tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30545539
Truyện ngắn
03.01.2012
Ngọc Giao
Chú Hai Huấn

Tôi sinh ra ở một mạn cửa sông rộng mờ mịt, vào những ngày xấu trời mà nhìn sang bên kia dù có căng mắt cũng chẳng thấy bến bờ. Thày tôi bảo bờ bên kia đã là đất mấy huyện của Hải Phòng rồi. Cách nhà tôi không xa có một khu rừng và một rặng núi đá. Dạo ở ta chưa có phà chạy sông, cái thị trấn Quảng Yên heo hút buồn tênh này đã có một bến đò rồi. Quanh năm, chỉ thấy lèo tèo dăm con đò buông chèo, neo bến; dù những khi không có khách qua sông hay những buổi bến đông người thì vẫn chỉ ngần ấy con đò. Khách quá giang quen gọi bến ấy là bến đò Rừng. Dọc theo con đường lát đá gập ghềnh từ bến đò dẫn lên núi, nơi có những bức tường xây bằng đá hộc mầu xanh xám và mấy cái lô cốt mốc đen, khách lạ chỉ nom thấy hai bên đường lèo tèo vài mươi ngôi nhà, cả mái ngói lẫn mái gianh, dân cư thưa thớt, lành hiền. Nhà tôi là một ngôi nhà cổ hai tầng nằm ngay sát chân núi, trước kia vợ chồng người Tây đồn ở, rồi qua bao nhiêu gia đình khác, nay đến gia đình tôi. Đứng trên bao lan gác, có thể trông bao quát cả một dải cát vàng lượn nhấp nhô nơi triền sông. Đứng trong cửa sổ buồng thày tôi, có thể nghe tiếng chim và tiếng ngàn thông lao xao trên sườn núi, ngắm nhìn những lớp mây sớm chiều bao phủ trên ngọn núi đá cây cỏ mọc um tùm.


Gia đình tôi thưa người, chỉ có năm mái đầu. Thày tôi làm thư ký kế toán cho một sở mỏ than đá ; sáng sớm đi làm tối mịt mới về, vì sở cách xa nhà những năm cây số. Thày tôi quê phủ Thuận Thành, miền Kinh Bắc. Thày quyến luyến quê nhà lắm, cứ mỗi lần thắp nhang cúng tổ tiên trên bàn thờ xong, tôi thấy người lại vọng về hướng quê nhà mà lạy. Có lần tôi bắt gặp thày từ dưới bến đò Rừng đi lên bờ sông dốc sau khi thăm quê cha đất tổ trở về. Thày đứng lại hồi lâu nhìn sang bờ bên kia, như còn cố vọng về nẻo cố hương Kinh Bắc xa vời vợi. Mẹ tôi là một người đàn bà xứ Huế, mới bắt đầu làm quen đất Bắc, ít cười ít nói, lúc nào cũng như thẫn thờ tiếc nhớ một cái gì xa xôi. Mẹ lấy việc chăn tằm, hái dâu, may vá làm khuây khỏa, đó là một người đàn bà hiền đức được thày quý mến vô cùng. Tôi thì đang học lớp ba ở một trường công. Chị tôi giúp mẹ việc hái lá dâu, bếp núc. Người đày tớ già tên Bồng. Lão chuyên việc dẫy cỏ khu vườn sắn, chăm nom đàn gà và mấy con dê sữa. Bảo việc chăm nom đàn gà và mấy con dê sữa là việc của lão Bồng, nhưng thực ra tôi cứ hay lanh chanh giữ việc ấy để tỏ với thày mẹ rằng tôi cũng hay làm, được việc lắm đây, chứ có "dài lưng tốn vải" như mẹ tôi vẫn mắng yêu đâu. Đàn gà dễ thương quá đi mất. Đàn gà con mới nở, tròn và trắng như những nắm bông, cung cúc xúm quanh đuôi mẹ rúc trong vườn sắn, kêu chiêm chiếp đến vui tai. Ba con dê sữa lúc nào bầu vú cũng căng, cứ thấy tôi cắp sách về là be be rối rít đòi tôi đưa lên núi, vì cỏ trên núi mát và thơm ngon hơn cỏ vườn nhà. Mọi sớm, trời chưa sáng tỏ, dê đã quen nếp kêu ở chuồng để đánh thức lão Bồng. Lão lom khom xách cây đèn gió qua sân. Ngọn lửa đỏ quạch nơi tay lão chao đi chao lại, chập chờn trong bóng tối. Giờ ấy, quen lệ, tôi cũng đã dậy thắp cây đèn dầu hoa kỳ học bài rồi. Tôi lò dò ra sân, theo lão Bồng vào chuồng dê vắt sữa. Sữa vừa vắt ra còn nóng hổi, lão lọc cẩn thận, pha đường quấy cho tôi uống ngay lúc đó. Tôi vốn khỏe mạnh, nhưng lão cứ hay ép tôi uống tẩm bổ hoài. Giữa người đày tớ già trung nghĩa ấy với tôi có một tình yêu thương mà sau này lớn lên, lúc nào tôi cũng nghĩ đến.


