểm báo trước của những biến đổi rộng lớn hơn sắp làm rung chuyển và cuối cùng hủy diệt thế giới của ông cha chúng tôi, thế giới của sự yên bình. Một sự xáo động kỳ lạ bắt đầu được nhẹn nhóm trong nước Áo già nua mê ngủ của chúng tôi. Đám dân chúng Áo dễ bảo và im lặng từ lâu đã buông trôi chính quyền cho tầng lớp tư sản tự do bỗng nhiên bắt đầu cựa quậy, tự tổ chức lại và đòi quyền của họ. Suốt trong thập kỷ cuối của thế kỷ qua, nền chính trị thổi những cơn gió mãnh liệt và đột ngột vào sự yên tĩnh của đời sống tiện nghi. Thế kỷ mới đòi hỏi một trật tự mới, những thời kỳ mới.


Phong trào đầu tiên trong những phong trào quần chúng lớn đó ở nước Áo là phong trào của những người theo chủ nghĩa xã hội. Cho đến lúc đó, cuộc bầu cử được gọi một cách rất sai lạc là bầu cử "phổ thông", thực tế ở nước chúng tôi chỉ là đặc quyền của những người giàu có, của những người trả một mức thuế bầu cử nhất định. Những luật sư và những người nông dân được tầng lớp này bầu ra tin tưởng một cách thành thực mình là những đại diện và những người phát ngôn của "nhân dân" tại Nghị viện. Họ rất hãnh diện là những người có học, thậm chí có trình độ đại học, họ coi trọng phẩm cách, sự đúng mực và nói năng đúng cách; ở những kỳ họp Nghị viện mọi sự diễn ra cứ như là ở những buổi tối tranh luận của một câu lạc bộ thanh lịch. Nhờ có lòng tin của chủ nghĩa tự do nơi họ tin vào một thế giới nhất thiết phải tiến bộ nhờ lòng khoan dung và lẽ phải, những người tư sản dân chủ này hồn nhiên tin rằng hạnh phúc của tất cả những người dưới quyền họ được bảo đảm bởi những nhượng bộ nhỏ và những sự cải thiện liên tục. Nhưng họ đã hoàn toàn quên rằng họ chỉ đại diện cho dăm chục ngàn hoặc trăm ngàn công dân giàu có của các thành phố lớn, chứ không phải hàng triệu người trong cả nước. Trong khi đó máy móc đã thực hiện công cuộc của nó và đã tập hợp xung quanh những xí nghiệp công nghiệp lớn những người thợ tản mác xưa kia; dưới sự chỉ đạo của một người nổi tiếng, tiến sĩ Victor Adler, được thành lập ở nước Áo một đảng Xã hội nhằm làm cho những yêu sách của vô sản chiến thắng, đòi bầu cử phổ thông và bình đẳng cho tất cả mọi người; từ khi nó được chấp nhận hay đúng hơn giành lấy trong đấu tranh quyết liệt, người ta chợt thấy chủ nghĩa tự do là tầng lớp xã hội quá mỏng manh tuy rằng nó tự chuộc lại bởi giá trị cao của nó. Cùng với nó, tư tưởng hòa hoãn đã biến mất, các quyền lợi va chạm nhau, cuộc đấu tranh bắt đầu.


Tôi còn nhớ cái ngày của thời thơ ấu xa xưa của tôi đánh dấu bước ngoặt quyết định về sự thăng tiến của Đảng Xã hội Áo, lần đầu tiên để biểu dương sức mạnh và lực lượng quần chúng của họ, thợ thuyền đã đưa ra khẩu hiệu tuyên bố ngày 01 tháng 5 là ngày lễ của người lao động và quyết định đi thành hàng ngũ xiết chặt đến Prater và diễu hành ở đó trên đại lộ chính, nơi mà thông thường vào ngày này chỉ có xe cộ và những đoàn tùy tùng của giai cấp quý tộc và tư sản giàu có đi qua để làm lễ rước hoa. Giai cấp tư sản tự do rụng rời tê tái trước tin này. Những người xã hội chủ nghĩa! - hồi đó từ này gợi lên ở nước Đức và nước Áo một ý tưởng về máu me và khủng bố, giống như ngày xưa từ Giacôbanh và gần đây từ "những người bôn sê vích", lúc đầu người ta không thể quan niệm rằng cái đoàn người đỏ ấy của các vùng ngoại ô diễu qua mà không châm lửa đốt nhà, không cướp bóc các cửa hiệu và phạm tất cả những bạo tàn có thể tưởng tượng được. Một thứ kinh hoảng lan ra dần dần. Tất cả cảnh sát ở thành phố và những vùng lân cận được bố trí ở đường phố Prater, những đội quân cảnh giác đề phòng, sẵn sàng nổ súng. Không một đoàn tùy tùng nào, không một chiếc xe ngựa kéo nào dám liều lĩnh đến gần Prater. Các nhà buôn hạ rèm sắt xuống, và tôi còn nhớ cha mẹ tôi cấm chúng tôi một cách nghiêm ngặt không được bước chân ra đường vào cái ngày khủng bố, ngày có thể nhìn thấy thành Vienne bốc lửa. Không hề xảy ra chuyện gì. Thợ thuyền tiến bước vào Prater với vợ con họ xiết chặt hàng tư với kỷ luật mẫu mực, mỗi người mang một đóa cẩm chướng đỏ, phù hiệu của đảng, cài vào khuy áo. Họ vừa đi vừa hát Quốc tế ca. Nhưng trong tấm thảm cỏ đẹp ở "Nobelallee" mà lần đầu tiên họ dẫm đạp lên, bọn trẻ cất tiếng hát những bài hát nhà trường không chút gò bó. Không ai bị chửi rủa, không ai bị đánh đập, không có giơ nắm đấm, cảnh sát binh lính mỉm cười với những người biểu tình trong tinh thần bè bạn tốt. Nhờ có phong độ không chê trách được đó, bỗng chốc giai cấp tư sản không có cách gì mà lên án thợ thuyền bằng cách gọi họ là "băng đảng Cách mạng", người ta đi đến, giống như mọi khi, trong nước Áo già nua và khôn ngoan, sự nhân nhượng lẫn nhau, người ta còn chưa phát minh ra cái chế độ hiện tại đánh gục mọi người bằng những cú dùi cui và sát hại họ, lý tưởng của nhân loại còn đang sống ngay trong những thủ lĩnh của các đảng phái, mặc dầu trong thực tế, nó bắt đầu suy yếu đi.


