tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29940701
06.02.2012
Hà Minh Đức
Nguyễn Đình Thi - Chim phượng bay từ núi (12)

NGUYỄN ĐÌNH THI NÓI VỀ TIỂU THUYẾT


5-6/12/1968.


Nhà văn Nguyễn Đình Thi đến thăm Khoa Văn tại khu sơ tán Vạn Thọ. Anh nói chuyện với thầy trò Khoa Văn về tiểu thuyết nhân tác giả đã cho xuất bản Vỡ bờ I và chuẩn bị viết Vỡ bờ II. Anh nói:


Trong Vỡ bờ tập I đoạn Khắc nói chuyện với Hội, Hội có nói rằng những người như tôi thì làm sao mà làm được cách mạng và Khắc phản đối ý kiến ấy. Những câu nói trên như programme cho quyển II. Chính cách mạng được phát triển là do phong trào quần chúng, ai cũng có thể tham gia cách mạng và chính xã hội đến chỗ ngạt thở, xô đẩy mọi người đến bước đường cùng không thể chịu đựng được và họ đi làm cách mạng. Trong quyển II tôi vẫn tiếp tục phát triển các nhân vật ở tập I. Cô Quyên là nhân vật chính ở tập II. Quyên có mặt ở cả ba phần, Quyên tham gia hoạt động cách mạng tích cực. Tôi có ý định cho Quyên phải trải qua một số thử thách về tình yêu, như trường hợp Quyên yêu anh đem thư đến cho Khắc, sau mới vỡ lẽ ra là anh ta đã có vợ nhưng thấy như thế thì tội cho nhân vật nên tôi lại đổi bằng cách là có người mách cho Quyên biết là anh ta đã có vợ trong khi quan hệ giữa hai người còn ở mức bình thường. Sau Quyên yêu anh Lê và lấy Lê làm chồng. Lúc đầu còn nặng về lý trí, dần quý mến nhau và tình yêu đến dần rồi cách mạng thành công và hai vợ chồng đi Nam. Ở quyển II tôi đi sâu hơn vào môi trường thành phố và công nhân, nhưng cũng có những khó khăn là trong quyển I tôi ít chú ý đến công nhân mà nặng về môi trường nông thôn. Sau nhận định lại thì như thế không thật đúng, môi trường thành thị và vai trò công nhân trong Cách mạng tháng Tám rất quan trọng. Song tôi không có khả năng và điều kiện để khắc phục vì trong tập I vấn đề nêu quá yếu không bù đắp lại thật đủ. Các nhân vật như Mầm, Côi trong tập II phần cuối có khá hơn. Xoan định tự tử nhưng không chết vì Xoan bị mấy thằng con địa chủ hiếp. Phượng cũng tự tử nhưng không chết. Số phận các nhân vật này đều mang ít nhiều tính bi kịch. Cách mạng tháng Tám giải thoát trực tiếp hoặc gián tiếp cho họ. Huyện Môn bị đuổi bắt sau hắn rút súng tự tử. Tôi cũng chú ý hơn đến vai trò trí thức và tập trung vào nhân vật Tư, các nhân vật trí thức tập II cũng cao cấp hơn. Tôi chú ý hơn đến anh nghệ sỹ vì nó nhiều mặt hơn. Thanh Tùng thì cho trôi qua không nhắc lại. Về các nhân vật phản diện vẫn tiếp tục miêu tả gia đình Nghị Khanh, thằng con sau làm Đại Việt.


Vỡ bờ tập II có nhiều chương, nhiều phần viết thích, một số nhân vật nổi hơn. An trong tập II có cuộc sống và tính cách riêng, có quan hệ xã hội và kinh tế gia đình cụ thể. Trong tập I An chỉ là cái bóng của Khắc, An chưa có tính cách riêng. Các nhân vật chiến sỹ cách mạng thì có Lê vẫn là cán bộ hoạt động thấp thoáng ở đằng sau các nhân vật.


Trong tập II tôi dự định miêu tả nhiều bức tranh xã hội và lao động nhưng vẫn chưa làm đủ. Ví dụ trong tập I tả một cảnh gặt lúa, cảnh chèo thuyền. Trong tập II tôi muốn tả một cảnh bến chợ và nói lên nghề gốm, một nghề thủ công dân gian cổ truyền. Tôi đã sang Bát Tràng nhưng sau cũng không viết được. Tôi tả cảnh đi cày, và tả cảnh một con trâu đẻ, đoạn này tả cũng thích. Cảnh sông nước lụt lội, cảnh lao động ở mỏ. Tôi không biết nhiều về công nhân nên chỉ tả như những bức tranh thôi chứ không có điều kiện đi sâu, cũng giống như cảnh lao động ở nhà máy xi măng trong tập I. Tôi muốn đưa vào không khí lao động, những nghề nghiệp truyền thống làm nền cho một số khung cảnh và nhân vật. Tôi viết tất cả trong vòng 7, 8 tháng và trong hai tháng đợt hè vừa rồi tôi viết đến 300 trang - đêm nào đèn cũng rạng đến sáng, tôi trên gác và ông Võ Huy Tâm dưới nhà thi nhau viết. Tất cả đến 800 trang đánh máy sau xé đi trên một trăm trang. Tôi kết thúc Vỡ bờ bằng câu: Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời.


