tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27840765
Tiểu thuyết
04.01.2012
Stefan Zweig
Thế giới những ngày qua

NHÀ TRƯỜNG CỦA THẾ KỶ QUA


Đương nhiên là sau những lớp tiểu học tôi phải vào trường trung học. Trong tất cả các nhà giàu người ta mong có những con trai "có học" và điều đó trước hết vì lợi ích của các quan hệ xã hội; người ta dạy chúng tiếng Pháp và tiếng Anh, người ta làm chúng quen với âm nhạc, người ta thuê các cô dạy trẻ, rồi các gia sư lo việc dạy chúng những kiểu cách tốt. Nhưng chỉ duy nhất việc đào tạo gọi là "kinh viện" mở ra trước các bạn cánh cửa trường Đại học Tổng hợp, trao tất cả giá trị của nó cho một người trẻ tuổi vào những thời kỳ của chủ nghĩa tự do "Sáng suốt" đó. Bởi vậy tất cả các gia đình danh giá đặt tham vọng của họ ở chỗ được thấy ít nhất một trong số con trai họ đạt được danh hiệu tiến sĩ. Thế mà con đường tới trường Đại học Tổng hợp đó lại khá dài và rất ít thích thú. Phải qua ghế nhà trường năm năm tiểu học và tám năm trung học với sáu giờ một ngày ở lớp, sau đó lại phải làm bài tập và hơn nữa, điều cần thiết cho trình độ học vấn phổ thông tốt, học tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Italia bên cạnh tiếng La tinh và tiếng Hy Lạp được dạy trong các lớp; tất cả năm ngôn ngữ, cộng thêm môn Hình học, môn Vật lý, và tất cả những môn học phổ thông khác. Như thế là quá nặng và hầu như không còn thời gian dành cho thể dục thể thao, các cuộc đi dạo, và nhất là những thú vui và những trò tiêu khiển. Tôi lơ mơ nhớ lại rằng ở tuổi lên bảy, người ta đã bắt chúng tôi học và hát đồng ca, một bài hát nào đó tôi không còn nhớ nói về "thời gian vui sướng, thời gian hạnh phúc của thời thơ ấu". Hòa âm của khúc hát đơn giản và hơi ngô nghê đó đã đọng lại trong tai tôi, nhưng lời hát dường như lúc ấy đã khó vượt qua môi tôi và nhất là đi vào trong trái tim tôi để sinh ra ở đó lòng tin. Nói một cách chân thật, tất cả thời gian đã qua ở nhà trường chỉ gây cho tôi sự buồn tẻ và chán nản, và nỗi buồn chán ấy cứ tăng lên năm này sang năm khác, bởi sự nóng lòng thoát khỏi cảnh khốn khổ đó. Tôi không thể hồi tưởng lại đã bao giờ "vui sướng" hay "hạnh phúc" suốt thời gian của hoạt động học đường đơn điệu làm khô khan và làm u mê đó, nó đầu độc hoàn toàn thời kỳ đẹp đẽ nhất và tự do nhất của cuộc đời chúng tôi; cũng thú thực rằng tôi không thể tự ngăn nổi mình có một chút ganh tị nào đấy, ngày hôm nay, khi tôi nhìn thấy tuổi thơ có thể phát triển trong thế kỷ này sung sướng hơn, tự do hơn và hồn nhiên hơn biết bao nhiêu. Và khi tôi nhận xét trẻ con chuyện trò phóng túng biết bao với thầy giáo của chúng mà chúng coi gần như là người ngang hàng, khi tôi thấy chúng chạy tới trường không tỏ ra có chút sợ hãi nào, trong khi bọn chúng tôi tới trường chỉ với cảm giác thường trực về sự thiếu sót của mình; khi tôi chắc chắn rằng chúng có thể thú nhận một cách ngây thơ cả ở trường và ở nhà những điều mong ước, những khuynh hướng của tâm hồn non trẻ và trí tuệ đầy tò mò của chúng, và có thể cư xử như những con người tự do, độc lập, hồn nhiên, trong khi chúng tôi vừa mới vượt ngưỡng cửa của ngôi trường đáng ghét, đã phải dường như tự khép mình để khỏi đụng trán vào với cái ách vô hình, - một sự thay đổi như thế với tôi bao giờ cũng dường như không có thực. Trường học đối với chúng tôi là sự bó buộc và sự buồn chán ủ ê nhất, một nơi ở đó chúng tôi đã được nhồi nhét "khoa học của những gì không xứng đáng được biết" chia ra từng phần, định mức một cách chính xác, các môn học hoặc được làm thành môn học, mà chúng tôi cảm thấy không có chút gì quan hệ với thực tại hoặc với những trung tâm chú ý của cá nhân chúng tôi. Đó là một việc học tập buồn tẻ và băng giá, không phải vì cuộc sống mà vì bản thân việc học tập. Và thời điểm duy nhất sung sướng một cách thực sự mà tôi chịu ơn nhà trường, đó là ngày mà tôi để nằm lại mãi mãi cổng trường phía sau tôi.