Bông cẩm chướng đỏ vừa mới xuất hiện với tư cách là huy hiệu của đảng, thì một thứ hoa khác thình lình hiện ra ở cúc áo, hoa cẩm chướng trắng, huy hiệu đặc trưng của Đảng Xã hội Thiên Chúa giáo. (Người ta còn chọn những bông hoa coi như huy hiệu của các đảng phái thay vì gót giầy săng đá, dao găm và đầu lâu kể cũng đáng xúc động đấy chứ?) Đảng Xã hội Thiên Chúa giáo với tư cách đảng tiểu tư sản một cách rõ nét, thực ra sáng tạo tự nhiên mà phong trào vô sản gợi lên, xét cho cùng, bản thân nó cũng là một sản phẩm của sự thắng lợi của cơ khí đối với lao động thủ công. Bởi vì trong khi máy móc trao cho thợ thuyền sức mạnh và sự tăng tiến xã hội bằng cách tập hợp trong xưởng máy những tầng lớp quần chúng đông đảo, đồng thời nó đe dọa tầng lớp tiểu thủ công. Những nhà buôn lớn, nền sản xuất lớn làm phá sản giai câp trung lưu và những tiểu chủ với những hoạt động thuần túy thủ công. Sự bất bình đó và những nỗi lo lắng đó được một lãnh tự khôn khéo và bình dân, tiến sĩ Karl Lueger khai thác, và với phương châm của ông ta: "Cần phải trợ giúp những người bình thường", ông kéo theo mình tất cả giai cấp tiểu tư sản và những tầng lớp trung lưu bất mãn mà sự đố kỵ đối với người có đặc quyền tư hữu ít hơn nhiều so với  nỗi sợ rơi từ tầng lớp tư sản của họ xuống giai cấp vô sản. Chính cũng tầng lớp dân chúng âu lo ấy, sau này Adolf Hitler tập hợp quanh y và thành lập đội ngũ quan trọng mới tuyển mộ của y, và Karl Lueger còn là mẫu mực của y theo một ý nghĩa khác, là dạy cho y hiệu quả của khẩu hiệu bài Do Thái, nó chỉ ra một cách sáng tỏ và nhỡn tiền một địch thủ cho nỗi bất bình của những người tiểu tư sản và từ đó chuyển sang hướng khác dù không ra mặt, lòng hận htù mà nó ấp ủ chống lại những địa chủ lớn và tài sản phong kiến. Nhưng tất cả những gì mà nền chính trị hiện tại đã nhiễm tính tầm thường và tàn bạo, bước thụt lùi khủng khiếp đánh dấu thế kỷ của chúng ta, hiện ra ngay trong sự so sánh hai khuôn mặt đó. Kark Lueger, nhân vật oai vệ với chòm râu cằm hung và mượt, - ông Karl bảnh trai, thông thường ở Vienne người ta gọi ông như vậy - có trình độ đại học và quả không phải là vô ích việc ông ta đã học qua các lớp vào một thời kỳ mà sự trau dồi trí tuệ được đặt lên trên tất cả. Ông biết nói với dân chúng bằng ngôn ngữ của họ; ông hăng say và hóm hỉnh, ngay cả trong những bài diễn văn dữ dội nhất của ông - hoặc những bài mà thời ấy người ta cảm thấy như thế - ông chưa bao giờ vượt quá những ranh giới của sự cao nhã, và Schreider của ông, một thợ máy Schreider nào đó, hoạt động bằng những câu chuyện kể phi lý về những tập tục giết người và những chuyện thô thiển khác, ông đã chú ý kìm anh ta lại. Không thể chê trách và khiêm nhường trong đời tư, bao giờ ông cũng giữ với những kẻ thù của ông một chút lịch sự nào đó, và chủ nghĩa bài Do Thái của ông về nguyên tắc không ngăn cản ông đối xử tốt và vồn vã đối với những người bạn Do Thái cũ của mình. Cuối cùng khi phong trào của đã đưa ông tới hội đồng thị chính thành phố Vienne và sau hai lần từ chối phê chuẩn việc bầu ông, hoàng đế François Joseph, người ghê tởm chủ nghĩa bài Do Thái phải chấp thuận cho lập ông làm thị trưởng; sự cai quản công việc thành phố của ông tỏ ra đúng đắn một cách không chê trách được, thậm chí với tinh thần dân chủ kiểu mẫu; người Do Thái từng run sợ về thắng lợi đó của đảng bài Do Thái, vẫn tiếp tục được hưởng cùng những quyền như những người khác cũng được tôn trọng như họ. Độc tố của lòng thù hận và ý chí tiêu diệt lẫn nhau còn chưa chảy trong huyết quản của thế hệ đó.