Nói đến tiểu thuyết tôi nghĩ bao giờ cũng là nói đến cái lẽ sống của các nhân vật. Cái đó là cái hấp dẫn nhất đối với người đọc. Các vấn đề chính trị, quân sự, xã hội chỉ là cái nền, cái cơ sở để cho nhân vật thể hiện lý tưởng và lối sống của mình – trong Dế mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài, cái trội nhất là sự phiêu lưu để tìm lẽ sống của con dế mèn – ở đấy cái lẽ sống đó được nói đến một cách tự nhiên, hồn nhiên. Có viết được sâu sắc lẽ sống của nhân vật thì tiểu thuyết mới gợi được những vấn đề cho người đọc suy nghĩ. Tiểu thuyết không phải là cái gì cao xa nó không hợp với thần thánh, không hợp với ma quỷ mà nó là cuộc sống tự nhiên và bình thường của con người. Trong tiểu thuyết phải chứng minh và miêu tả được cái tự nhiên đã đi vào đời sống, cái lý tưởng đã đi vào cái hàng ngày, và nhà văn phải nêu được giá trị cao quý và tầm quan trọng của cái hàng ngày. Cái hàng ngày trong đời sống đã trở thành quen thuộc, nếp sống vốn bắt nguồn từ những lý tưởng cao quý. Cái khó là nhìn cho ra cái hàng ngày ở những khía cạnh tiêu biểu nhất. Thường trong tiểu thuyết ở các nước Xã hội Chủ nghĩa có một quy luật chung là vào những thời kỳ đầu tiên, sự kiện thường có sức hấp dẫn, lôi cuốn đặc biệt, ào đi, lôi cuốn con người. Lúc đó người ta dùng nhiều đến các phương tiện, các thể loại làm sao nói lên cho được những sự kiện to lớn đó. Nhưng dần dần con người làm chủ sự kiện và điều cần biết lại chính là con người chứ không phải sự việc. Những tâm trạng, phản ứng khác nhau của nhân vật, số phận của con người trước những đổi thay của đời sống. Tiểu thuyết gắn bó rất nhiều với đời sống. Vận mệnh các nhân vật phải được cắt nghĩa, giải thích bằng nhiều nhân tố trong đời sống như hoàn cảnh kinh tế, đấu tranh giai cấp, vấn đề tác động của hệ ý thức tư tưởng của đạo đức luân lý. Nhân vật càng dính nhiều với cuộc sống, càng được miêu tả và giải thích đầy đủ bằng cơ sở xã hội thì càng có nhiều màu sắc. Trước kia viết tiểu thuyết người ta ít chú ý hoặc không cần đến những nhân tố này. Nhân vật như tách khỏi xã hội và phát triển theo một quan điểm nào đó về triết học, về đạo đức của tác giả như những nhân vật của Hugo chẳng hạn. Cuộc đời riêng của các nhân vật ít gắn bó với xã hội. Về một mặt nào đó mà nói viết như thế cũng dễ hơn.


Nói đến nghệ thuật viết tiểu thuyết tôi vẫn thấy khó nhất là nghệ thuật kết cấu. Có thể nói rằng trong tiểu thuyết phải xử dụng lối kết cấu tổng hợp, tham khảo các hình thức kết cấu của các thể loại nghệ thuật khác ví như kết cấu của hội hoạ, âm nhạc, kết cấu của truyện, kết cấu của kịch v.v...


Kết cấu của truyện là phải dựa vào câu chuyện có đầu có cuối, có sự phát triển của truyện. Trong loại kết cấu của truyện lối kết cấu của truyện trinh thám là thấp nhất. Ở đây người viết sử dụng những lắt léo của tình tiết nhằm gây hứng thú. Trong lối kết cấu của kịch thì cơ bản là thắt nút, mở nút và cao điểm của xung đột, có tác dụng gây sự hấp dẫn, hồi hộp với người đọc. Lối kết cấu của hoạ chú ý nhiều đến tương quan bố cục và toàn thể trên một bình diện chung của sự miêu tả và trình bày. Riêng lối kết cấu của nhạc tôi cho là tinh vi nhất. Tuy nhạc không có chuyện để theo dõi, âm thanh luôn bị mất đi vậy phải làm sao để người đọc có thể tiếp nối được trong nhận thức tránh khỏi bị ngắt quãng, cắt đoạn. Trong nhạc thực ra người ta chú trọng nhiều đến sự phát triển biện chứng của tình cảm. Tình cảm vận động theo quy luật biện chứng bên trong luôn có sự dắt dẫn tiếp nối ở người nghe. Có thể có những hình thức khác nhau tạo thành sự cân xứng, những tình huống xen kẽ nhau, tình huống sau gợi lại tình huống trước. Tiểu thuyết phải đa dạng tất cả những lối kết cấu trên ở những lúc thuận lợi nhất của việc miêu tả. Rồi đi vào mạch phát triển của chuyện lại phải rất chú ý đến sự phát triển có nhịp điệu hài hoà giữa nhân vật và sự việc, câu chuyện. Sự phát triển của nhân vật phải phù hợp với bước phát triển của câu chuyện, ăn khớp với nhau về trạng thái tình cảm, mâu thuẫn nội tâm. Ví dụ như khi sự kiện, xung đột đang phát triển đến lúc cao trào thì nhân vật không thể ở tình trạng đã đi xuống và ngược lại. Trong từng chương, từng lớp lại phải chú ý nhiều đến sự hợp lý trong tương quan các nhân vật, nhân vật và môi trường. Như trường hợp trong Vỡ bờ khi cần cho xuất hiện mấy thằng Nhật về nông thôn, tôi cũng phải chọn thời điểm nào thích hợp nhất. Tôi chọn lúc Nhật bắt nông dân trồng đay là thuận lợi, hợp lý hơn cả.