Câu chuyện những ngày xưa, bấm đốt ngón tay đã ngoài hai mươi năm rồi, bây giờ cầm bút kể cùng các bạn nhỏ thân mến của tôi, tôi thực thấy lòng nao nao như thương, như nhớ một điều gì quý giá lắm của một thời ấu thơ.


I


Mùa đông. Mùa đông ở đây có tiếng gió núi, tiếng thông reo, cả tiếng sóng cuồn cuộn nơi cửa sông rộng lớn đổ ra biển Đông ì ầm suốt đêm ngày.


Buổi tối ấy, mẹ và chị tôi đang bận việc làm cơm. Tôi đang làm bài. Thày tôi mới ở sở về đang ngồi bên cạnh hỏa lò than đỏ rực sưởi tay và sắp nướng sò huyết uống rượu thì chợt lão Bồng bước vào báo tin có một ông khách lạ đến nhà. Thày đứng ngay dậy, cầm cây đèn dầu hoả ra cửa. Chưa bước xuống thềm, thày đã nghe thấy một giọng khàn khàn reo lên:


- Tôi, Hai Huấn đây! Lâu lắm mới lại được gặp bác. Ôi chào, rét quá. Đồng chua, nước mặn, rét chết người.


Cây đèn dầu ở tay thày giơ cao hơn để soi rõ mặt ông khách vừa reo đó. Thày mừng rỡ nắm lấy tay khách.


- Chú Hai! Thực là một sự ngạc nhiên tốt đẹp! Mời chú vào - đoạn thày  sai hai chị em tôi -  Cái Châu đâu rồi, con ra xách va ly vào hầu chú. Còn thằng Ngọc, đỡ ô cho chú, nghe !


          Tôi nhảy tót xuống đất chạy ra chào, đỡ lấy cái ô đen. Tay tôi chạm vào hai bàn tay lạnh buốt của chú, ngay đến chiếc ô cũng lạnh ngắt. Chị Châu ì ạch lôi cái valy da cũ kỹ vào nhà. Mẹ khép nép đứng sang bên cánh cửa, cúi chào chú Hai. Chú nhìn chúng tôi vui vẻ nói:


- Thực là hạnh phúc, các cháu lớn cả rồi - Chú xoa đầu tôi - Nhất là thằng Ngọc, nó lớn như thổi. Chú đoán cháu mười hai, có đúng không nào?


Tôi chưa kịp đáp, thày đã đỡ lời:


- Đúng tuổi cháu. Thế còn…


Nhưng thày vội ngừng lời. Bàn tay chú ở trên đầu tôi buông thõng. Chú để rơi mình xuống ghế, mặt không vui nữa. Thày bối rối ngượng nghịu. May, mẹ vừa kịp pha xong trà. Thày rót mời chú.