Nhưng lại đã xuất hiện một bông hoa thứ ba, bông hoa cúc lam của đồng lúa mì, thứ hoa ưa thích của Bismarck và phù hiệu của Đảng Quốc gia Đức, đảng này - thời đó người ta chưa hiểu điều ấy - cách mạng một cách có ý thức và hành động với một sức mạnh xung đột tàn bạo để phá hủy nền đế chế Áo, vì lợi ích của một Đại Đức quốc - đã được mơ ước trước Hitler - dưới một bá quyền Phổ và Tin lành. Trong lúc mà đảng Xã hội Thiên Chúa giáo còn bám chắc vào Vienne và ở các miền quê, chủ nghĩa xã hội trong những trung tâm kỹ nghệ, đảng Quốc gia Đức tuyển mộ những thành viên của nó gần như tuyệt đối chỉ ở những vùng biên giới xứ Bohême và ở những xứ vùng Alpes; số lượng ít, nó bò vào nhược điểm đó bằng sự hung hãn man rợ và sự tàn bạo không giới hạn. Số vài đại biểu của họ đã là nỗi khiếp sợ và (với cái nghĩa cũ của từ ấy) sự nhục nhã cho Nghị viện Áo; chính từ tư tưởng của họ, từ kỹ thuật của họ mà Hitler, cũng là dân nước Áo vùng biên giới, bắt nguồn. Chính là từ Georg Schưnerer mà y đã lấy lại khẩu hiệu: "Chúng ta hãy tách khỏi La Mã" nó làm cho hàng nghìn người quốc gia Đức - dễ bảo theo kiểu Đức - và để làm hoàng đế và giới tăng lữ nổi xung, chuyển từ đạo Thiên Chúa sang đạo Tin Lành. Chính từ người ấy mà y đã mượn thuyết bài Do Thái - "Sự nhớp nhúa tệ hại chính là ở chủng tộc" hình mẫu nổi tiếng của y tuyên bố như vậy - Cũng chính từ người ấy, và trước hết, y mượn sự can thiệp của một đội xung kích ác ôn đánh đấm lung tung, và qua đó, chiến thuật dùng sự khủng bố tiến hành do một nhóm nhỏ kiên quyết để uy hiếp một đa số đông hơn nhiều nhưng thụ động một cách nhân văn hơn. Những gì mà bọn S.A làm vì chủ nghĩa xã hội - quốc gia: giải tán các hội đồng bằng dùi cui cao su, tấn công địch thủ ban đêm và quật ngã họ, thì các hội sinh viên làm vì những người Đức quốc gia; núp dưới tính bất khả xâm phạm của trường Đại học, lập ra nền khủng bố bằng dùi cui không tiền khoáng hậu, triển khai thành hàng ngũ tổ chức theo lối quân sự và tuân theo những lời hiệu triệu và những hiệu còi vào mỗi dịp biểu tình chính trị. Được tổ chức thành Burschenschaften (Hội đoàn sinh viên) như người ta gọi, mặt nhằng những sẹo, say rượu và tàn bạo, họ là những chủ nhân của hội trường, bởi họ không chỉ mang mũ caskét và đeo băng như những người khác, mà bởi họ được trang bị những gậy ngắn loại nặng và cứng; không ngừng khiêu khích, họ tấn công, khi thì vào những sinh viên Slave, khi thì vào những nười Do Thái, vào dân Thiên Chúa giáo hoặc vào dân Italia và đuổi họ khỏi trường Đại học những thanh niên không có gì tự vệ. Tại mỗi Bummel (người ta gọi ngày thứ bảy diễu hành sinh viên như vậy) máu chảy. Cảnh sát, theo đặc quyền cũ của Đại học không có quyền vào hội trường, đứng nhìn từ bên ngoài, và không có quyền can thiệp, những bạo lực của những kẻ hành hung hèn nhát này, và phải hạn chế ở chỗ mang đi những người bị thương mà những tên quốc gia vô lại ném đầy máu me ra đường phố bằng cách đẩy họ xuống dưới cầu thang. Mỗi khi mà cái Đảng Quốc gia Đức, - chúng không có số lượng, nhưng chúng có tiếng nói hống hách - muốn cướp được một cái gì đó bằng vũ lực, trước hết họ điều đội xung kích gồm các sinh viên này tới. Khi bá tước Badeni, với sự thỏa thuận của Hoàng đế và của Nghị viện, đưa ra một đạo dụ về các ngôn ngữ, đạo dụ này ắt phải lập lại hòa bình giữa các quốc gia của nước Áo và lẽ ra có thể kéo dài trong nhiều thập kỷ nữa sự tồn tại của nền quân chủ, một toán nhỏ những tên trẻ tuổi điên cuồng này chiếm lấy Ring. Người ta phải dẫn đội kỵ binh tới, họ đâm và họ bắn. Nhưng trong thời kỳ yếu đuối một cách bi thảm và với một chủ nghĩa tự do nhân đạo đầy xúc động, sự ghê tởm mà mọi xáo trộn bằng bạo lực và mọi sự đổ máu gây nên lúc đó mạnh tới mức chính phủ phải lùi bước trước sự khủng bố của bọn Quốc gia Đức. Người đứng đầu nội các từ chức và đạo dụ về các ngôn ngữ, đạo dụ hoàn toàn hợp pháp bị bãi bỏ. Sự đột nhập của tàn bạo vào chính trị ghi thắng lợi đầu tiên của nó. Tất cả những vết nứt rạn và những khe ngầm giữa các chủng tộc và giai cấp mà cái thời hòa giải đã công phu gắn lại bật mở ra một cách khốc liệt và trở thành những vực thẳm và hố sâu. Trên thực tế, trong suốt những thập kỷ cuối của thế kỷ đã qua, chiến tranh của mọi người chống lại mọi người đã bắt đầu ở nước Áo.