Những chương trong tiểu thuyết phải có tác dụng hỗ trợ cho sự phát triển tư tưởng tác giả, làm rõ được sự chú ý của tác giả với các nhân vật. Tôi không vạch sẵn một kết cấu tỉ mỉ trước trên giấy như một số nhà văn khác. Ông Nguyên Hồng thường vạch trước một kết cấu đồ sộ trên giấy như một tấm bản đồ lớn. Tôi chỉ vạch những chữ, những ký hiệu mà chỉ để mình hiểu. Ví dụ phần I: An. Và trong đó thì có ba chương An gặp bà cụ... An gặp... Nhân vật Quyên là chính, xuất hiện ở cả nhiều chương trong cả ba phần. Nhân vật Phượng tôi cho xuất hiện ở phần I và III còn phần II tôi cho qua đi. Về cách xây dựng một chương cũng có nhiều cách khác nhau. Có tác giả chú ý đến sự việc, hết một sự việc thì hết một chương, có tác giả chú ý đến tình huống. Tôi rất khâm phục sự hiểu biết và khôn khéo của Tônxtôi khi xây dựng kết cấu. Mỗi chương của Tônxtôi dường như là một truyện ngắn rất gọn, rất đẹp và điểm mấu chốt là tác giả dựa vào tư tưởng của nhân vật. Sự vận động tư tưởng của nhân vật, bước phát triển mới trong tư tưởng của nhân vật. Khi một trạng thái tư tưởng của nhân vật chấm dứt thì cũng xong một chương. Như thế là kết cấu phục vụ và đi sát với tư tưởng bên trong của nhân vật. Kết cấu tiểu thuyết rất khó, phải suy nghĩ nhiều, mới tìm được một cái gì thích hợp.


Trong văn xuôi những năm gần đây có nhiều điểm đáng chú ý. Tiểu thuyết và ký đều phát triển, đặc biệt trong thời gian tới có nhiều cuốn tiểu thuyết mới của anh em hai miền Nam cũng như Bắc, Phan Tứ có Gia đình má Bảy, Trần Hiếu Minh có Rừng U Minh,... Ở miền Bắc có tiểu thuyết của Chu Văn, Võ Huy Tâm, Huy Phương, Nguyễn Khải, Đào Vũ v.v... Anh Võ Huy Tâm viết hai tiểu thuyết Vỉa than lớn và Đi lên đi. Đây là hai tiểu thuyết chống Mỹ, còn Những người thợ mỏ thì không thấy nhắc đến. Tôi có nói đùa rằng: Thôi ông đem chữa lại cái tập I và kết thúc nó đi, mọi việc đã xong, đã có hội nghị liên hoan tổng kết, không còn vấn đề gì cho tập I nữa, muốn viết tập II lại phải viết về một vấn đề khác. Võ Huy Tâm rất giỏi về viết sinh hoạt, về đời sống. Anh ấy biết rất nhiều, rất chi tiết những chuyện khác nhau trong đời sống. Chúng tôi cũng có thảo luận Miền Tây của anh Tô Hoài. Anh Tô Hoài cũng có nhiều tài năng và đem lại nhiều cái mới cho văn xuôi. Có thể nói anh Tô Hoài đem lại cho văn xuôi sự quan sát rất tinh tế và tính chất fantaisie – chất fantaisie này rõ rệt nhất trong Dế mèn phiêu lưu ký. Dế mèn phiêu lưu ký có một cái gì rất hiện đại của những kiểu nhân vật đi tìm lý tưởng, thích sống phóng khoáng tự do. Anh em chúng tôi nghĩ đến nay cũng đã đến lúc anh Tô Hoài cần cắm một cột mốc mới. Miền Tây có những chương viết về cuộc đời cũ rất giỏi, hấp dẫn. Còn những chương sau thì yếu. Quyển này cũng có những ưu điểm cố gắng mới của Tô Hoài. Anh mở rộng phạm vi của vấn đề hơn, giải thích những hiện tượng xã hội và sự vận động của nó bằng những nguyên nhân kinh tế, chính trị, đạo đức phong tục. Anh đề xuất một số nhận định và ý kiến riêng. Chỗ yếu của anh Tô Hoài là thường ít đề cập và giải quyết được trọn vẹn những vấn đề chính trị, tư tưởng của nhân vật theo những quy luật phổ biến rộng rãi của xã hội. Trong các nhân vật thì bà Giàng Súa có tâm trạng, và tôi rất tiếc cho nhân vật cô em gái, cô Thào Mỵ. Lẽ ra trước hai người anh như thế tâm trạng của Mỵ phải có nhiều trạng thái giằng xé hơn. Về trường hợp của anh Nguyễn Tuân thì trên báo chí cũng có nói nhưng anh em chúng tôi nghĩ rằng trong chống Mỹ cứu nước anh Tuân viết nhiều và có nhiều đóng góp tốt, điều đó không ai nghi ngờ được. Nhưng trong một số vấn đề thuộc nội bộ anh Tuân có ý kiến thế này thế khác. Phần bút ký chống Mỹ của anh Tuân rất sắc sảo, viết như thế rất khó. Anh Tuân có tuổi, không xông xáo trực tiếp vào môi trường chiến đấu được. Anh viết về kẻ thù với tinh thần khinh bỉ, châm biếm đả kích, với tư thế người chiến thắng. Văn chương ông Tuân tài hoa lắm, dễ sợ lắm. Nhưng cũng phải nói trong văn xuôi của ta văn chương Nam Cao là đáng sợ hơn cả. Cái tài hoa, sắc sảo của Nam Cao không phô ra, không có vẻ dụng ý mà chân chất, tự nhiên, thâm thuý. Văn Nam Cao có sức nặng lắm. Càng ngày càng thấy quý Nam Cao, càng thấy sự đóng góp của Nam Cao. Nam Cao giỏi về truyện ngắn hơn. Truyện dài thì yếu như Sống mòn, Người hàng xóm. Tôi nhớ một lần ở Việt Bắc khi nghe tin Bác có viết một truyện ngắn Giấc ngủ mười năm, Nam Cao nói đùa: Ông cụ mà viết truyện thì chúng mình đến gác bút thôi. Cùng những tác giả trước Cách mạng, truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan cũng rất xuất sắc. Ông Hoan sau Cách mạng viết liền nhiều tập và đều bị đổ. Gần đây cụ xoay ra viết phóng sự. Thật ra khi nói về vốn sống không đủ mà phải có một cách nhìn và đó là điều khá quyết định. Cùng vốn sống cũ phải có một cách nhìn mới. Anh Hoan chưa vượt được cách nhìn cũ. Văn xuôi trong lớp kháng chiến có Nguyên Ngọc có tài lắm, Nguyễn Khải sắc sảo nhưng khôn ngoan quá, Nguyễn Quang Sáng được cái Đất lửa có không khí. Sáng viết về chính vùng quê của mình và nhân vật cũng đều là những người quen thuộc. Đất Nam Bộ là đất tiểu thuyết và tạo không khí lắm.