Chẳng phải là trường học Áo của chúng tôi xấu trong bản thân chúng. Ngược lại, cái mà người ta gọi là "kế hoạch học tập" đã được xây dựng một cách cẩn thận sau một thế kỷ kinh nghiệm, và nếu nó được giảng dạy cho chúng tôi theo cách thúc đẩy chúng tôi, nó đã có thể là cơ sở của một nền văn hóa có hiệu quả và khá phổ cập. Nhưng chính sự chu đáo muốn giữ một cách nghiêm ngặt kế hoạch cộng thêm những sự sơ lược hóa khô cứng làm cho những giờ trên lớp của chúng tôi trở nên những giờ buồn tẻ chết người. Việc giảng dạy hoàn toàn máy móc và không sinh khí, không bao giờ được điều chỉnh theo những khác biệt cá nhân, chỉ rõ theo cách của một máy phân phối tự động, qua những lời ghi chú "tốt, đủ, chưa đủ", mức độ chúng tôi thỏa mãn những "đòi hỏi" của kế hoạch học tập. Và chính sự thiếu tình yêu và thiện cảm nhân tính đó, cái phi cá tính lạnh lùng và chế độ trại lính đó làm ta bực tức mà ta không biết. Chúng tôi phải học và đọc các bài học của chúng tôi; suốt tám năm học trường trung học, không có giáo sư nào đã hỏi xem cá nhân chúng tôi mong muốn học cái gì, và chúng tôi bị tước đoạt những sự khích lệ hết sức bổ ích mà tất cả những người trẻ tuổi đều thầm kín khao khát.


Vẻ lạnh lùng ấy đã thể hiện trong kiến trúc nhà trường chúng tôi, một kiến trúc điển hình và vô hồn, xây cất vội vàng và rẻ tiền từ năm mươi năm trước. Với những hành lang lạnh và trát lem nhem, các phòng học thấp, không có một bảng vẽ trên tường, không một trang trí làm cho chúng tôi vui mắt, nhà xí xông hơi khắp căn nhà, cái trại lính học tập đó có cái gì của một đồ vật cũ ở khách sạn mà vô số khách vãng lai đã dùng, mà vô số người khách khác sẽ dùng với sự dửng dưng như nhau hoặc sự ghê tởm như nhau; và cho đến ngày nay tôi vẫn không thể nào quên cái mùi mốc và mùi tù hãm ấm trong căn nhà ấy cũng như trong tất cả những bàn giấy của công sở Áo mà chúng tôi gọi là mùi "quan chức", cái mùi của những căn phòng bị hun nóng quá mức, chen chúc quá mức và không thoáng khí, nó trước hết ám vào áo quần các bạn, và sau cùng ám vào tâm hồn bạn. Chúng tôi ngồi hai người một như những người tù khổ sai chèo thuyền ga-le trên ghế gỗ khá thấp, nó làm trẹo cột sống, và cứ ngồi như thế cho đến lúc thấy đau trong xương; mùa đông, những ánh sáng trần trụi của các ngọn đèn khí lay động trên những cuốn sách của chúng tôi; mùa hè, trái lại, các cửa sổ được che lại một cách cẩn thận bằng những bức mành để tránh cho những cái nhìn mơ mộng của chúng tôi khỏi thích thú ngắm khoảng trời xanh hình chữ thập nhỏ. Cái thế kỷ ấy còn chưa khám phá ra rằng những cơ thể mà sự tăng trưởng chưa hoàn chỉnh cần không khí và cử động. Mười phút ra chơi trong sân hẹp và giá lạnh được coi như đủ cho suốt bốn hay năm giờ liền bất động; hai lần mỗi tuần lễ người ta dẫn chúng tôi tới phòng thể dục; chúng tôi đi vòng tròn như những tên ngây trên sàn, ở đó, tất cả các cửa sổ đều đóng kín mít nên bước chân chúng tôi sục lên một lớp bụi mù; người ta coi như vậy là vệ sinh đã hoàn hảo, Nhà nước đã làm tròn nghĩa vụ của họ đối với chúng tôi, là đã ban cho chúng tôi "một tâm hồn lành mạnh trong một thân thể tráng kiện"( ). Rất nhiều năm sau khi chúng tôi đã ra trường, cứ mỗi lần tôi phải đi qua ngôi nhà xây buồn tẻ và hiu quạnh ấy, tôi thấy nhẹ mình khi nghĩ rằng tôi không còn phải bước chân vào trong nhà tù của tuổi thiếu niên của chúng tôi nữa, và khi, nhân dịp này, người ta tổ chức một lễ hội và với danh nghĩa là cựu học sinh xuất sắc tôi được mời đọc trước sự có mặt của vị Bộ trưởng và cử tọa bài diễn văn chính thức, tôi lễ phép từ chối cái vinh dự này. Tôi không phải biểu lộ lòng biết ơn của tôi đối với nhà trường này, và tất cả những lời mà lẽ ra tôi có thể nói theo hướng ấy sẽ chỉ là những lời nói dối.