Chúng tôi là lớp trẻ, hoàn toàn bị bọc trong những tham vọng văn chương của mình, chúng tôi không thấy được gì nhiều qua những biến đổi nguy hiểm ấy ở Tổ quốc chúng tôi; chúng tôi chỉ chú mục vào sách và tranh. Chúng tôi không quan tâm chút nào đến những vẫn đề chính trị và xã hội, những cuộc phân tranh tàn bạo ấy phỏng có ý nghĩa trong cuộc đời chúng tôi? Thành phố sục sôi khi các cuộc bầu cử tới gần, còn chúng tôi thì đi thư viện. Quần chúng vùng lên còn chúng tôi thì làm thơ và tranh cãi về thơ ca. Chúng tôi không thấy những dấu hiệu của lửa ngoài bức vách; và giống như vua Balthzar ngày xưa, chúng tôi ních tất cả những món ngon của nghệ thuật, chẳng ném cài nhìn sợ hãi tới tương lai. Và chỉ mấy chục năm sau, khi những mái nhà và những bức tường đổ sập xuống đầu chúng tôi, thì chúng tôi mới biết rằng các nền móng đã bị phá hủy từ lâu và cùng với thế kỷ mới, sự hủy hoại tự do cá nhân ở châu Âu bắt đầu.


 


EROS MATUTINUS


(Tình dục thời niên thiếu)


 


Trong vòng tám năm học qua các lớp trung học, ở mỗi người chúng tôi xảy ra việc rất là cá nhân: từ em bé mười tuổi bước vào trường, dần dần trở thành những người đến tuổi dậy thì mười sáu, mười bảy, mười tám tuổi, và bản chất tự nhiên bắt đầu đòi quyền của nó. Sự thức tỉnh của tuổi dậy thì này tỏ ra là một vấn đề thuần túy cá nhân và mỗi chàng trai phải đấu tranh vớ nó cho bản thân bằng cách riêng của mình, và thoạt nhìn, nó không hề có vẻ là vấn đề để tranh cãi công cộng. Nhưng đối với thế hệ chúng tôi, cuộc khủng hoảng này sinh ra những hậu quả ngoài phạm vi riêng tư của nó. Nó làm chín muồi trong chúng tôi một sự thức tỉnh theo một chiều hướng khác, bởi nó dạy chúng tôi lần đầu tiên biết nhận xét xã hội trong đó chúng tôi được lớn lên và những quy ước của nó với một tinh thần phê phán hơn. Bọn trẻ con và ngay cả thanh niên thường trước hết sẵn sàng tự thích ứng một cách ngoan ngoãn với những luật lệ của môi trường sống của chúng. Nhưng chúng chỉ chịu khuất phục với những quy ước mà người ta áp đặt cho chúng chừng nào chúng nhìn thấy những người khác cũng thuận theo những điều quy ước đó một cách trung thực. Chỉ một sự thiếu thật thà của các thầy giáo và cha mẹ cũng không sao tránh khỏi khiến bọn trẻ nhìn nhận mọi sự vật xung quanh với cái nhìn ngờ vực và cũng từ đó mà sắc nhọn hơn. Và không lâu la gì chúng tôi phát hiện ra rằng tất cả những bậc quyền thế mà chúng tôi đã đem lòng tin tưởng rằng nhà trường, gia đình và đạo đức công cộng, ở đúng cái điểm tính dục này tỏ ra đặc biệt không thành thực, - hơn nữa họ còn đòi hỏi chúng tôi cũng bí mật và che giấu về vấn đề này.