Về những anh em trẻ cũng có nhiều người đáng chú ý như Nguyễn Minh Châu, Đỗ Chu. Nguyễn Minh Châu chắc chắn, nhưng Đỗ Chu tài hoa hơn, song Đỗ Chu còn mỏng về vốn sống và sức suy nghĩ.


Về tiểu thuyết cũng như văn học nói chung, để lại được một cái gì trong người đọc thật khó khăn lắm. Tôi nhớ giở cả một thế kỷ của văn học Pháp họ chỉ chọn lại được 10 cuốn tiểu thuyết. Sức đào thải của thời gian thật là mạnh mẽ lắm. Công việc đòi hỏi ở người viết rất nhiều. Có đáp ứng được yêu cầu, mới đóng góp được một cái gì cho cuộc sống.


 


 


 


LÀM THƠ LÀ LẤY BẢN THÂN MÌNH RA LÀM CÂY ĐÀN


Nhà văn Nguyễn Đình Thi nói chuyện


với Khoa Văn Đại học Tổng hợp, 12-1987


Thưa các anh chị. Văn chương là câu chuyện của cuộc đời. Cuộc sống tạo ra văn chương, và văn chương có ích gì cho cuộc sống?


Văn chương có ích gì cho cuộc đời còn đói rét hàng ngày. Cuộc sống vẫn đang diễn ra từ bà cụ vẫn đọc, đánh nhịp với câu Kiều, cái thai trong bụng mẹ bốn tháng đã biết lắng nghe.


Trong bài Ánh biếc của tôi, con chim cũng muốn có tình cảm với con người, chan hoà với cuộc sống con người chứ không phải chỉ thích cảnh thiên nhiên hoang dã. Văn học phải đáp ứng đòi hỏi của con người, đòi hỏi rất sâu, có gốc, từ cái gốc của một sinh vật sống, có thể sang đến tình cảm của con người. Nghệ thuật phải có màu sắc, hương thơm như bông hoa có hương thơm ngát hấp dẫn loài ong giao cảm, bộc lộ bản năng, tình cảm truyền sang người khác để giao hoà. Con người cũng như sinh vật không thể sống cô độc, phải có tổ, có đàn. Hôm nay cái đang thiếu để gắn kết con người là lòng tin. Bản năng có sức mạnh, không thể lãng quên, không thể ép xuống, bản năng mẹ con (loài vật che chở cho con), bản năng tính dục để sinh tồn. Bản năng là sức mạnh, không có bản năng con người không sống nổi. Bản năng được tạo ra từ hàng triệu năm, bản năng người khác loài vật. Người viết cũng phải có bản năng mạnh qua cảm nhận. Nguyễn Tuân giỏi giác quan. Thiếu cảm nhận giác quan văn nghệ không hấp dẫn. Nghèo và thiếu nhạy cảm về giác quan văn nghệ tẻ nhạt.


Con người sống trong môi trường xã hội nên phải chịu sự ràng buộc, thích ứng với quy chế xã hội.


Con người đòi hỏi tự do và phục tùng cùng một lúc. Trong đời sống con người tình cảm là cao nhất, tình cảm biểu thị quan hệ giữa người và người, có gắn bó yêu thương mới có tình cảm. Tình cảm là phẩm chất quý giá, cơm áo đầy đủ mà sống thiếu tình cảm cũng vô nghĩa. Chúng ta sắp bước sang thế kỷ XXI. Cuộc sống của loài người trải qua nhiều thời kỳ, con người vật lộn với sự sống và suy cho cùng cũng để đạt tới cuộc sống có trình độ kỹ thuật cao và có tự do. Cách mạng khoa học kỹ thuật các nước tư bản cứu họ khỏi diệt vong. Các nước xã hội chủ nghĩa có những mặt mà thể chế còn kìm hãm sự phát triển khoa học, cần phải điều chỉnh để tránh lạc hậu. Người lãnh đạo cao nhất phải tránh độc quyền, tránh cho một cá nhân quyết định tất cả. Trong Tây du có hình ảnh vòng kim cô như một biện pháp kìm hãm quyền lực và hành động con người.