Các thầy giáo của chúng tôi không chịu trách nhiệm về cái chế độ đáng buồn đó. Họ không hiền mà cũng không ác, họ cư xử không như bạo chúa, cũng không như người bạn có lòng cứu giúp; đó là những kẻ khốn khổ đáng thương, phải phục tùng theo sơ đồ, theo kế hoạch học tập mà các nhà cầm quyền áp đặt cho họ, và họ phải hoàn thành các "bài phạt" của họ, như chúng tôi hoàn thành các bài phạt của chúng tôi và - chúng tôi cảm thấy rất rõ - họ cũng sung sướng như chúng tôi, khi đến trưa, chuông vang trả lại tự do cho họ, cũng như cho bản thân chúng tôi. Họ không yêu chúng tôi, họ không ghét chúng tôi, và làm sao họ có thể như vậy được vì họ không biết chút gì về chúng tôi cả; họ chỉ theo tinh thần của phương pháp hồi đó, lo kê ra những lỗi mà "học trò" đã phạm trong bài tập mới đây của chúng. Họ ngồi tại bục giảng ngất nghểu trên cao, chúng tôi ở dưới thấp, họ hỏi chúng tôi, chúng tôi phải trả lời, mối quan hệ giữa chúng tôi chỉ bó hẹp ở đó. Bởi vì giữa thầy giáo và học trò, giữa bàn giảng của thầy và những ghế băng của trò, giữa trên và dưới, giữa những điều nhìn thấy rõ ràng có hàng rào vô hình của "quyền lực" nó ngăn cản mọi sự tiếp xúc. Một thầy giáo mà coi học trò như một cá thể, điều đó đòi hỏi người ta phải tìm hiểu những phẩm chất riêng biệt của nó hoặc phải soạn thảo về nó những "bản sao", nghĩa là những chân dung được dựng nên từ những nhận xét chăm chú, như ngày nay là lẽ đương nhiên, điều đó đã vượt nhiều khỏi thẩm quyền của ông; mặt khác một cuộc trao đổi riêng có thể làm tổn hại uy quyền của ông bằng cách đưa chúng tôi lên cao quá mức, bọn chúng tôi, những "học trò", lên ngang tầm với họ, "bề trên" của chúng tôi. Không có gì tỏ ra điển hình với tôi hơn về sự thiếu vắng hoàn toàn những quan hệ tinh thần giữa các thầy giáo và chúng tôi là bọn chúng tôi, trên thực tế đã quét sạch tên và mặt của họ. Tôi đã giữ lại với độ chính xác của máy ảnh quang cảnh bục giảng và sổ lớp mà chúng tôi luôn tìm cách tò mò nghé nhìn vì điểm số của chúng tôi ghi ở đó; tôi còn nhìn thấy cuốn sổ tay bỏ túi màu đỏ nơi họ ghi trước hết vị thứ của chúng tôi và chiếc bút chì đen ngắn để chép những con số; tôi còn thấy những quyển vở của chúng tôi lác đác những sửa chữa bằng mực đỏ của các thầy giáo, nhưng tôi không còn thấy một khuôn mặt nào trong số các thầy giáo cả, có lẽ bởi vì chúng tôi luôn đứng trước họ, mắt nhìn xuống, hững hờ.