Bởi người ta nghĩ một cách khác về những điều này cách đây ba mươi, bốn mươi năm so với hiện nay. Có lẽ không có lĩnh vực đời sống  xã hội nào, ở đó, dưới ảnh hưởng của một tập hợp những sự kiện có tính chất quyết định, giải phóng phụ nữ, phân tâm học của Freuld, sự tôn sùng thân thể nhờ thể thao, sự độc quyền mà tuổi trẻ giành được - đã xảy ra trong khoảng cách một thế hệ một sự biến đổi cơ bản hơn là trong các quan hệ giới tính. Nếu người ta thử nêu sự khác nhau giữa đạo đức tư sản thế kỷ XIX với những quan niệm được chấp nhận ngày nay, tự do hơn và không có định kiến, có lẽ người ta đến gần sự thật nhất khi nói rằng thời kỳ đó tránh né một cách e sợ vấn đề tình dục bởi cảm giác về sự bất an thầm kín. Ở những thời xa xưa hơn khi niềm tin tôn giáo còn sâu nặng, và đặc biệt vào những thời kỳ Thanh giáo được thực hiện nghiêm ngặt, vấn đề đơn giản hơn nhiều. Với niềm tin sâu sắc rằng những ham muốn tình dục là thôi thúc của ma quỷ và thú vui thể xác là dâm đãng và tội lỗi, những quan chức thời trung cổ đã đề cập vấn đề trực diện và áp đặt nền luân lý cứng rắn của họ bằng những cấm đoán khắc nghiệt và nhất là ở Genève theo giáo thuyết của Calvin, bằng những hình phát không thương xót. Ngược lại, thế kỷ chúng ta là một thời kỳ bao dung hơn và đã từ lâu không còn tin ma quỷ nữa và hầu như không tin vào Thượng đế, không còn có can đảm thực hiện một sự trừng phạt triệt để đến như vậy, nhưng nó cảm nhận tính dục như một yếu tố hỗn loạn và một nguyên nhân của sự lộn xộn, yếu tố này không chịu để cho nhập vào nền đạo đức của nó và không thể để lộ ra giữa ban ngày ban mặt, bởi tất cả mọi hình thức của tình yêu tự do, ngoài hôn thú, là một sự xúc phạm tới "phép lịch sự" tư sản. Trong cuộc đối đầu ấy, thời đại này sáng tạo ra một sự thỏa hiệp kỳ lạ. Luân thường của nó giới hạn ở chỗ không phải cấm đoán thanh niên bỏ mọi đời sống tình dục, mà là đòi hỏi họ thực hiện cái công việc đầy phiền hà đó sao cho khỏi bị để ý đến. Nếu như người ta không thể loại bỏ tình dục khỏi cuộc đời, ít ra không thể để cho nó bị nhìn thấy trong xã hội rất quy củ của họ. Vậy là do một quy ước ngầm, toàn bộ vấn đề rắc rối này không được bàn đến cả ở nhà trường, cả ở gia đình, cả nơi công cộng và người ta bóp nghẹt tất cả những gì có thể làm liên tưởng tới chuyện đó.