Về văn học dân tộc ta có nền văn học khá hoàn chỉnh. Văn học dân gian phong phú, hàng chục thế kỷ văn học viết. Thơ Nôm xuất hiện sớm (Nguyễn Trãi). Từ thế kỷ XV, chúng ta đã có một nền văn học dân tộc xuất hiện cùng lúc với phương Tây đang khơi dậy một nền văn học của những người khổng lồ.


Pháp sang, văn học Việt Nam một phần bị nô dịch hoá nhưng cũng tiếp nhận được một số ảnh hưởng của văn hoá phương Tây. Các thể loại phát triển đều, tiểu thuyết, thơ, kịch, tuỳ bút và ở mỗi thể loại còn để lại nhiều giá trị như thơ, tiểu thuyết thời kỳ trước Cách mạng. Kịch chỉ còn lại một Vũ Như Tô, tác phẩm giá trị hơn cả.


Chúng ta phải nỗ lực để tránh phụ thuộc về văn hoá. Phải có ý chí lớn thoát khỏi tình trạng phụ thuộc về văn hoá. Cho đến nay khoa học chưa đủ điều kiện để đào tạo trong nước những nhà bác học lớn vì trình độ phát triển khoa học còn yếu. Nhưng chúng ta hoàn toàn có điều kiện để tạo nên những giá trị văn hoá, văn học lớn. Tư tưởng phong kiến kìm hãm, giam hãm tinh thần xã hội biến thành đá, mất hết sự sống, sức vươn toả, sáng tạo. Phong kiến Nhật Bản ảnh hưởng phương Tây và tìm được những giá trị tích cực. Lễ giáo phong kiến không cho con người động đậy. Ở miền xuôi, cuộc sống trong sinh hoạt tự nhiên bị khô cứng. Không có múa chỉ có lên đồng. Đạo Nho cấm nam nữ cầm tay nhau. Ở Lào múa giỏi, vua cùng múa với dân. Văn học phong kiến chỉ tôn vinh những người ở tầng lớp trên, vua chúa, tài tử giai nhân. Văn sỹ tải đạo, không có con người sống tự nhiên mà ép vào đạo lý. Văn học dân gian có nụ cười thoải mái. Con người phải sống với đủ phẩm chất và giá trị của con người, ý chí, tình cảm, sáng tác cũng như cánh chim phải có tiềm lực, con chim én bay nhanh, con đại bàng bay xa và có loài không bay được xa, chỉ quẩn quanh trong vườn nhà. Tôi làm thơ được khoảng 100 bài cho đến hết đời. Có được hai ba bài hay, chục bài khá. Làm thơ không thể nghĩ trước, câu thơ không định trước.


Thơ tôi chỉ nói cái riêng và có khi nói về sự kiện xã hội. Thơ phải như lời nói bình thường, nhưng phải tạo cái gì chưa có trong thơ trước. Tôi thích làm thơ tự do, khi thích vần giữ vần, thích tự do làm tự do. Tôi có một số bài thơ tình từ trong thời kháng chiến. Anh Lưu Trọng Lư đòi đuổi thơ tôi ra khỏi cuộc kháng chiến vì theo anh Lư có lẽ là kháng chiến không chấp nhận thơ tình, nhưng rồi người ta vẫn thương nhớ nhau.


Tôi viết tiểu thuyết không nhiều, không tập trung. Đứng về giá trị văn học không nhất thiết là dài ngắn nhưng nói về lao động nghệ thuật thì tiểu thuyết dài là vất vả. Tiểu thuyết có thể viết về cuộc đời một người, nhiều người, một quãng đời hay một đời người. Nhân vật trong tiểu thuyết phải có sự sống tự thân, điều này không dễ dàng vì tiểu thuyết trong nhiều thế kỷ trước đây nhân vật không sống được nếu không có lực lượng bên ngoài hỗ trợ.


Điều quan trọng là trong tiểu thuyết phải tạo được nhân vật mà người ta yêu (yêu thì chỉ cần giơ một ngón tay lên là đủ). Kể cả nhân vật phản diện cũng phải tạo được cái đẹp. Tiểu thuyết của tôi nhân vật phản diện không gây ấn tượng mạnh, chất quỷ ít. Phải có sự lăn lộn hiểu sâu môi trường nhân vật. Dostoevski có lần bị kết án bắn chết, sau được tha. Ông sống lăn lộn để tìm hiểu bọn côn đồ, cặn bã của xã hội. Tôi viết Vỡ bờ, nhiều chỗ chưa nói đúng có thể do mình chưa giỏi. Các nhân vật như Khắc nổi lên trong tập I. Tập II là Tư nhưng là do chủ định của tác giả, còn sự tiếp nhận ở người đọc có thể lại khác đi không được như ý mình muốn. Trong các nhân vật thương nhất là cô Phượng, cả cuộc đời không có được một tình yêu thật sự. Thân phận của cô Phượng đáng thương cảm, sắc đẹp có, thông minh nhưng chẳng được gì như người nhỡ tàu. Các nhà phê bình thích tập I hơn. Nhưng hoàn cảnh bây giờ tập II đặt nhiều vấn đề suy nghĩ hơn. Tập I cách viết chịu ảnh hưởng của


L. Tolstoi. Khi dịch Vỡ bờ Đôn-ma-tốp-xki nói Vỡ bờ chịu ảnh hưởng của Tolstoi. Quyển II muốn viết cách khác. Có những cái mới nhiều cảnh tượng chết chóc, tả tình yêu phức tạp hơn.


- Làm thơ là lấy tất cả mình ra làm cây đàn.


- Viết tiểu thuyết là vẽ bằng cách nói.


- Viết kịch là nặn tượng, con người hiện ra trước mắt.


Gần đây tôi viết kịch nhiều vì ít thì giờ, tôi viết tất cả 8 vở kịch và bây giờ bắt đầu được in.


Tôi có hai bài thơ nói với các nhà thơ mà cũng là tìm dịp bộc lộ chút ý kiến của mình. Một là với Lý Bạch, một với Tagore (Cách mạng). Ý tưởng gợi lên là do Cách mạng văn hoá Trung Quốc, cách mạng tạo ra cái mới chứ không phải nói ngược lại. Một vài suy nghĩ nói với các anh chị. Bây giờ có thể trao đổi. Các anh chị có câu hỏi nào xin cứ phát biểu, đề xuất. Nhà văn Nguyễn Đình Thi vui vẻ trả lời các câu hỏi của các nhà giáo và anh chị em sinh viên.


 


 


 


TÔI KHÔNG PHẢI LÀ NHÀ VĂN VIẾT SAU CÁCH MẠNG


10/4/1987.


Nhà văn Nguyễn Đình Thi hẹn gặp các thầy giáo của Tổ Văn học Việt Nam hiện đại để nói chuyện về sáng tác của ông cũng như tình hình văn học trong những năm gần đây...


Sáng 10-4-1987 ông gặp chúng tôi và thân tình trong câu chuyện đầm ấm. Sau Chiến tranh thứ I chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp tạo nên nhiều tầng lớp trung lưu ở thành thị, viên chức học sinh, sinh viên, họ là công chúng mới của văn học. Trước Cách mạng tháng Tám vốn dân tộc về văn hoá có giá trị cổ điển. Tuy nhiên quá trình hình thành ngôn ngữ vẫn chưa hoàn chỉnh. Nhiều vùng ngôn ngữ còn mang tính chất địa phương. Viết cho thành câu văn thống nhất là khó. Vấn đề trong sáng tiếng Việt là yêu cầu cấp thiết. Cách mạng khoa học kỹ thuật chưa vào được ngôn ngữ. Nước ta cũng chịu nhiều ảnh hưởng văn hoá quốc tế. Luồng Đông Nam Á, Nam Á (Ấn Độ sang), luồng Trung Quốc mạnh nhất là Nho. Về tôn giáo Phật vào Việt Nam qua nhiều thế kỷ có bề sâu và cơ sở trong tâm linh quần chúng. Cuộc chiến tranh chia cắt đất nước kéo dài; Trịnh Nguyễn phân tranh, phải mời Tây vào. Chủ nghĩa tư bản vào, tự do cá nhân phát triển, có xu hướng dân chủ về chính trị. Chữ Hán ít dần. Phải xây dựng nền văn học của dân tộc nhưng cần có thời gian. Thơ mới ảnh hưởng Tây nhiều.


Trong văn học không nhất thiết giai đoạn sau hơn giai đoạn trước. Như văn học Liên Xô thế hệ hôm nay thua giai đoạn trước. Các nhà văn tiêu biểu cũng chỉ ở mức trung bình khá chứ chưa lớn. Aimatốp cũng cỡ Đỗ Chu. Cái lõi của Aimatốp giống Đỗ Chu còn văn hoá thì hơn. Nền thơ cũng thế. Không có những nhà văn dắt dẫn cho loài người sống. Bônđarép quý ở những tác phẩm đầu tay còn khi triết lý thì quê. Lớp nhà văn Nga sau quê, ít biết về phương Tây so với chúng tôi các ông ấy sợ bỏ mẹ. Cái gì họ viết sâu vào xã hội họ thì hay còn không thì kém nhất là khi định giảng dạy luận bàn. Càng dân tộc, càng nhân loại. Riêng tôi tôi chỉ công nhận dân tộc về văn hoá. Đấy là quan niệm dị giáo của tôi. Dân tộc về chính trị sẽ dễ đẩy đến sô vanh. Dân tộc có khi là một rào cản vì in đậm dấu ấn cho mỗi con người. Nếu là hai người không rõ xuất xứ hoặc cùng nghề nói chuyện được ngay, còn hai người của hai dân tộc thì khó.


Chủ nghĩa xã hội là hiện thực. Chủ nghĩa xã hội thắng lợi ở nước lạc hậu (châu Á, Trung Quốc, Việt Nam...). Chủ nghĩa xã hội mang tính chất ưu việt nhưng đang phải rẫy rụa ra khỏi dấu vết cũ kiểu châu Á, ra khỏi sự lạc hậu. Phương Tây khi cách mạng vô sản thắng lợi, đội ngũ trí thức là của tư sản. Nước nào cũng có di tản, nhiều nhà văn hoá lớn sống lưu vong. Vấn đề trí thức ở Việt Nam thuận lợi hơn. Đa số trí thức thuộc tầng lớp trung lưu đi theo Đảng nhất là trước vấn đề lớn của dân tộc. Phim Tchaikovsky không cho chiếu vì trí thức của họ giàu quá. Ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa có đàn áp trí thức vì cách nhìn hẹp hòi đơn giản. Thời kỳ Lênin không đàn áp, ông chỉ cho đi, không sống được thì cho đi. Thời sau bắn và bỏ tù. Trung Quốc cho đấu lẫn nhau.


Trong trí thức có vấn đề tài năng, tài năng hiếm, tài trung bình thì đông. Đám bất tài sau này xé chết thằng có tài. Xuỵt một cái thằng không tài đánh chết ngay. Người làm cách mạng phải có văn hoá mới phân biệt được người có tài. Người có tài ra đời yếu dễ chết. Có người chết về thể xác, có người chết về tài. Nghệ thuật lãnh đạo thường muốn thuận; Các nước phương Đông chưa có truyền thống dân chủ. Phải mượn một số thể chế của các nước phương Tây để thực hiện. Chế độ nghị viện gắn liền với tranh luận, báo chí. Quốc hội xã hội chủ nghĩa ít có tranh cãi, cãi ở tổ rồi báo cáo. Như thế là lớp học. Chưa tạo được thể chế riêng cho chế độ chính trị. Các nước xã hội chủ nghĩa đang vấp vào chuyện này. Phóng viên báo Nhân đạo đều cho chưa bao giờ Xô viết tối cao tranh luận mà dễ nhất trí, chủ yếu là giơ tay. Chủ nghĩa hiện thực là thành tựu lớn nhất. Chuyên chính vô sản chi phối đến nhận thức nghệ thuật. Ở Liên Xô, nhiều nhà văn cũng không dám in vì không hợp với bối cảnh chính trị và mãi sau này mới in được. Tuỳ cách hiểu chuyên chính vô sản mà nghệ thuật sẽ phát triển ra sao, có kiểu quái dị như Pôn Pốt. Chủ nghĩa Mác giải phóng cho con người nhưng khi chủ nghĩa Mác thành hệ tư tưởng nhà nước, họ biến chủ nghĩa Mác thành tôn giáo. Thánh cổ điển và hiện đại, nước ta cũng muốn cụ Hồ thành thánh tuy Cụ không thích. Trong chế độ cũ các giáo chủ độc quyền giải thích chân lý. Nhiệm vụ cao nhất của văn học là ca ngợi các giáo chủ. Chủ nghĩa xã hội khi bị kẻ thù mạnh hơn bao vây nên trong nội bộ phải xiết chặt để chống lại kẻ thù. Ở ta cũng có cái may cụ Hồ là thánh của dân, ông được tôn là thánh lại giễu mình là thánh. Cụ lăn lộn nhiều sống ở nhiều nền dân chủ phương Tây, thân phận bị truy lùng nhiều. Ở ta dân chủ hơn, không có cuồng tín, không có mê đạo. Ở phương Tây tà đạo là bị giết. Tôn giáo Việt Nam khoan dung về tư tưởng, cho phép thờ nhiều thứ ngay trong một ngôi chùa. Chính quyền của ta phần lớn phải dựa vào dân. Tỉnh uỷ là mấy anh ở nhà dân. Bây giờ thì khác. Từ văn học xã hội cũ đến xã hội mới nhiều vấn đề. Nhiều tác phẩm bị cấm bây giờ được in lại không có nghĩa là tất cả vĩ đại. Và trong những tác phẩm được in không phải tất cả đều dở mà có nhiều cái hay, rất hay. Tặng thưởng cho tác phẩm là hiện tượng bình thường. Văn học phải đạo có cái rất hay. Trong ba nhân vật trong Tam quốc chí Quan Công là phải đạo nhưng là nhân vật rất hay người ta thờ. Và trong loại nhân vật không phải đạo cũng có cái không hay.


Văn tải đạo là quan niệm phong kiến. Thế hệ những nhà văn cộng sản có những nhà văn rất lớn như Gorki, Solokhov có thể ngồi ghế sau nhưng vào bàn những nhà văn lớn. Berthol Bretch lớn. Tiếp theo thế hệ này chắc chắn có những người ngang tài. Có mùa Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao, có lớp nhà văn cổ điển mới. Ta chưa có những tầm vóc lớn.


Mỗi nhà văn có tạng riêng. Tôi là người trẻ nhất đàn em của thế hệ trước Cách mạng. Tôi không phải là nhà văn sau Cách mạng. Trước cách mạng tôi còn tìm đường. Tôi xuất thân là trí thức, vừa có nhược điểm, vừa có ưu điểm. Tôi tin ở suy nghĩ độc lập, Descartes phá hết chân lý, sự thật là hiển nhiên.


Cái học của tôi là cái học phê phán. Tôi không có ảo tưởng, tôi tin vào con người bình thường. B52 ném bom thất bại trước sức mạnh của nhân dân. Về mặt nghệ thuật tôi có hoài bão. Đồng chí Trường Chinh bảo tôi mắc phải chủ nghĩa tiên phong. Tôi ít được chấp nhận vào luồng chính, thơ thế, kịch cũng thế, số phận ở bên rìa, in chậm chậm lắm. Viết thơ sau nhiều năm mới in. Trong nhiều cái phê bình có cái oan. Trong kháng chiến tôi nói với Thanh Tịnh mình biết đến đâu, viết đến đấy. Nhìn vào văn học thấy nhiều vấn đề khó. Bài thơ tình viết trong kháng chiến là dễ bị đánh. Bây giờ nhìn lại là chuyện đã qua. Mấy năm nay tôi viết kịch nhiều và đặt được nhiều vấn đề. Không khí bây giờ đỡ hơn nhiều. Trong sáng tác cái hay là đi từ cái đơn giản. Trong bài thơ Ánh biếc là chuyện rất thật khi đi ở Long An cái buổi chiều tôi và anh giao liên chèo thuyền: “Vào đây không biết chèo xuồng thì vào làm gì, mà chết à?”. Thấy tôi già anh giao liên bảo: “Ông bằng tuổi bố tôi ông còn vào thì bao giờ tôi được về. Đang đi thuyền thấy con chim, con chim bay trước một chút cái xuồng. Cứ thế”. Có cái viết rất thật, sống sinh động nhưng thiếu cái gì thì cũng không hay. Trên đời có anh lính, cái xuồng con người và phải có cái gì bay đàng trước. Thực tế Việt Nam có bao nhiêu bi kịch lớn lao, tôi không tự ti với bất kỳ anh nào trên thế giới. Tố Hữu là nhà thơ có tài, nhiều tình. Nhưng theo riêng tôi thơ anh là mũi giáo của cách mạng ít chất cái cán. Cũng là hiện tượng hiếm, không có thơ tình khi là nhà thơ lớn. “Tự nhiên là mình không làm được. Thấy đất nước đau khổ mình không nỡ làm”. Thơ anh có bước phát triển. Cũng có thời gian ông chịu ảnh hưởng tư tưởng sùng bái, lại là nhà thơ chỉ đạo nên cũng khó nhận xét. Tôi rất yêu những bài thơ đầu kháng chiến. Bây giờ vị trí chính trị khác đi có những anh muốn xúm vào. Không nên thế. Tố Hữu có những bài thơ rất hay, đi vào nhân dân.


Văn học chúng ta có truyền thống nói về cái anh hùng. Còn với cái tiêu cực thì mới mẻ hơn. Cuối cùng vẫn là con người, hai tuyến quỷ và người. Là nhà văn lớn như Dostoievski, sống không đơn giản mà suy nghĩ trên vấn đề con người lại vẫn rất người. Họp đại hội Chế Lan Viên hỏi chúng tôi được phép phê bình đến đâu? Cấp huyện, tỉnh, bộ. Bài thơ của Khải  chưa phải là thơ. Thơ đang khó khăn. Nguồn chính của thơ là yêu nước. Sang giai đoạn khác các nhà thơ đang tìm. Thơ chỉ có thể hay là do chính mình. Đề tài nhà thơ là chính mình. Như vậy cả thời đại chỉ có một hai người. Phải nhờ đề tài, tứ và nhiều sự kiện trong chiến tranh những cái ngoài mình. Nhưng tất cả phải thông qua nhà thơ, qua cảm xúc, suy nghĩ của người viết. Nhà thơ nhờ đó khẳng định mình và chất liệu cũng nhờ đó mà có hồn, mang dấu ấn con người. Song tôi rất lo các lớp nhà văn trẻ. Anh em trẻ biết chân giá trị. Họ dễ kiêu ngạo. Vì không khí dân chủ chưa tốt nên lớp trẻ khôn hơn, nó sáng tác theo hai loại cũng giống hai giá, loại cho thị trường, loại cho mình. So với Nam Cao viết Ở rừng, khác lắm. Phải đánh giá đúng giá trị văn học. Phải làm cho không khí văn học đúng. Phê bình hết sức quan trọng. Phẩm giá văn học là do phê bình. Một nền văn học tươi đẹp nhưng chưa có phê bình thì chưa có phẩm giá. Văn học phải có tưởng tượng dự định. Chính con người biết mình sẽ chết nên sinh ra nhiều chuyện. Khinh thường trí tưởng tượng là hạ thấp văn học. Se-li cho gốc của đạo đức là trí tưởng tượng. Gốc đạo đức là tình thương. Trí tưởng tượng là đặt mình vào cảnh ngộ người khác. Văn học phát triển tiềm năng và trí tưởng tượng. Tác phẩm hay đánh động toàn bộ trí óc con người. Bài văn hay huy động hết tiềm năng. Có nhiều cách phản ánh, phản ánh đúng trực tiếp và có dạng phản ánh ngược lại để nói lên khát vọng (nhạc nhà thờ là nhạc của giao lưu, hoà hợp xuất hiện trong xã hội tàn bạo, phản ánh cái thèm khát của con người).


 


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi. Chuyên luận, trò chuyện và ghi chép của Hà Minh Đức. NXB Văn học, 12-2011.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
Na Hang: Sắc nước hương trời - Trần Mai Hưởng 30.09.2019
Nhìn mưa, nhớ Nguyễn Ngọc Ly - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Trúc Cương - Liêu xiêu một đời - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Ngôi sao xa xôi thưở ấy - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Sun Group, Địa Ngục Tự - Bài 2: Dấu chấm hỏi về 'vòng tròn khép kín' ở Tam Đảo II - Nhiều tác giả 26.09.2019
Điều tra độc quyền: Sun Group, Địa Ngục Tự và ma trận chiếm lĩnh rừng quốc gia Tam Đảo - Nhiều tác giả 23.09.2019
Nguyên Ngọc con người lãng mạn - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2019
xem thêm »