*


Sự khó chịu đó của tôi đối với nhà trường không phải là của riêng cá nhân tôi, tôi không thể nhớ được người nào trong số bạn bè của tôi không cảm nhận với sự ghê tởm rằng, những niềm hiếu kỳ đáng khen nhất và những ý định tốt nhất của chúng tôi đều bị ngáng trở ức chế và gây phiền hà trong cái cối xay kỷ luật này. Nhưng mãi về sau tôi mới nhận thấy rằng cái phương pháp giáo dục không tình thương và không tâm hồn đó không thể quy cho sự trễ nải của các cấp chính quyền, mà đúng hơn nó biểu hiện khá rõ ý đồ định sẵn, dù còn được che giấu cẩn thận. Đám người đi trước chúng tôi và lúc đó chế ngự chúng tôi vì đã áp đặt mọi tư tưởng của họ theo cái bùa thiêng duy nhất được sùng bái là sự yên ổn, nên không yêu mến lớp trẻ hay chính xác hơn, luôn luôn ngờ vực nó. Tự hào về "sự tiến bộ" triệt để của mình, về trật tự của mình, xã hội tư sản tuyên bố rằng sự ôn hòa và sự yên tĩnh là những đức tính duy nhất có hiệu quả, cần phải tránh mọi hăng hái thái quá trong việc thúc đẩy chúng tôi. Nước Áo là một đế quốc già, đặt dưới quyền của một ông già, cai trị bởi những vị bộ trưởng già, một quốc gia không tham vọng, chỉ ước ao giữ mình y nguyên trong không gian châu Âu bằng cách tự bảo vệ chống mọi thay đổi căn bản. Những người trẻ tuổi vì về bản năng bao giờ mong những biến đổi nhanh chóng và sâu sắc nên được coi là phần tử đáng ngờ cần phải giữ càng lâu càng tốt ở ngoài vòng và trong một vị trí thứ yếu. Như vậy người ta không có lý do gì làm cho những năm đi học của chúng tôi được dễ chịu. Chúng tôi cần xứng đáng, trước hết bởi một sự đợi chờ kiên nhẫn, với tất cả những kiểu cất nhắc chúng tôi. Nhờ vào việc sử dụng thường xuyên cái phanh đó, những lứa tuổi khác nhau của cuộc đời mang một giá trị khác hẳn với ngày nay. Một học sinh trường trung học mười tám tuổi bị đối xử như một đứa trẻ, người ta phạt nó khi bất chợt thấy nó ngậm điếu thuốc lá trên môi, nó phải ngoan ngoãn giơ tay xin phép rời ghế ra ngoài đi vệ sinh; song một người ba chục tuổi bị coi như còn đang lệ thuộc và thậm chí ở tuổi tứ tuần chưa được xem như đủ chín chắn để giữ một chức vụ có trách nhiệm. Khi xảy ra môt ngoại lệ phi thường là ở tuổi ba tám, Gustave Mahler được phong giám đốc Nhà hát Hoàng cung, tiếng xì xào ngạc nhiên và hoảng sợ lan khắp thành Vienne: Làm sao người ta có thể phó thác học viện nghệ thuật hạng nhất của thành phố cho một người trẻ đến như vậy (Người ta quên rằng Mozart hoàn tất sự nghiệp của mình ở tuổi ba sáu, Shubert ở tuổi ba mốt). Sự thiếu lòng tin vào lớp trẻ ấy bắt gặp ở khắp các giới. Cha tôi không bao giờ thuê một người trẻ tuổi trong thương điếm của ông; và ai bất hạnh giữ một vẻ ngoài đặc biệt trẻ thì ở đâu cũng phải vượt qua sự thiếu tin tưởng mà mình gây ra. Như vậy phát sinh điều mà ngày nay gần như là không thể hiểu nổi rằng tuổi trẻ là một trở ngại trong tất cả mọi nghề nghiệp và tuổi cao là lợi thế cho những ai đạt tới lứa tuổi đó. Ngày nay, trong thế giới hoàn toàn thay đổi của chúng ta, khi mà những người trạc bốn mươi làm tất cả để tỏ ra mình đang ở tuổi ba mươi, và những người lục tuần, để giống với người bốn chục, khi mà sức trẻ, nghị lực, tính hoạt động, lòng tin ở bản thân ưu đãi và tiến cử một con người thì ở thời đại của sự bình yên đó, người nào muốn nổi lên buộc phải nhờ đến tất cả những sự cải trang có thể được để tỏ ra già hơn bản thân họ. Các báo khuyên dùng những sản phẩm làm mọc râu nhanh, những thầy thuốc trẻ hai nhăm hay ba mươi tuổi, mới thi ra trường, mang những bộ râu oai vệ và trễ mũi những bộ kính gọng vàng ngay cả khi mắt họ nhìn rất rõ, và như vậy chỉ là để làm cho khách hàng có cảm tưởng rằng họ có "kinh nghiệm". Người ta mặc những áo rơđanhgốt đen, dài khó coi, người ta mượn một dáng đi trang trọng, người ta cố đạt được vóc hơi mập, nhằm thể hiện sự chững chạc đáng mong muốn; và ai có tham vọng thì nỗ lực từ giã cái tuổi trẻ bị nghi là nhẹ dạ, ít ra là ở vẻ bề ngoài; đang học lớp sáu hay lớp bảy, chúng tôi đã từ chối mang túi học sinh để không ai biết mình là học sinh trung học và chúng tôi thay túi bằng những chiếc cặp. Tất cả những gì ngày nay đối với chúng ta tỏ ra là những đức tính đáng thèm muốn, sự tươi mát, ý thức về giá trị của mình, sự táo bạo, trí tò mò, niềm vui sống riêng của tuổi trẻ thì thời đó tỏ ra đáng ngờ, vì thời đó chỉ có ý thức về sự "vững chắc".