Đối với chúng tôi, những người đã biết từ khi có Freud rằng ai tìm cách đuổi khỏi ý thức những bản năng tự nhiên thì không thể vì thế mà tiêu diệt được chúng, mà chỉ dồn ép chúng một cách nguy hiểm vào trong tiềm thức, chúng tôi dễ dàng mỉm cười về sự ngu dốt hiển nhiên của cái kỹ thuật che đậy thô thiển ấy. Nhưng thế kỷ XIX đã thấm đầy cái sự điên cuồng cho rằng người ta có thể giải quyết được tất cả những xung đột bằng lý trí và người ta càng giấu giếm những điều tự nhiên thì càng tiết chế được bằng cách đó sức mạnh cuồng loạn của những vấn đề này; vậy nếu như không dạy chút nào cho lớp người trẻ tuổi về sự hiện diện của nó, chúng sẽ quên đi tính dục của chính bản thân mình. Trong sự điên rồ rằng có thể tiết chế bằng cách không biết đến, tất cả những đòi hỏi thống nhất lại và tạo nên một cuộc tẩy chay chung bằng sự im lặng kín như bưng. Nhà trường và nhà thờ, phòng khách và tòa án, báo và sách, thời trang và phong tục, về nguyên tắc né tránh mọi liên hệ tới vấn đề đó, và cả bản thân khoa học mà nhiệm vụ đích thực lẽ ra là đề cập tới tất cả các vấn đề như nhau không thiên lệch, cũng kết hợp một cách khá xấu hổ với các "naturalia sunt turpia"( ) đó. Nó cũng đầu hàng lấy cớ là bàn bạc những chủ đề tục tĩu như vậy không thuộc phẩm cách của khoa học. Bất kỳ cuốn sách nào thời đó người ta lật ra, tác phẩm triết học, pháp lý và ngay cả y học, người ta sẽ thấy rằng tất cả nhất trí đồng tình lẩn tránh một cách sợ sệt mọi sự giải thích. Khi những nhà luật học thông thái tranh luận trong các đại hội của họ về những phương pháp nhằm làm cho nhân đạo hơn chế độ nhà tù và những sự tàn phá tinh thần mà đời sống các tù nhân làm phát sinh, họ lượt qua một cách e dè bên ngoài vấn đề trung tâm đó. Và cũng giống như vậy, những nhà thần kinh học không dám thú nhận cái đó là cái gì mặc dù họ hoàn toàn hiểu rõ căn nguyên của các chứng ixtêri: Xin hãy đọc lại Freud về điều mà ông thầy Charcot đáng kính của ông đã gửi gắm cho riêng ông, rằng ông biết rõ nguyên nhân thực sự nhưng chưa bao giờ ông bộc lộ công khai. Ít hơn tất cả những cái khác, cái mà lúc bấy giờ người ta gọi là văn chương "đẹp" không thể đánh liều tạo ra một bức tranh chân thực, chính là vì lĩnh vực của nó chỉ giới hạn ở sự biểu hiện cái đẹp mỹ học. Trong khi đó trong những thế kỷ trước, nhà văn không sợ bày ra một bức tranh chân thực và đầy đủ về những phong tục của thời đại họ, mà người ta gặp ở Defoe, ở thầy tu Prévost, ở Fielding và Rétif de la Bretonne những bức tranh không hề phản lại thực tế, cái thời đại mà tôi nói đó tin rằng chỉ có thể vạch ra những tình cảm cao thượng chứ không phải cái nặng nề và cái thực. Và tất cả những sự trụy lạc, những sự đen tối và lộn xộn của giới thanh niên một thành phố lớn, hầu như chỉ tìm thấy vài bức phác chì trong văn học thế kỷ XIX. Ngay cả khi một nhà văn nêu lên một cách mạnh dạn nạn mại dâm, ông ta nghĩ rằng phải làm cao thượng cái nghề này và tẩm hương cho nhân vật của ông thành Trà hoa nữ. Như vậy chúng ta đứng trước sự việc kỳ lạ là nếu một chàng trai ngày nay muốn biết ngày hôm qua và ngày hôm kia đã tiến hành như thế nào các cuộc đấu tranh mà cuộc sống của họ áp đặt cho họ, ngoài những tiểu thuyết của những bậc thầy lớn nhất thời đó, các tác phẩm của Dicken và của Thackeray, của Goodfried Keller và của Bjưrnson, họ chỉ tìm thấy ở đó - ngoại trừ Tolstoi và Dostưievsky, những vị này với tư cách những người Nga, đứng ở phía bên kia của chủ nghĩa giả - lý tưởng châu Âu - một bức tranh những sự việc đã được thăng hoa và ôn hòa, bởi vì tất cả thế hệ đó, nhượng bộ áp lực của thời đại, bi cản trở trong việc diễn đạt một cách tự do. Và không có gì nêu rõ hơn loại siêu kích thích gần như kiểu ixtêri của nền đạo đức các bậc tiền bối của chúng ta vào bầu không khí hôm nay hầu như không thể hình dung nổi do nó tạo ra, bằng sự thật duy nhất là bản thân việc giữ gìn ý tứ của văn chương không đủ. Ngày nay ai có thể quan niệm được rằng một cuốn tiểu thuyết chân thực một cách thiết cốt đến như vậy. Bà Vôvary, đã bị tòa án Pháp cấm đoán như là chuyện tục tĩu? Rằng trong thời thanh niên của bản thân tôi, những tiểu thuyết của Zola đã được xem là khiêu dâm và rằng một người kể chuyện sử thi có tính chất cổ điển chủ nghĩa làm vững tâm như Thomas Hardy đã gây nên những cơn bão tố phẫn nộ ở nước Anh và châu Mỹ? Dù giữ gìn ý tứ đến mấy, những cuốn sách ấy đã bộc lộ quá đáng những thực tế.


(còn tiếp)


Nguồn: Thế giới những ngày qua. Tự truyện của Stefan Zweig. Phùng Đệ và Trần Nam Lương dịch. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »