tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27670226
Tiểu thuyết
02.02.2012
Stefan Zweig
Thế giới những ngày qua

Ngày nay tất nhiên tôi nhận ra rất rõ cái phần phi lý nó xâm nhập vào trong sự nhiệt tình không phân biệt và chẳng có lựa chọn đó, có ở đó biết bao nhiêu là trò bắt chước đơn thuần, biết bao nhiêu là ham thích người này vượt trên người kia như trong thể thao, biết bao nhiêu là thói khoe khoang trẻ con và kiêu hãnh tự cảm thấy mình cao hơn so với thế giới những trí tuệ thấp lè tè xung quanh chúng tôi, so với cha mẹ và các thầy giáo của chúng tôi. Nhưng ngày nay tôi vẫn còn lấy làm lạ về tất cả những gì chúng tôi đã học được hồi ấy nhờ chính sự hứng khởi trong niềm say mê của chúng tôi đối với văn học, cái trí tuệ sớm biết phán đoán, phân biệt và phê bình mà chúng tôi đã hấp thụ được qua những cuộc tranh cãi liên miên và những phân tích tế nhị. Ở tuổi mười bảy, tôi không chỉ biết tất cả những bài thơ của Baudelaire hay của Walt Whitman, mà trong đó tôi đã thuộc lòng những bài nổi tiếng nhất, và tôi không nghĩ rằng trong suốt đời tôi đã có thời kỳ nào mà tôi đọc với sự chăm chú không hề giảm sút bằng những năm học ở bậc trung học và đại học. Nhiều tên chúng tôi đã thân quen mà mãi mười năm sau mới trở nên nổi tiếng, ngay cả những gì là thoáng qua nhất cũng đã khắc sâu vào trí nhớ của chúng tôi, bởi chúng tôi đã nắm bắt nó với một nhiệt tình đến vậy. Một hôm tôi nói với người bạn đáng kính Paul Valéry của tôi rằng sự tiếp xúc đầu tiên của tôi với tác phẩm văn học của ông là ở thời kỳ đã xa xưa lắm, rằng tôi đã học những vần thơ của ông từ ba mươi năm trước và rằng tôi đã yêu mến chúng. Valéry cười một cách chất phác: "Này anh bạn đừng có mà buộc tôi tin điều đó! Thơ của tôi chỉ mới ra đời năm 1916". Nhưng ông ngạc nhiên khi tôi tả cho ông một cách chính xác cả khổ và màu của tờ tạp chí văn học nhỏ bé ở đó chúng tôi phát hiện tại Vienne những bài thơ đầu tay của ông. "Nhưng khó có ai đó ở Paris biết tạp chí này, ông nói với tôi, vậy làm thế nào mà anh có thể kiếm được ở Vienne kia chứ". Tôi trả lời ông: "Cũng hệt như cách thức anh đã tìm được, khi anh còn là một cậu học sinh bé tí tỉnh lẻ, những bài thơ của Mallarmé, mà văn học chính thống cũng hoàn toàn không biết gì hết". Ông tán thành: "Tuổi trẻ phát hiện ra những nhà thơ của mình bởi họ muốn phát hiện". Theo đúng nghĩa từng chữ, chúng tôi đánh hơi thấy gió trước khi nó kịp thổi qua biên giới, bởi vì lúc nào chúng tôi cũng vểnh lỗ mũi lên. Chúng tôi tìm thấy cái mới bởi chúng tôi muốn cái mới, chúng tôi khát khao những gì thuộc về chúng tôi và chỉ thuộc về chúng tôi mà thôi, không thuộc về thế giới của cha ông chúng tôi, không thuộc về những người xung quanh chúng tôi. Tuổi trẻ có, giống như một số con vật, một bản năng nó báo trước cho họ những đổi thay về thời tiết, và cũng như vậy, thế hệ chúng tôi tiên cảm, trước khi các giáo sư của chúng tôi và các trường Đại học ngờ tới điều đó, rằng cùng với thế kỷ đang chấm dứt, cái gì đó trong những quan điểm nghệ thuật cũng chấm hết, rằng một cuộc cách mạng bắt đầu hoặc ít nhất là một cuộc đảo ngược các giá trị. Những bậc thầy cự phách được xác nhận của thời đại cha ông chúng tôi, Gottfried Keller trong văn học, Ibsen trong nghệ thuật sân khấu, Johannes Brahms trong âm nhạc, Leibl trong hội họa, Edouard von Hartmann trong triết học, có trong họ, theo như chúng tôi cảm nhận, tất cả sự thận trọng của thế giới của sự yên bình, bất kể tài năng bậc thầy mà kỹ thuật cũng như tư tưởng của họ chứng tỏ hj không khiến cho chúng tôi quan tâm nữa. Chúng tôi cảm thấy một cách vô thức rằng cái nhịp điệu an bình và rất ôn hòa của họ không phù hợp với nhịp điệu của dòng máu nôn nóng của chúng tôi và đã không còn hài hòa với sự vận động tăng tốc của thời đại. Mà chính ở Vienne đã sống trí tuệ mẫn tiệp nhất của thế hệ mới nước Đức, Hermann Bahr, ông chiến đấu một cách điên khùng như hiệp sĩ đấu kiếm thực sự về tinh thần vì tất cả những gì mới nhất đang sinh ra và xảy ra, nhờ sự giúp đỡ của ông đã mở ra ở Vienne tổ chức "li khai" nó trưng bày trước sự bàng hoàng của trường phái cũ những họa sĩ ấn tượng và chấm màu của Paris, Munch người Na Uy, Rops người Bỉ và tất cả những người cực đoan có thể tưởng tượng ra được. Vậy là mở ra con đường cho những người đi trước mà chân giá trị còn chưa được biết, Gréco và Goya. Đột nhiên người ta có được một cái nhìn mới về sự vật, và, đồng thời nhờ Moussorgsky, Debussy, Strauss và Schưnberg, có được ý thức về những nhịp điệu và những âm hưởng mới; chủ nghĩa hiện thực đột nhập vào văn học với Zola, Strindberg và Hauptmann, chủ nghĩa quỷ ám Slave với Dostoðevski, một sự thăng hoa và tinh tế của ngôn ngữ thi ca cho tới lúc đó còn chưa từng được biết Verlaine, Rimbaud, Mallarmé. Nietzsche làm cách mạng trong triết học; một nền kiến trúc mạnh dạn hơn và tự do hơn tuyên bố những ưu điểm của lối xây dựng trần trụi và không trang trí thay vì sự quá rườm rà cổ điển. Bỗng nhiên trật tự truyền thống và vững chắc bị rối loạn, những chuẩn mực của "cái đẹp mỹ học" (Hanslick) coi như không phải bàn cãi, được đặt lại thành vấn đề, và trong khi những nhà phê bình chính thống của báo chí tư sản và "nghiêm túc" hoảng sợ trước những cuộc thử nghiệm thường là táo tợn và tìm cách ngăn chặn làn sóng không thể chống nổi, bằng cách ném vào nó lời nguyền rủa "suy đồi" hoặc "vô chính phủ", bọn chúng tôi, những người trẻ tuổi, chúng tôi say mê lao vào con sóng dồi ở nơi nó sủi bọt dữ dội nhất. Chúng tôi có cảm tưởng rằng một thời đại đang lên cho chúng tôi, thời đại của chúng tôi, ở đó tuổi thanh niên rốt cuộc sắp đoạt được quyền của họ. Vậy là niềm say mê tìm kiếm của chúng tôi và lòng kiên nhẫn của chúng tôi bỗng nhiên mang một ý nghĩa: chúng tôi, những người trẻ tuổi trên ghế nhà trường, có thể chiến đấu cùng với những người tiên phong trong các trận chiến đấu ác liệt và thường là điên cuồng cho nền nghệ thuật mới. Ở nơi nào người ta thử một thử nghiệm, ví dụ như ở một buổi biểu diễn của Wedekind hay một cuộc đọc thơ trẻ, chúng tôi luôn có mặt với tất cả sức mạnh, không phải chỉ của tâm hồn mà cả của bàn tay chúng tôi nữa; tôi đã dự một cuộc biểu diễn đầu tiên của một trong số tác phẩm phi giọng điệu của Amold Schưberg trẻ tuổi, và khi một ông nào đó đã tung ra những tiếng còi chói tai, bạn tôi Buschbeck đã tát cho lão ta một cái tát cũng vang dội như thế; khắp nơi chúng tôi là những đội xung kích và những người tiên phong, chiến đấu vì đủ loại nghệ thuật mới, đơn giản là vì nó mới, vì nó muốn thay đổi thế giới cho chúng tôi, vậy cuối cùng đã đến lượt sống cuộc sống của chúng tôi. Bởi vì chúng tôi cảm thấy điều đó "nostra res agitve"( ).


Nhưng còn có một điều khác làm chúng tôi quan tâm và quyến rũ chúng tôi vô hạn độ trong cái nghệ thuật mới này: nó gần như chỉ chuyên nhất là một nghệ thuật do những người trẻ tuổi làm nên. Ở thế hệ cha chúng tôi, một nhà thơ, một nhạc sĩ chỉ nhận được sự ngưỡng mộ khi đã "chứng minh khả năng của mình", khi đã thích nghi được với thị hiếu nghiêm chỉnh của xã hội tư sản. Tất cả những nhân vật mà người ta dạy chúng tôi kính trọng đều xử sự ra con người đáng kính. Họ mang những bộ râu muối tiêu đẹp, rủ xuống bên trên những chiếc áo gi-lê nhung thơ mộng - Wilbrandt, Ebers, Félix Dahn, Paul Heyse, Lenbach, những người được ưa chuộng vào thời ấy nhưng đã bị quên lãng từ lâu. Họ để người ta chụp ảnh mình với cái nhìn suy tư và bao giờ cũng với phong thái "chững chạc" và "thơ mộng", họ xử sự như các cố vấn triều đình và các đại nhân và họ có huân chương như những người đó. Ngược lại những thi sĩ, họa sĩ hay nhạc sĩ trẻ thì nhiều nhất chỉ được đánh giá "tài năng đầy triển vọng", nhưng người ta không có sự kính trọng thực tế nào đối với họ; cái tuổi thận trọng này không thích ban ra một ân huệ quá sớm, trước khi họ tự khẳng định bởi những tác phẩm lâu dài và "chắn chắn". Những nhà văn, họa sĩ, nhạc sĩ mới đều rất trẻ, Gerhart Haupmann đột ngột nổi lên từ chốn tăm tối sâu thẳm nhất, ba mươi tuổi đã ngự trị sân khấu Đức, Stéfan George, Rainer Maria Rilke nổi danh văn học và ở tuổi hai mươi hai đã có những người hâm mộ cuồng nhiệt, tức là trước tuổi trưởng thành theo luật pháp nước Áo. Trong chính thành phố chúng tôi một đêm đã khai sinh ra nhóm "Vienne trẻ" với Arthur Schnitzler, Hermann Bahr, Richard Beer-Hofmann, Pierre Altenberg, nhờ có họ, nền văn học đặc trưng Áo, qua sự tinh luyện tất cả các phương tiện nghệ thuật, lần đầu tiên tìm được một sắc thái châu Âu. Nhưng trước hết có một gương mê hoặc chúng tôi, quyến rũ chúng tôi, làm chúng tôi say sưa và phấn khích, kỳ quan huy hoàng và độc nhất, Hugo von Hoffmannsthal, ở gương mặt đó, tuổi trẻ chúng tôi không chỉ thấy những tham vọng cao nhất của mình được thực hiện, mà còn thấy sự hoàn thiện thơ ca trọn vẹn nhất và tuyệt đối nhất, và điều đó, ở cá nhân một người trẻ tuổi, chỉ xấp xỉ tuổi chúng tôi.


*


Sự xuất hiện của Hoffmannsthal trẻ tuổi là và vẫn là đáng ghi nhớ như một phép lạ lớn nhất của sự sớm thành tựu; tôi không biết trong toàn bộ nền văn học thế giới, ngoại trừ Keats và Rimbaud, có một thí dụ nào khác về một thành công chắc chắn đến mức như vậy trong việc làm chủ ngôn ngữ ở độ tuổi cũng non trẻ như thế, một cái vỗ  cánh quy mô như thế, hướng tới thế giới lý tưởng; một sự viên mãn đến thế của chất thơ cho đến từng dòng nhỏ nhất, có thể so sánh với những thiên phú của thiên tài vĩ đại này, thiên tài ở tuổi mười sáu, mười bảy, tự ghi vào biên niên sử vĩnh cửu của văn học Đức, với những vần thơ không thể nào quên và một giọng văn còn chưa bị vượt qua. Bước khởi đầu đột ngột của anh và đồng thời, sự hoàn hảo của anh tạo nên một hiện tượng khó lòng diễn ra lần thứ hai trong vòng một thế hệ. Tất cả những ai thoạt tiên được biết về chuyện này đều thán phục tính khó tin của sự hiện hiển đó như một sự kiện gần như là siêu nhiên. Hermann Bahr luôn nhắc với tôi sự kinh ngạc của ông khi nhận được từ Vienne gửi cho tạp chí của ông một bài ký tên 'Loris", một người lạ đối với ông (một ấn phẩm có tên tác giả không được phép lưu hành ở trường phổ thông chúng tôi); chưa bao giờ ông nhận được ở khắp nơi trên thế giới một đóng góp ở đó một sự phong phú về tư tưởng đến thế diễn đạt trong một ngôn ngữ bay bổng và quý phái đến thế, được gieo rắc như từ một bàn tay nhẹ nhàng. Ai là anh chàng "Loris" nọ, ai là cái người không quen biết ấy, ông ta tự hỏi. Hẳn là một ông già, ông ta đã gìn giữ những khám phá của mình trong im lặng nhiều năm, và đã trau dồi trong chốn ẩn dật bí hiểm những tinh túy cao cả nhất của ngôn từ đến mức làm nó trở thành một phép mầu gần như là khoái trá. Và một bậc hiền minh đến như vậy, một thi sĩ đầy ân sủng như vậy sống trong cùng một thành phố mà ông chưa bao giờ được nghe nói về người ấy! Bahr lập tức viết cho người không quen đó và hẹn gặp tại quán cà phê Griensteidl nổi tiếng, đại bản doanh của nền văn học trẻ. Bỗng nhiên, với bước đi nhẹ nhàng và nhanh nhẹn tiến lại gần bàn ông, ông học sinh trung học mảnh dẻ chưa có râu, còn mặc quần cộc thiếu niên, anh ta cúi chào, cất tiếng gọn lỏn và đĩnh đạc với một giọng kim chưa hoàn toàn vỡ tiếng: "Hofmannsthal! Tôi là Loris!". Nhiều năm sau ông ta nhớ lại sự sửng sốt của mình mà nóng bừng cả người. Thoạt tiên ông không muốn tin cậu ta. Một học sinh trung học mà có một tài nghệ đến thế, một sự thông thái đến thế, một chiều sâu đến thế, một sự hiểu biết đáng kinh ngạc đến thế về cuộc đời trước khi sống cuộc đời ấy! Và Arthur Schnitzler cũng kể với tôi những điều tương tự như vậy. Hồi ấy ông còn là thầy thuốc bởi những thành công văn chương đầu tiên của ông không hề tỏ ra bảo đảm được cho ông một kế chắc chắn, nhưng ông đã được coi là người đứng đầu của nhóm "Vienne trẻ" và đàn em của ông tự nguyện hướng về ông để hỏi ý kiến và xin những lời khuyên. Ở nhà những người quen biết tình cờ, ông đã gặp cái anh chàng học sinh trung học cao lòng khòng ấy, chàng ta làm ông chú ý bởi trí thông minh nhanh nhạy, và khi chàng học sinh trung học xin ông chiếu cố cho hắn đọc ông nghe một vở kịch thơ ngắn, ông sẵn lòng mời cậu ta đến căn hộ độc thân của mình, thực sự ông không kỳ vọng gì lớn; vì rút cuộc, ông nghĩ, một vở kịch do một học sinh trung học viết thì chỉ có thể là đa cảm hoặc là giả cổ điển. Ông mời mấy người bạn; Hofmannsthal mặc quần cộc ngắn xuất hiện, hơi kích động và miễn cưỡng; và chàng ta bắt đầu đọc: "Chỉ sau vài phút, Schnitzler kể lại với tôi, chúng tôi dỏng tai và trao đổi với nhau những cái nhìn ngạc nhiên, gần như kinh hoàng. Những câu thơ mới hoàn hảo làm sao, uyển chuyển tuyệt vời, tình cảm du dương hết mực, chưa bao giờ chúng tôi được nghe như thế ở một thi sĩ còn sống nào và hầu như không tin là có thể có từ sau Goethe. Còn kỳ diệu hơn sự làm chủ có một không hai về hình thức, mà cho đến lúc này, chưa có một nhà văn viết bằng tiếng Đức nào đạt được, - cái làm chúng tôi sửng sốt là vốn tri thức về thế giới chỉ có thể bắt nguồn từ một trực giác thần diệu ở cậu bé hàng ngày ngồi trên ghế nhà trường này". Khi Hofmannsthal đọc xong, tất cả đều ngồi im lặng. "Tôi có cảm tưởng, Schnitzler nói với tôi, lần đầu tiên trong đời được gặp một vị thánh sống, và chưa bao giờ tôi cảm thấy xáo động như thế trong suốt cả đời tôi". Người khởi đầu như vậy ở tuổi mười sáu, hay đúng hơn, đạt được ở những bước đầu một độ hoàn thiện như vậy, chỉ có thể trở thành một người anh em của Goethe và của Shakespeare. Và quả thật, sự hoàn thiện đó dường như ngày càng tự hoàn thiện hơn: Sau cái mở đầu bằng thơ Ngày hôm qua ấy, nối tiếp tác phẩm vĩ đại về Cái chết của Titien trong đó ngôn ngữ Đức đạt tới những âm vang đẹp nhất của tiếng Italia, rồi những Vần thơ mà mỗi bài là một sự kiện đối với chúng tôi và sau nhiều thập kỷ, tôi không quên một dòng; rồi những vở kịch nhỏ và cuối cùng những Tùy bút mà trong không gian được giới hạn tuyệt vời ở quãng vài chục trang, cô đọng lại một cách thân tình sự giàu có của trí thức, một nhận thức vững chắc về những vấn đề của nghệ thuật, tầm nhìn khoáng đạt về vũ trụ, tất cả những gì mà cậu học sinh trung học đó viết, anh sinh viên trường Tổng hợp đó viết giống như là một tinh thể được chiếu sáng từ bên trong, đồng thời vừa u tối vừa rực cháy. Vần thơ, câu văn tự nhào nặn trong đôi bàn tay anh giống như chất sáp thơm của Hymette, bao giờ cũng vậy, do một phép lạ không thể lặp lại, mỗi một đoạn đều đúng độ, không nhiều quá, cũng không ít quá, bao giờ người ta cũng cảm thấy một sức mạnh vô thức, không thể hiểu nổi, dẫn lối cho anh một cách huyền bí trong những con đường chưa hề có dấu chân này.


Tôi không sao diễn tả nổi một hiện tượng như vậy đã làm mê hồn chúng tôi đến mức nào, chúng tôi là những người đã tự rèn luyện để thẩm định các giá trị. Bởi rốt cuộc, có gì làm say lòng một thế hệ mới hơn là biết rằng ở gần mình, bằng người thật, ngay giữa thế hệ mình, được sinh ra trong thế hệ mình, nhà thơ trong sáng, cao cả mà mình chỉ luôn hình dung dưới những dạng vẻ huyền thoại của một Hưlderlin, một Keats hay một Leopardi, những dạng vẻ không thể vươn tới được, và đã thành giấc mơ cùng ảo tưởng. Chính vì vậy mà tôi còn hồi tưởng được rõ nét đến như vậy cái ngày tôi nhìn thấy Hofmannsthal lần đầu. Tôi mười sáu tuổi và vì bọn tôi thèm thuồng theo dõi tất cả những gì vị Quân sư lý tưởng của chúng tôi làm, tôi bị kích động vì một mẩu tin nhỏ lẫn trong báo, qua đó người ta thông báo một cuộc diễn thuyết của anh về Goethe ở "Câu lạc bộ Khoa học". (Với chúng tôi, một thiên tài cỡ ấy mà phải cất lời trong một khung cảnh khiêm nhường như vậy là không thể hình dung được, trong sự sùng bái kiểu học trò của chúng tôi, chúng tôi những tưởng rằng căn phòng lớn nhất phải đông chật đến vỡ ra khi một Hofmannsthal đồng ý xuất hiện trước công chúng). Nhưng nhân dịp này, tôi có thể nhận thấy thêm một lần nữa bọn học sinh trung học bé nhỏ chúng tôi đã tiến bộ hơn quảng đại công chúng và giới phê bình chính thống trong sự đánh giá trong trực giác tỏ ra rất vững chắc của chúng tôi - và không phải chỉ ở chỗ này - về những gì tất phải trường tồn. Tất cả chỉ chừng đến một trăm hai mươi đến một trăm năm mươi thính giả tập hợp, trong căn phòng nhỏ, vậy là rất vô tích sự khi vì sốt sắng tôi đã lên đường sớm nửa giờ để bảo đảm giành được một chỗ ngồi. Chúng tôi chờ một lát, và đột nhiên một người trẻ tuổi vóc mảnh dẻ, tự bản thân anh ta nom không có chút gì gây ấn tượng mạnh, đi qua hàng ghế chúng tôi, trèo lên bục diễn đàn nhỏ và bắt đầu một cách đột ngột tới mức tôi hầu như không có thời gian để ngắm kỹ anh ta. Hofmannsthal với bộ ria mới lún phún, dáng linh hoạt có vẻ còn trẻ hơn tôi, chờ đợi. Khuôn mặt nhìn nghiêng sắc nhọn, nước da ngăm ngăm kiểu người Italia, hình như bồn chồn căng thẳng, và vẻ linh hoạt của cặp mắt nhung huyền nhưng cận thị nặng của anh còn phù hợp thêm vào cái ấn tượng này. Anh lao vút vào bài diễn văn như nhà bơi lội lao vào làn sóng quen, và càng nói động tác của anh càng thoải mái, phong thái của anh càng đạt được sự vững chắc. Anh chỉ vừa chớm lao vào lĩnh vực trí tuệ là sau một lát thiếu tự nhiên, (về sau tôi thường nhận thấy hiện tượng này những khi bọn tôi trao đổi riêng với nhau) anh đạt được một sự khinh khoái kỳ diệu và bay bổng, như thường xảy ra với tất cả những người có thần cảm. Khi anh nói những câu đầu tiên, tôi còn nhận thấy giọng anh không hay, nó thường rất gần với giọng eo éo và hơi vỡ ra, nhưng lời lẽ của anh đã thật thoải mái đưa ta lên những miền cao vời vợi, thành thử chúng ta không còn để ý đến giọng nói cũng như vẻ mặt của anh nữa. Anh nói không bản nháp, không lời ghi, có lẽ không có cả sự chuẩn bị rất chính xác về chi tiết, nhưng nhờ cảm giác bẩm sinh và thần diệu về hình thức, mỗi câu của anh có nhịp điệu và sự hoàn chỉnh mà ta có thể mong chờ. Anh làm choáng ngợp chúng tôi bằng những phản đề táo bạo nhất, liền sau đó chúng được giải quyết bằng những công thức sáng sủa nhưng bất ngờ. Người ta có cảm tưởng rõ rệt là những gì anh tặng cho chúng ta tại đây chỉ là những mảnh vụn được tung ra hú họa từ một sự dồi dào to lớn hơn nhiều, và rằng, đã lao từ một cái vỗ cánh vào những bầu trời lồng lộng nhất, anh có thể còn nói giờ này sang giờ khác không cạn lời hoặc không hề giảm sút tầm cao. Tôi cũng cảm thấy như vậy trong những năm về sau này cái sức mạnh thần kỳ của con người sáng tạo khúc ca lôi cuốn và những cuộc đối thoại "linh hoạt và tuôn trào" này, cũng như Stefan George đã khen ngợi anh; anh bồn chồn hay đổi ý, dễ bị kích động, dễ bị ảnh hưởng bởi thời tiết, hay gắt gỏng và căng thẳng trong quan hệ với những người thân, và đến gần anh không phải dễ. Nhưng lúc nào có một vấn đề làm anh quan tâm, anh bốc lửa, chỉ từ một sự cất cánh sáng lòa như tên lửa, anh nâng mọi tranh luận lên lĩnh vực thuộc về anh, và chỉ mình anh có thể đạt tới. Chưa bao giờ tôi có với anh những cuộc trò chuyện được giữ lâu bền ở trình độ trí tuệ đến như vậy, ngoại trừ đôi khi với Valéry mà tư duy mực thước hơn, trong suốt hơn, và với Keyserling sôi nổi mãnh liệt. Trong những lúc thực sự cảm hứng ấy, tất cả đều hiện ra ở trí nhớ sắc bén một cách kỳ quái của anh, tất cả những sách mà anh đã đọc, tất cả các bức tranh mà anh đã thấy, tất cả những phong cảnh, các ẩn dụ liên kết với nhau một cách cũng tự nhiên như bàn tay nọ nắm chặt bàn tay kia, những viễn cảnh dựng lên tựa như những hậu trường đột ngột phía sau đường chân trời mà người ta ngỡ rằng đã khép lại; - trong suốt cuộc hội thảo đó, cũng như về sau này, những khi tôi gặp riêng anh, tôi cảm thấy một cách thực sự nơi con người này lan truyền hơi ấm, hơi thở gây sinh khí tỏa ra từ cái vô biên, từ cái mà lý trí không thể nắm bắt được trong tổng thể của nó.


Về một ý nghĩa nào đó, Hofmannsthal không bao giờ vượt qua được con người kỳ diệu là anh quãng từ mười sáu đến hai tư tuổi. Tôi không kém phần khâm phục nhiều tác phẩm sau này của anh, những tùy bút tuyệt diệu của anh, trích đoạn Andreas cái phần thân hình của cuốn tiểu thuyết hay nhất trong những tiểu thuyết viết bằng tiếng Đức cũng như đôi đoạn trong những vở kịch của anh; nhưng anh càng gắn bó chặt chẽ hơn với nhà hát biểu diễn tác phẩm của anh, cũng như với những lợi ích của thời đại anh, anh càng có ý thức rõ rệt hơn về những kế hoạch đầy tham vọng của mình, thì chút gì đó trong sự không thể sai lầm của kẻ mộng du, trong trạng thái thần cảm mà những tác phẩm thời thanh niên của anh từng chứng tỏ đã biến mất, và qua đó cả chút gì là say đắm và cảm hứng của chính tuổi trẻ chúng tôi. Nhờ linh cảm tiên tri thần diệu đó, nó là đặc tính của tuổi niên thiếu, chúng tôi đã đoán rằng sự thần kỳ ấy của tuổi trẻ chúng tôi là duy nhất và không bao giờ trở lại trong cuộc đời chúng tôi lần nữa.


*


Balzac đã trình bày với một nghệ thuật bậc thầy tấm gương của Napoléon đã kích động cả một thế hệ ở nước Pháp như thế nào. Sự lên cao chói lọi của chàng thiếu úy bé nhỏ Bonaparte đạt tới tước vị hoàng đế của thế giới đối với ông ta không chỉ có ý nghĩa sự chiến thắng của một các nhân, mà là một thắng lợi của khái niệm tuổi thanh niên. Chẳng cần nhất thiết phải sinh ra đã là hoàng tử để sớm đạt tới quyền lực, người ta có thể xuất thân từ một gia đình khiêm nhường thậm chí nghèo nữa mà trở thành vị tướng ở tuổi hai mươi tư, quốc vương của nước Pháp ở tuổi ba mươi và liền sau đó của cả thế giới, sự thành công độc nhất vô nhị này đã dứt hàng trăm người trẻ tuổi khỏi những nghề nhỏ mọn và những thị thành tỉnh lẻ của họ - chàng thiếu úy Bonaparte đã đốt nóng đầu của cả một thế hệ. Balzac giúp họ hình dung những khát vọng cao hơn, ông dựng lên những tướng soái của Đại quân, và cả những nhân vật, những kẻ hãnh tiến của Tần trò đời. Bao giờ cũng vậy một con người duy nhất, trong bất kỳ lĩnh vực nào, ngay bước đầu đã đạt được điều nổi tiếng là không thể với tới do thực tế duy nhất về sự thắng lợi của người ấy làm nức lòng giới thanh niên sống xung quanh và sau người ấy. Với ý nghĩa đó, Hofmannsthal và Rilke đem lại cho chúng tôi một tác nhân phi thường kích thích những nghị lực đang nung nấu trong chúng tôi. Tuy không bao giờ hy vọng rằng một người nào đó trong bọn tôi có thể lập lại điều kỳ diệu của Hofmannsthal, tất cả chúng tôi đều đã cứng rắn lên bởi duy nhất sự tồn tại thực tế của anh. Nó chứng minh ngay trước mắt chúng tôi rằng, trong thời đại chúng tôi, trong thành phố chúng tôi, trong môi trường chúng tôi, thi sĩ là chuyện có thể có thực. Cha anh, một giám đốc ngân hàng, rút cuộc, cũng xuất thân từ giai cấp tư sản Do Thái như bọn tôi, con người thiên tài đã lớn lên trong một mái nhà giống như nhà chúng tôi, giữa những đồ đạc tương tự, được dạy dỗ theo những nguyên tắc đạo đức của giai tầng xã hội chúng tôi, anh ta vào học một trường phổ thông cũng nghèo nàn như trường chúng tôi, đã học tập cũng những sách giáo khoa ấy, đã ngồi trong tám năm cũng trên những ghế gỗ ấy, cũng háo hức như chúng tôi, cũng sây mê tất cả những giá trị tinh thần; và đây kìa, từ thời gian anh mài mòn đũng quần trên ghế này và dẫm chân trong phòng thể dục, anh đã thành công trong việc vượt khỏi không gian và sự chật hẹp của nó, gia đình anh và thành phố anh bằng cái vỗ cánh vào cõi vô biên. Hofmannsthal chứng minh cho chúng tôi gần như là nhỡn tiền (ad oculos) rằng có thể trên nguyên tắc sáng tạo nên thơ ca và thơ ca hoàn hảo trong thời đại chúng tôi và ngay cả trong bầu không khí nhà tù của một trường trung học nước Áo. Cũng có thể (sức quyến rũ vô song cho một tâm hồn đang nở hoa) được in, được ca ngợi, sùng bái ngay cả lúc mà ở nhà và ở trường người ta còn bị coi là một con người chưa hoàn chỉnh và không quan trọng.


Rilke về phần mình, cung cấp cho chúng tôi một sự cổ vũ theo cách khác, nó bổ sung cho cách cổ vũ của Hofmannsthal một cách dịu lắng. Bởi ngay cả những anh chàng liều lĩnh nhất trong chúng tôi cũng tự thấy báng bổ về ý định ganh đua với Hofmannsthal. Chúng tôi biết điều đó; anh là một kỳ tích độc nhất về sự hoàn thiện sớm, nó không thể lặp lại được, và khi chúng tôi so sánh những bài thơ ở tuổi mười sáu của chúng tôi với những bài anh đã viết ở lứa tuổi ấy và được nổi tiếng đến thế, chúng tôi thấy hoảng sợ và đầy xấu hổ, và cũng như thế, chúng tôi thấy bị sỉ nhục đầy người bởi cái vỗ cánh đại bàng mà ngay ở trường trung học, anh đã đo tất cả chiều rộng của thế giới tinh thần. Rilke thì ngược lại, anh cũng đã khởi đầu từ sớm, viết và in thơ ở tuổi mười bảy - Nhưng những bài thơ cũ đó của Rilke so với thơ của Hofmannsthal và ngay cả khi xem xét chung, là những bài thơ không chín, trẻ con và ngây thơ, trong đó một sự chú ý chiều lòng có thể phát hiện thấy một vài vẩy vàng nhỏ báo hiệu tài năng. Chỉ dần dần tới hai mươi hai, hai mươi ba tuổi thì nhà thơ tuyệt vời mà chúng tôi yêu mến vô hạn này mới bắt đầu khẳng định cá tính mình, điều này đối với chúng tôi là một niềm an ủi lớn. Vậy chẳng cần phải hoàn tất mình ngay ở bậc trung học như Hofmannsthal; người ta có thể, giống Rilke, mò mẫm, thể nghiệm, tự đào tạo, tiến bộ. Chẳng cần phải từ bỏ ngay nếu bước đầu ta viết nên những trang chưa hoàn chỉnh ở đó ta chưa giao ước và ta có thể hy vọng lặp lại trong bản thân mình, nếu chẳng được điều thần kỳ của Hofmannsthal, thì sự tiến bộ lặng lẽ hơn, bình thường hơn của Rilke.


Bởi tất nhiên chúng tôi đã bắt đầu viết và làm thơ, chơi nhạc hay kể chuyện từ lâu; một khuynh hướng thuần túy thụ động và tiếp thụ là không tự nhiên với giới trẻ, vì tự bản tính của nó, nó không chỉ tiếp nhận những ấn tượng mà còn ứng đáp điều đó bởi những sáng tác. Yêu mến sân khấu đối với những người trẻ tuổi có nghĩa là hy vọng và mơ ước được xuất hiện trên sân khấu hay được soạn vở cho nó. Ngưỡng mộ trong một trạng thái ngây ngất tất cả những hình thức của tài năng không tránh khỏi kích thích họ truy tầm trong bản thân xem họ có khám phá được vài dấu vết, vài khả năng của cái tinh túy được chọn lọc đó trong chính cơ thể họ mà chưa được khai phá hoặc trong tâm hồn họ còn đang đắm chìm một nửa trong bóng tối. Chính vì vậy mà trong lớp học chúng tôi, phù hợp với tinh thần Vienne và với những điều kiện riêng của thời ấy, thị hiếu ưa sáng tác nghệ thuật mang tất cả những đặc điểm của một bệnh dịch. Mỗi người tự tìm ở mình một tài năng và gắng phát triển nó. Bốn hay năm người trong bọn chúng tôi muốn trở thành diễn viên, họ bắt chước cách nói của những diễn viên Nhà hát Thành phố, họ đọc và ngâm nga không ngừng, họ bí mật theo học những lớp về nghệ thuật sân khấu và chia nhau các vai ứng khẩu suốt những giờ ra chơi, những màn kịch trọn vẹn của các nhà kinh điển; chúng tôi tạo nên cho họ một công chúng hiếu kỳ nhưng nghiêm khắc trong việc phê phán. Hai hoặc ba người tiếp nhận một học vấn âm nhạc tuyệt vời, và họ còn chưa quyết định có trở thành nhạc sĩ sáng tác, nhạc công điêu luyện hay người chỉ huy dàn nhạc; nhờ họ tôi có được những hiểu biết đầu tiên về nền âm nhạc mới còn đang bị nghiêm ngặt bài trừ ra khỏi các buổi hòa nhạc chính thống của Hội nhạc - bản thân chúng tôi cũng đã cung cấp cho họ phần lời các bài hát và những đồng ca. Một người khác, con trai của một họa sĩ rất hợp thời thượng trong giới giao tế, đã vẽ đầy vào vở của chúng tôi trong các giờ học, và vẽ chân dung của tất cả những thần đồng tương lai của lớp học. Nhưng nỗ lực sáng tác văn học thường vẫn chiếm phần lớn. Nhờ có sự ganh đua khiến chúng tôi ghen tức muốn mau đạt tới sự hoàn thiện, nhờ những lời phê bình mà chúng tôi trao đổi với nhau về những bài thơ của chúng tôi, trình độ đạt được ở tuổi mười bảy của chúng tôi đã được nâng lên nhiều trên mức không chuyên và thực sự nhích gần những tác phẩm có giá trị, và điều hiển nhiên là những tác phẩm của chúng tôi được chấp nhận, không phải ở những tờ báo vô danh tiểu tốt nơi tỉnh lẻ, mà ở những tạp chí tiên phong ở đó chúng được in ra và (đây là chứng cớ hùng hồn nhất) được trả tiền. Một trong số bạn học của tôi, Ph. A. mà tôi tôn sùng như một vị thần, sáng bừng lên ở vị trí hàng đầu trên tạp chí sang trọng Pan, bên cạnh Dehmel và Rilke, một người bạn khác, A.M. đã len được dưới bút danh "Auguste Oehler", vào tờ đóng kín nhất và cố chấp nhất của tất cả các tạp chí tiếng Đức, tờ Bltter Frdie Kunst, mà Stéfan Giorge dành cho câu lạc bộ, đã trải qua bảy lần sàng lọc và đã được thừa nhận. Một người thứ ba được Hofmannsthal khuyến khích soạn một vở kịch về Napoléon, người thứ thư soạn một thuyết mỹ học mới và nhữn sonnet đáng chú ý; bản thân tôi, tôi tìm được lối đi vào G; một tờ báo theo tinh thần mới, và vào Zukunft( ) của Maximilien Harden, tạp chí ra hàng tuần có tiếng nói quyết định đối với lịch sử chính trị và văn hóa của nước Đức mới. Nếu như ngày nay tôi ngoảnh nhìn lại quá khứ, tôi buộc phải công nhận một cách thực khách quan rằng tổng số tri thức của chúng tôi, sự tinh lọc của kỹ thuật văn chương của chúng tôi, trình độ nghệ thuật của chúng tôi là thực sự đáng ngạc nhiên ở những thanh niên mới mười bảy tuổi và chỉ có thể cắt nghĩa được bằng tấm gương đốt cháy chúng tôi của sự phát triển cso tính chất huyền ảo của Hofmannsthal, nó buộc chúng tôi dẫu chỉ để dừng ở giữa đường, say đắm lao vào và huy động mọi khả năng của chúng tôi. Chúng