Chỉ riêng cái đầu óc dị kì đó đã giải thích rằng Nhà nước làm cho nhà trường trở thành một phương tiện củng cố và giữ vững uy quyền của mình. Nền giáo dục của chúng tôi phải hướng tới trước hết việc truyền cho chúng tôi sự kính trọng trật tự hiện có, coi như nền trật tự hoàn hảo nhất, sự kính trọng ý kiến của thầy giáo như là không thể sai lầm, lời nói của các ông bố như là không thể chối cãi, và những thiết chế của Nhà nước như có một giá trị tuyệt đối và vĩnh cửu. Một phương ngôn cơ bản thứ hai của nền sư phạm đó mà người ta cũng áp dụng trong gia đình, là những người trẻ tuổi không nên có cuộc sống quá dễ dàng. Trước khi người ta cho chúng những quyền, chúng phải biết rằng chúng có những nghĩa vụ và trước hết nghĩa vụ phải vâng lời thụ động. Ngay từ đầu người ta định khắc sâu vào chúng tôi cái nguyên tắc là, chúng tôi những người chưa hề làm gì và hoàn toàn còn thiếu kinh nghiệm, chúng tôi chỉ cần biết ơn về tất cả những gì mà người ta ban cho chúng tôi và không được có tham vọng yêu cầu hoặc đòi hỏi bất cứ gì. Ngay khi còn trẻ thơ, người ta đã áp dụng, vào thời tôi, một phương pháp đe dọa vô lý. Những cô hầu gái và những bà mẹ ngu ngốc làm trẻ em ba hay bốn tuổi sợ bằng cách dọa dẫn chúng đi gặp "cảnh sát" nếu chúng không ngồi yên. Và khi học trung học, mỗi khi chúng tôi bị một điểm xấu về môn học phụ nào đó, người ta dọa là rút chúng tôi khỏi trường và bắt chúng tôi học một nghề lao động chân tay, sự hăm dọa tồi tệ nhất mà người ta có thể thực hiện trong xã hội tư sản: dọa một sự phế truất, một sự quay về với tầng lớp vô sản. Và khi bọn trẻ phấn khích vì một ham thích hiểu biết chân thực, tìm đến người lớn để được soi sáng những vấn đề thời sự trọng yếu, người ta hắt hủi chúng bằng lời tuyên bố cao ngạo này: "Mày chưa đến tuổi hiểu được những chuyện đó". Người ta dùng cái mẹo này ở khắp nơi, ở nhà, ở trường và trong Nhà nước. Người ta không mệt mỏi nhắc đi nhắc lại với người trẻ tuổi rằng họ còn chưa "chín chắn", chưa hiểu gì hết, rằng họ chỉ phải ngoan ngoãn vâng lời, đừng có xen vào câu chuyện trao đổi hay cãi lại. Thuận theo cùng một nguyên tắc ấy, cái vị giáo sư khốn khổ, ngồi tại bục giảng của mình phải là một cái gốc không thể tiếp cận và thu gọn tất cả những khao khát của chúng tôi và sự nhạy cảm của chúng tôi vào cái khuôn của kế hoạch học tập. Người ta không băn khoăn gì là ở nhà trường chúng tôi  có cảm thấy dễ chịu hay không. Sứ mệnh thực sự của họ trong suy nghĩ của thời đó không phải là làm cho chúng tôi tiến bộ mà kìm chúng tôi lại; không phải là đào tạo chúng tôi từ bên trong mà là làm chúng tôi thích nghi đến mức tối đa không kháng nghị với cái trật tự được lập sẵn, không phải là phát triển những năng lực của chúng tôi mà là đưa những năng lực đó vào kỷ cương và san bằng chúng.


Một chế độ áp bức tâm lý học như vậy (hoặc đúng hơn phản tâm lý học) đối với tuổi trẻ có thể có hai hiệu quả trái ngược nhau: nó có thể làm tê liệt hay ngược lại, khuấy động. Cái phương pháp giáo dục phi lý đó đã phát triển bao nhiêu là "mặc cảm tự ti", người ta có thể thấy được bằng cách đọc những bản ghi của các nhà phân tâm học; có lẽ không phải ngẫu nhiên mà cái mặc cảm đó lại bị chính những người mà bản thân họ đã qua trường học cũ của nước Áo tố cáo. Về phần tôi, nhờ ở sự áp bức đó mà tôi có một niềm say mê tự do, nó bộc lộ sớm và ở mức mà lớp thanh niên ngày nay không còn cảm nhận với cùng cường độ mãnh liệt, thêm nữa một lòng thù hận những kiểu cách hống hách và cái giọng kiêu kỳ, nó theo đuổi suốt cả cuộc đời tôi. Trong nhiều năm sự ghê tởm đối với tất cả những gì là giáo điều và độc đoán là thuần túy bản năng ở trong tôi, và tôi đã quên nguồn gốc từ đâu. Nhưng rồi một hôm trong một chuyến đi diễn thuyết, khi tôi chọn giảng đường lớn của Trường Đại học quốc gia và khi bỗng nhiên tôi phát hiện rằng bản thân mình sắp nói từ trên cao nơi bục giảng, trong lúc các thính giả của tôi ngồi bên dưới ở ghế dài, y như học sinh chúng tôi ngày xưa, và rất im lặng không dám nói năng hoặc phản đối, bất chợt tôi cảm thấy khó chịu. Tôi hồi tưởng lại mình đã chịu đựng biết bao đau khổ suốt những năm học ở trường vì cái giọng độc đoán nặng nề và ra vẻ đạo mạo này, cái giọng không có tình thân mật, và tôi thấy sợ rằng từ trên cao nơi bục giảng mình cũng gây nên một cảm tưởng vô nhân cách như ngày xưa các thầy giáo đã mang đến cho chúng tôi. Sự khó chịu của tôi đã khiến cho cuộc diễn thuyết ấy trở thành cuộc dở nhất mà tôi đã tiến hành trong đời tôi.


*


Cho đến tuổi mười bốn hoặc mười lăm chung tôi còn thích ứng khá tố với nhà trường. Chúng tôi đùa cợt về các giáo sư của mình, chúng tôi học các bài học với một sự tò mò lạnh lùng. Rồi đến thời kỳ mà nhà trường chỉ làm chúng tôi buồn chán và bối rối. Một hiện tượng đáng chú ý đã xảy ra mà chúng tôi không biết, năm mười tuổi vào trường trung học, chúng tôi đã đi trước nhà trường về mặt trí tuệ suốt bốn năm đầu trong số tám năm học ở đây. Chúng tôi cảm thấy một cách vô thức rằng nhà trường không còn có thể dạy chúng tôi điều gì là thiết yếu cả, và ở nhiều môn học mà chúng tôi quan tâm, chúng tôi biết nhiều hơn các giáo sư tội nghiệp của chúng tôi; họ là những người từ những năm còn đi học chưa hề bao giờ giở đến một quyển sách thuần túy vì ý thích cá nhân. Một điều trái ngược khác ngày càng bộc lỏox hơn: trên những ghế băng mài mòn đũng quần của chúng tôi, chúng tôi không nghe thấy chút gì mới, ít ra là không chút gì với chúng tôi có vẻ đáng học, trong khi ở bên ngoài trải ra một thành phố cung cấp cho chúng tôi cơ man nào là gợi ý, một thành phố với các nhà hát, các nhà bảo tàng, các hiệu sách, các trường đại học, âm nhạc của nó, và ở đó mỗi ngày mang đến những bất ngờ mới mẻ. Vậy là lòng mến yêu tri thức bị dồn nén của chúng tôi, sự hiếu kỳ về trí tuệ và nghệ thuật của chúng tôi, nỗi khát khao hưởng thụ của chúng tôi, không tìm thấy nguồn thức ăn ở nhà trường, đã cuồng nhiệt lao ra đón nhận tất cả những gì xảy ra ngoài nhà trường. Thoạt đầu chúng tôi chỉ là hai hoặc ba người khám phá ra ở mình sự quan tâm đối với nghệ thuật, âm nhạc, văn học, chẳng bao lâu có tới mươi mười lăm người và cuối cùng hầu như tất cả đều chịu sự lây lan.


Bởi vì lòng nhiệt tình như là một bệnh truyền nhiễm ở những người trẻ tuổi. Nó truyền từ người này sang người khác trong một tầng lớp học như bệnh sởi hay bệnh phát ban, trong khi những đứa mới theo, với tính kiêu ngạo và tính khoe khoang trẻ con của chúng, tìm cách vượt lên nhanh nhất bằng sự hiểu biết của chúng, bao giờ chúng cũng tiến lên xa hơn; chiều hướng riêng và sự mê say mà chúng lao theo thường chỉ là hiệu quả của sự tình cờ; nếu trong một lớp học có một anh chàng sưu tập tem thư, sẽ có ngay một tá chàng điên bắt chước; nếu có ba người trong bọn họ bị các kỹ nữ làm cho mê hòn, tất cả số còn lại đến đứng trước lối vào cửa của các nghệ sĩ nhà hát. Một lớp dưới cách bọn tôi ba năm phát điên lên vì bóng đá, một trong những lớp trên của tôi nhiệt thành với chủ nghĩa xã hội và Tonxtôi. Việc tôi nằm trong số những người bạn cuồng nhiệt với nghệ thuật có lẽ quyết định toàn bộ sự nghiệp đời tôi.


Từ đó, cái thị hiếu về sân khấu, về văn học và nghệ thuật là rất tự nhiên ở Vienne. Tại đây, các báo dành một vị trí quan trọng cho việc giới thiệu các hoạt động văn hóa, đi đến chỗ nào người ta cũng nghe thấy xung quanh mình những người đứng tuổi bàn luận về Opéra hay về Nhà hát Thành phố, ở tất cả các cửa hàng văn hóa phẩm chân dung các diễn viên lớn được trưng bày trong các tủ kính; thể thao còn được coi là một môn luyện tập thô bạo mà học sinh trung học lấy làm xấu hổ, còn chiếu bóng, lý tưởng của đông đảo quần chúng chưa được phát minh. Chúng tôi không phải lo sợ về sự chống đối của các bậc cha mẹ: sân khấu và văn học được tính trong số những niềm say mê lành mạnh, ngược hẳn với đánh bạc và tình yêu chốc lát. Và dẫu sao cha tôi cũng như tất cả những người cha ở Vienne, hồi trẻ tuổi bản thân ông cũng mê xem hát và ông đã dự buổi diễn Lohengrin dưới sự điều khiển của Richard Wagner nới cùng lòng nhiệt thành mà chúng tôi mang trong mình trong những buổi diễn đầu của Richard Straus và Gerhart Hauptman. Bởi vì tất nhiên bọn học sinh trung học chúng tôi, chúng tôi chết bẹp ở những buổi diễn đầu tiên; chúng tôi sẽ đỏ mặt vì xấu hổ trước bọn bạn được ưu đãi hơn nếu như ngày hôm sau ở trường chúng tôi không thể trình bày được mọi chi tiết của buổi công diễn! Nếu các giáo sư của chúng tôi không dửng dưng về mọi sự, họ đã có thể ngạc nhiên về sự việc là tất cả những buổi chiều trước một cuộc biểu diễn lớn - ở đó chúng tôi phải xếp hàng suốt ba giờ đồng hồ để giành những chỗ đứng là những chỗ duy nhất hợp với bọn chúng tôi - hai phần ba số học sinh lăn ra ốm một cách bí hiểm. Với một chút chú ý họ cũng có thể khám phá rằng chúng tôi đã luồn những bài thơ của Rilke dưới tờ bìa của sách ngữ pháp La tinh và chúng tôi dùng vở toán để chép vào đó những vần thơ đẹp mà chúng tôi tìm được trong những cuốn sách mượn. Hàng ngày chúng tôi phát minh ra những mưu mẹo mới để dành những giờ buồn chán trong lớp cho việc đọc sách; trong khi thầy giáo tuôn ra bài giảng lặp đi lặp lại hai chục lần về "thi ca chất phác và đa cảm" của Schiller, chúng tôi đọc dưới gầm bàn Nietzsche và Strindberg mà ông già đôn hậu chưa bao giờ được nghe nhắc đến tên của họ. Lòng ham biết tất cả những gì xảy ra trong mọi lãnh vực của nghệ thuật và khoa học đã lan đến chúng tôi như một cơn sốt; chúng tôi chen chúc cùng một số sinh viên đại học để dự bài giảng vào các buổi  chiều, chúng tôi vào các giảng đường giải phẫu học để xem mổ xẻ. Chúng tôi thò mũi vào khắp nơi với một sự tò mò thèm khát. Chúng tôi luồn vào các buổi tổng duyệt của Ban nhạc dây, chúng tôi lục lọi quầy những người bán đồ cổ, ngày nào chúng tôi cũng kiểm tra tủ kính các hiệu sách để được là người đầu tiên biết những gì mới xuất bản hôm qua. Và trước hết chúng tôi đọc, đọc tất cả những gì rơi vào tay chúng tôi. Chúng tôi mượn sách ở tất cả các thư viện công cộng, cho nhau mượn tất cả những gì chúng tôi có. Nhưng nơi học hỏi được nhiều nhất những điều mới mẻ là các quán cà phê.


Để hiểu được điều đó, cần biết rằng ở Vienne những quán cà phê tạo nên một tổ chức đặc biệt, không thể so sánh với bất cứ tổ chức nào khác trên toàn thế giới. Đó là những loại câu lạc bộ dân chủ mà mọi người đều có thể đến với cái giá ít ỏi của một tách cà phê và ở đó mỗi người khách có thể ở lại trong nhiều giờ, thảo luận, chơi bài, nhận thư từ và nhất là ngấu nghiến nội dung của vô số các báo và tạp chí. Trong một tiệm cà phê tốt, người ta tìm thấy tất cả các báo của Vienne, và không phải chỉ riêng báo chí của Vienne, mà là báo của toàn bộ đế chế Đức, của Pháp, Anh, Italia và Mỹ, và hơn nữa tất cả những tạp chí nghệ thuật và văn học quan trọng nhất của toàn thế giới, tờ Le Mercure de France, cũng như tờ Neue Rundschau, tờ Studio và tờ Burlington Magazine. Như vậy là chúng tôi biết tất cả những gì đã xảy ra trên thế giới và biết đầu tiên, chúng tôi được nắm tin về tất cả các sách xuất bản, về tất cả những buổi biểu diễn dù ở nơi nào và chúng tôi so sánh những bài phê bình trên các báo; không gì có thể góp phần tốt hơn vào sự uyển chuyển của trí tuệ và khuynh hướng quốc tế của người Áo bằng việc họ dễ dàng sưu tầm được nhiều tư liệu ở quán cà phê về tất cả những sự kiện quốc tế và tranh luận về những vấn đề đó trong một nhóm bạn bè. Hàng ngày chúng tôi sống ở đó nhiều giờ và không điều gì có thể qua mắt chúng tôi. Nhờ có sự thống nhất về lợi ích ấy, chúng tôi theo dõi l'orbis pictus (tâm điểm) của những sự kiện nghệ thuật không phải với một cặp mắt mà với mười hay hai mươi cặp mắt. Điều mà một người bỏ qua người khác để ý đến nó hộ anh anh, và vì, với lòng tự hào trai trẻ và tinh thần ganh đua gần như trong thể thao của chúng tôi, chúng tôi không ngừng tìm cách người này thắng người khác trong sự hiểu biết những điều mới mẻ nhất, thế là chúng tôi ở trong trạng thái ghen tuông thường trực đối với người nào có thể gây được chuyện giật gân, chẳng hạn khi chúng tôi tranh luận về Nietzsche lúc ông còn bị bêu riếu, bỗng một ai đó trong chúng tôi tuyên bố với một vẻ kẻ cả khéo giả bộ: "Nhưng về quan điểm tự ngã, Kierkegaard trội hơn ông ta", thế là lập tức chúng tôi băn khoăn: "Ai là cái ông Kierkegaard mà hắn biết, còn chúng mình thì không?". Ngày hôm sau chúng tôi vội vã đi thư viện để moi những tác phẩm của nhà triết học Đan Mạch bị quên lãng ấy, bởi chúng tôi cảm thấy như một sự nhục nhã việc không biết một điều gì hiếm và lạ mà một người khác biết, và chính cái nóng hổi nhất, mới nhất, kì cục nhất, phi thường nhất, điều chưa có ai trình bày, nhất là điều mà sự phê bình chính thức của những tờ nhật báo đáng kính của chúng tôi chưa đụng tới. Sự khám phá, niềm vui tiến trước người khác là nỗi say mê của chúng tôi (vì nỗi say mê đó, bản thân tôi còn hy sinh suốt nhiều năm). Chúng tôi cần phải biết những gì còn chưa được thừa nhận, nói chung những gì khó hiểu, hiểm trở, khác thường và triệt để được sự tán thành của tất cả chúng tôi; vì vậy mà không gì được giấu thật là kín, không gì thật là ít ở trong tầm nhìn của chúng tôi mà rút cuộc sự tò mò tập thể và cạnh tranh của chúng tôi không lôi nó ra từ nơi ẩn giấu. Ví dụ như Stefan George hay Rilke chỉ được xuất bản với số lượng hai hoặc ba trăm bản trong suốt những năm chúng tôi ở trung học, trong số ấy nhiều nhất là ba hay bốn bản đã tìm được đường tới Vienne, không có hiệu sách nào bày bán những tác phẩm này, không một nhà phê bình chính thức nào nhắc đến tên Rilke. Vậy mà nhóm chúng tôi, do một phép lạ của ý chí đã thuộc từng câu thơ và từng dòng chữ của tác phẩm ấy. Chúng tôi, những chú nhóc chưa mọc râu và đang sức lớn, ngày ngày ngồi trên ghế nhà trường, chúng tôi thực sự tạo thành cái công chúng lý tưởng mà một thi sĩ trẻ có thể mơ ước, một công chúng háo hức, nhạy cảm và hứng khởi mau lẹ. Bởi vì lòng tôn sùng của chúng tôi là vô bờ bến; suốt những giờ học, trên đường đi học, ở tiệm cà phê, ở nhà hát, trong những lúc dạo chơi, chúng tôi không làm gì khác trong nhiều năm ngoài việc tranh luận về sách, về tranh, về nhạc, về triết học, ai biểu diễn trước công chúng với tư cách diễn viên hay nhạc trưởng, ai đã xuất bản một cuốn sách hay viết bài trên các báo là một ngôi sao trên bầu trời của chúng tôi. Nhiều năm về sau, tôi rùng mình khi tìm thấy trong truyện Balzac kể về thời ông còn trẻ, có câu: "Những người nổi tiếng đối với tôi như những vị thần không nói, không đi, không ăn như những con người khác". Chính xác đó là những gì chúng tôi đã cảm thấy. Việc được gặp Gustave Mahler ngoài đường phố trở thành một sự kiện mà người ta kể lại ngày hôm sau cho bạn bè nghe như một chiến tích cá nhân, và một hôm tôi được giới thiệu với Johannes Brahms và ông ta vỗ vai tôi thân mật, trong nhiều ngày tôi vẫn ngỡ ngàng vì sự kiện thần kỳ đó. Mới mười hai tuổi đầu, tôi chưa biết thật chính xác những gì Brahms đã tạo ra, nhưng chỉ riêng thực tế về sự nổi danh của ông, vầng hào quang bao quanh một nhà sáng tạo lớn đã khiến tôi ngây ngất. Buổi ra mắt đầu tiên của Gerhart Hauptmann ở Nhà hát Thành phố gây náo động trong lớp học chúng tôi hàng tuần trước khi bắt đầu những buổi tổng duyệt; chúng tôi sán lại gần các diễn viên hoặc những người đóng vai phụ bé nhỏ để được là những người đầu tiên (!) được biết sự chỉ huy dàn cảnh và phân vai như thế nào; chúng tôi đến cắt tóc tại hiệu người thợ cạo của Nhà hát Hoàng cung (tôi không sợ kể lại cả những điều ngốc nghếch của chúng tôi) để nhờ đó nắm được những điều bí mật về Wolter hay về Sonnenthal, và bọn tôi đã làm hư đi vì nuông chiều và chăm sóc một em học sinh lớp dưới chỉ vì nó là cháu người kiểm soát việc chiếu sáng của Nhà hát nhạc kịch và vì, qua trung gian của nó, chúng tôi đôi khi có thể lọt lậu vào sân khấu trong suốt những buổi tổng duyệt, cái sân khấu mà chúng tôi đã đến đó với cái rùng mình nó xâm chiếm Virgile khi chàng ta lên các tầng thiêng liêng của Thiên đường; sức mạnh tỏa sáng của sự nổi tiếng đối với chúng tôi mạnh đến mức mà dù đã suy giảm qua bảy bước trung gian, nó vẫn còn buộc được chúng tôi sùng kính: một bà già tội nghiệp được chúng tôi coi như một con người siêu nhiên vì bà ta là cháu họ của Franz Schubert, và chúng tôi dõi nhìn với sự kính trọng người hầu phòng của Joseph Kainz khi ông ta đi qua ngoài đường phố, bởi vì ông ta có cái đặc ân được đến gần người sáng giá nhất và tài năng nhất trong các diễn viên.


(còn tiếp)


Nguồn: Thế giới những ngày qua. Tự truyện của Stefan Zweig. Phùng Đệ và Trần Nam Lương dịch. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đất thức - Trương Thị Thương Huyền 27.06.2019
Ma rừng - Phùng Phương Quý 25.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 24.06.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 22.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.06.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
xem thêm »