tôi nắm vững mọi kỹ xảo văn chương, mọi ngông cuồng và táo bạo của ngôn ngữ, kỹ thuật của tất cả các thể thơ, chúng tôi đã thể nghiệm vô số lần tất cả các phong cách, từ sự thống thiết theo phong cách Pindare cho đến văn phong đơn giản nhất của dân ca, hàng ngày trao đổi nhau các bài viết chúng tôi nêu lên cho nhau những chỗ lủng củng nhẹ nhất và tranh luận về tất cả những đặc điểm của luật âm thanh. Trong khi các giáo sư hiền lành trung hậu của chúng tôi chẳng chút nghi ngờ đánh dấu bằng mực đỏ vào những lỗi trong các bài làm học trò của chúng tôi, chúng tôi phê phán nhau với một sự nghiêm khắc, một sự hiểu biết về những quy tắc nghệ thuật và một sự vững vàng mà chẳng có vị quan chức không thể sai lầm nào của những tờ báo hàng ngày có được trong sự xét đoán của họ về các tác phẩm lớn cổ điển; cả họ nữa, những nhà phê bình vững vàng và nổi tiếng, chúng tôi cũng đã vượt qua họ khá nhiều, vào những năm học cuối, bằng những tri thức về nghề văn và những phương tiện biểu đạt của chúng tôi, và điều đó là nhờ ở lòng cuồng nhiệt của chúng tôi.


Bức tranh thực sự trung thành của sự chín sớm về văn chương của chúng tôi có thể dẫn độc giả  tới kết luận rằng chúng tôi là một lớp người hoàn toàn đặc biệt. Thật ra không phải như vậy. Trong một tá trường học khác ở Vienne, người ta có thể nhận thấy một hiện tượng của một lòng cuồng nhiệt giống như vậy và một sự sớm chín về năng khiếu như vậy. Điều đó không thể là kết quả của sự ngẫu nhiên. Đó là bầu không khí thuận lợi một cách đặc biệt, tạo nên bởi chất mùn nghệ thuật của thành phố, thời kỳ phi chính trị, vòm sao đây kích thích của những khuynh hướng trí tuệ và văn học mới hồi đầu thế kỷ này, kết hợp hữu cơ trong chúng tôi với ý chí sáng tạo có thể nói là tất yếu thuộc về lứa tuổi này. Ở tuổi dậy thì, sự rung cảm thi ca và thị hiếu thi ca đi qua tất cả những người trẻ tuổi, thông thường nó chỉ là một làn sóng thoảng qua, và hiếm có trường hợp cái ý hướng ấy sống quá tuổi thanh niên, bởi vì ngay cả bản thân nó, cái lớp sóng ấy, cũng chỉ là một sự toát ra từ cái tuổi trẻ này mà thôi. Cả năm diễn viên còn non của chúng tôi, không ai diễn trên một sân khấu thực, những thi sĩ của Pan và của những tờ Bltter Frdie Kunst, sau đà cất cánh đầu tiên và bất ngờ ấy, đã sa lầy vào những nghề luật sư hay công chức đáng kính của họ, và có thể ngày nay họ mỉm cười buồn bã hay giễu cợt với những tham vọng xưa kia của họ; - tôi là người duy nhất trong tất cả bọn họ mà niềm say mê sáng tác đã bền lâu, mà nó đã trở thành một lẽ sống khiến cho cuộc đời tôi có ý nghĩa. Nhưng tôi nhớ lại các bè bạn tôi với tấm lòng biết ơn đến nhường nào! Họ đã có ích cho tôi biết mấy! Những cuộc tranh luận nảy lửa ấy, sự đua nhau ấy, sự khen ngợi và phê phán lẫn nhau ấy đã sớm luyện cho tôi biết bao cả về tay nghề lẫn cảm xúc; những triển vọng đến thế nào, những cách nhìn tổng thể về thế giới tinh thần đến thế nào chúng đã ban tặng cho tôi, chúng đã nâng bổng tất cả chúng tôi lên biết bao nhiêu bằng một sự cất cánh đẹp lên trên nỗi sầu não và sự khốn khổ của trường học chúng tôi! "Nghệ thuật tuyệt diệu, trong nhiều giờ đen tối…" Mỗi khi vang lên khúc dân ca bất tử của Schubert, tôi hình dung ra chúng tôi, trong cách nhìn của nhà hội họa, trên những ghế bành thảm hại của nhà trường, hai vai bị đè nặng và rồi trên đường về, cái nhìn rạng rõ và sôi nổi, vừa phê phán các bài thơ, vừa học những bài khác, vừa quên đi trong mê say tất cả những câu thúc của không gian và thời gian, thực sự "được đưa đến một thế giới tốt đẹp hơn".


(còn tiếp)


Nguồn: Thế giới những ngày qua. Tự truyện của Stefan Zweig. Phùng Đệ và Trần Nam Lương dịch. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.06.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 19.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 07.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
xem thêm »