- Chú xơi trà cho ấm bụng, rồi ta uống rượu. Hơn mười năm nay anh em mình mới lại được gặp nhau, thực không gì cho tôi vui sướng bằng. Chú phải ở chơi đây với chúng tôi ít ra là vài tháng.


Chú Hai lại tươi cười:


- Vài tháng ít quá. Phải một năm. Tôi tự do như con chim, ở đâu cũng là nhà. Tôi một thân một mình, bác cho tôi tìm cái thú đoàn viên trong gia đình bác… Vâng, giờ tôi một thân một mình, hai bác ạ. Không có gia đình, như cái cây không rễ, rất buồn.


Giọng chú trầm xuống như một tiếng chuông tắt hết hồi. Mẹ nhìn chú bằng đôi mắt ái ngại, thương xót. Thày nắm lấy hai bàn tay chú mà an ủi.


- Thì đây là gia đình chung của anh em mình chứ sao. Chú đừng nghĩ ngợi gì nữa. Thôi, ta uống rượu.


Chị Châu bưng mâm ra. Trong bữa cơm, tôi quên cả ăn vì mải ngắm chú, người khách đến gia đình tôi tình cờ như một cơn gió.


Chú Hai uống ít rượu cũng như thày tôi vậy. Chú bảo chú ghét rượu, chỉ ao ước được trẻ và khỏe luôn để đi chơi đó đây. Mỗi lần nhắp một tí rượu là chú nheo nheo đôi mắt sâu, khiến những nếp da trên khuôn mặt sạm đen dãi dầu thêm nhăn nheo. Bàn tay xương xẩu của chú luôn luôn đưa chiếc mùi xoa trắng lên lau bộ râu mép mọc như cái dấu mũ. Chú nới khuy cổ sơ mi, lộ rõ cục tròn tròn ở cái cổ bé ngẳng, mỗi lần nuốt đồ ăn lại co lên hạ xuống. Chú mặc bộ tây dạ đen cũ, vá hai ba chỗ. Nhưng tôi biết ngay chú cẩn thận sạch sẽ, vì chú có ý giữ cho khỏi một giọt rượu rớt vào. Cổ và tay áo sơ mi rất sạch, cho đến cả đôi giầy tây đen đã mòn gần hết gót mà một lúc sau chú đã bảo chị Châu kiếm đưa chú miếng giẻ để chú lau cho bóng. Chú gầy khẳng khiu, lại gù lưng nữa, lúc đi đi lại lại quanh nhà nom chú như một cái liềm gặt lúa.


Đang xỉa răng, chú nắm cánh tay tôi kéo lại.


- Ồ! bắp thịt cháu tôi rắn chắc. Hẳn nghịch lắm.


Rồi chú ẵm tôi đặt lên đầu gối.


- Đừng sợ chú nhé. Tuy chú xấu xí, dữ tợn thế này, nhưng rất yêu trẻ con.


Thú thực rằng, từ nãy tôi chưa có chút cảm tình gì với ông khách mà mặt mũi thân hình như con cú vọ đó. Sự giữ gìn quần áo, mà chỉ là bộ tây may bằng thứ dạ cà tèng đã vá víu nhiều chỗ, khiến tôi dẫu bé nhưng cũng ranh mãnh nghĩ rằng đó là một người keo kiệt, khó tính khó nết. Thì vẫn vậy! Trẻ con vốn giống lũ chó mèo và bọn đày tớ trong nhà, chỉ quen xét người bằng cái mẽ bề ngoài. Thế mà bây giờ chú âu yếm tôi như âu yếm một con mèo, và nhấc tôi lên đùi như cầm một cái lông chim. Chú gầy lẳng khẳng thế mà khỏe gớm!


Chú vuốt đầu tôi, nói nho nhỏ như nói với ai:


- Tóc đen óng như lụa… Ta rất thích vuốt tóc trẻ… Như thế để nhớ lại ngày nào… Ta có… À, ta có biết một đứa trẻ tóc đen óng như tóc cháu - bỗng chú vỗ mạnh vai tôi - Cháu có biết nó không nhỉ? - giọng chú run run - Không, cháu chưa thấy nó lần nào. Trước kia ta vẫn ẵm đứa trẻ ấy lên đùi như thế này… Ta kể chuyện cổ tích cho nó nghe… Ồ, thằng bé hay cười quá, chuyện gì cũng làm cho nó cười như nắc nẻ. Đến tận bây giờ, trong tai ta lúc nào cũng còn văng vẳng cái tiếng cười giòn giã, trong trẻo của nó. Úi chao, thế mà… tội nghiệp.


Chú nhìn đăm đăm vào những hòn than hồng đang vạc dần trong chiếc hỏa lò đặt dưới chân để sưởi ấm. Một phút lặng lẽ. Tiếng sóng ì ầm và tiếng thông reo rì rào đằng xa vẳng lại. Một giọt nước nóng hôi hổi rơi xuống bàn tay tôi. "Chú Hai khóc. Tại làm sao thế?". Tôi nghĩ vậy, và chỉ một mình tôi biết. Vừa lúc ấy thày ở trên gác xuống, tay cầm cây đèn:


- Thôi, mời chú lên gác nghỉ. Chú đi đường xa hẳn mệt. Tôi đã bảo dọn chú một buồng.


Chú Hai ngẩng lên cười, cảm ơn sự săn sóc của thày mẹ tôi, rồi lên gác. Tiếng giầy chú bước nặng nề trên những bậc thang cũ mọt, kêu cót két.


II


Chú Hai ở với gia đình tôi thấm thoát đã ba tháng. Chú tỏ ý sung sướng được sống ấm áp giữa chúng tôi.


Buồng của chú trên gác, phía trước trông ra bến đò Rừng rộng hút tầm mắt, phía sau ngoảnh ra núi. Chú thích căn buồng ấy lắm. Có một khuôn cửa sổ vỡ kính, một hôm mẹ sai chị Châu lên căng tấm vải che tạm. Chú ngăn lại, bảo:


- Không cần che kín, cháu ạ. Lúc nào chú cũng muốn được trông ra ngoài trời. Ngoài cửa sổ đã có một cây nhãn, cành lá um tùm đủ làm một tấm màn đẹp.


Chú chu đáo quá, lại xin đỡ thày mẹ tôi tiền cơm hàng tháng. Thày mẹ tôi từ chối thế nào chú cũng không nghe. Chú hay hoạt động, sáng dậy giúp lão Bồng buộc bờ rào, đào sắn, hoặc giúp mẹ tôi và chị Châu hái lá dâu, chăn cho tằm ăn. Tối, chú đỡ thày làm sổ sách, có khi đến khuya. Chú giỏi chữ Tây, giỏi kế toán. Vào những đêm thức khuya, mẹ và chị Châu ngồi quay tơ, ngay từ chập tối mẹ không quên nấu một nồi cháo gà, cả nhà ăn uống, chuyện trò vui vẻ.


Một điều khiến mọi người lưu ý là sáng nào chú cũng ra một chỗ vắng vẻ nơi bãi sông đứng. Chú bảo tôi rằng chú yêu những cánh buồm và thích để cho sóng cuốn giạt vào bàn chân. Ở bãi sông về, chú lên gác, đóng chặt cửa lại. Mùi khói thuốc lá ở cái tẩu đen bóng lọt qua khe cửa, bay ra ngoài. Thì ra chú ngồi trong đó để hút thuốc lá, ngả người ra lưng ghế, mắt đăm đăm nhìn ra ngoài núi hàng giờ không nhúc nhích. Thực là một người kỳ dị. Mẹ, một lần nói nhỏ với chúng tôi:


- Tội nghiệp, chú ấy vẫn chưa nguôi được nỗi buồn. Thày kể rằng trước kia chú giàu có, thím mất đi, chú ở với một đứa con trai. Đứa con trai đã mười ba tuổi, tên là Lê. Hai cha con quý nhau như vàng. Một hôm chú đi lên một vùng mạn ngược săn, cho cả em Lê theo. Chú bắn chẳng mấy khi trúng được lấy một con thú. Các bạn vẫn chế giễu. Hôm ấy hai cha con và mấy người bạn vào rừng. Người nào lúc ra về cũng xách một xâu chim bắn được. Duy chú Hai là về tay không. Chú bắn vụng, lại vốn tính nóng nảy, bị người ta chế thì nổi hung lên, cứ lắp đạn, giơ súng bắn liều vang cả rừng mà vẫn không có con chim nào chết. Các bạn càng cười đùa, chú càng bắn như một người điên, lá rụng xuống tới tấp. Trong lúc ấy, em Lê lẩn đi một chỗ, thấy một cái cây có tổ chim, trèo lên xem. Lê đứng trên cành, nấp trong khóm lá rậm. Một phát đạn của bố vô tình bắn lên, em Lê chỉ kịp kêu một tiếng, lăn xuống cỏ chết ngay…- Mẹ tôi ngừng lại, nín lặng một lúc.


Chị Châu và tôi nghe chuyện mà rùng mình. Mẹ tôi nói tiếp:


- Nhờ có các bạn làm chứng, tòa xử là vô ý giết người, nên bị hai năm tù án treo. Từ đấy, chú chỉ đi ngao du, lúc nào cũng có ý hối hận, ăn năn tội lỗi. Các con coi, chỉ vì cái tính nóng nảy, điên khùng mà kết quả thảm thương như thế đó.


Lòng thương yêu của chúng tôi đối với chú, khi biết chuyện rồi càng tăng lên. Tôi thấy từ nay tôi cần phải âu yếm chú, quấn quít chú để chú vui mà tưởng rằng giữa chú với tôi có một cái tình cha con, cái tình mà chú đã tự mình làm mất vì một cơn tức giận vô nghĩa lý.


Tôi hết sức làm cho chú vui, chú cười. Vốn chú vui tính, nên dễ bị lây cái vui nghịch của tôi. Chú đánh bi với tôi. Chú chơi quay với tôi. Chú cùng tôi chiều chiều ra ngoài sườn núi chăn dê và ra bãi sông thả diều. Một trẻ, một già như đôi bạn. Thầy mẹ tôi cũng phải bật cười, lấy làm mừng vì thấy chú không mấy khi lầm lì và không mấy khi ra bãi sông đứng một mình nữa. Duy cái thói quen buổi trưa nào cũng lên gác đóng chặt cửa buồng ngồi hàng giờ trong đó thì chú không chịu bỏ.


Một sáng chủ nhật, chú rủ tôi vào khu rừng sau núi chơi. Trời đã sang xuân, gió vẫn còn mang theo hơi lạnh dìu dịu trong nắng vàng tươi và cả cái hương vị mặn mòi thoang thoảng từ ngoài biển xa nơi bến đò Rừng đưa vào. Chim hót ríu rít. Suối chảy róc rách dưới các bóng cây, bóng đá hai bên bờ hẹp.


Tôi vừa len lỏi giữa gốc cây này, gốc cây kia vừa hát véo von. Chú cũng hát, chú hát lắm câu rất ngộ. Chú giảng từng câu cho tôi nghe, rồi dạy tôi học thuộc lòng. Tôi nhớ và hát được ngay. Chú khen mãi là sáng dạ. Đói bụng, tôi rủ chú về. Ra khỏi khu rừng, chú cháu đang đi thì thấy hai đứa trẻ ngồi dưới gốc cây, ôm một cái lồng tre. Đến gần, tôi thấy trong lồng có hai con khỉ nhỏ còn non, lông chúng chưa mọc đủ, để hở cả màu da đỏ hỏn. Mắt chúng vàng vàng, nhìn ngơ ngác, rúc đầu vào nhau mà gặm chân, gặm đuôi nhau.


Tôi thích quá, xán đến cạnh cái lồng, ngắm mãi. Chú hỏi hai thằng bé.


- Chúng mày bắt chúng nó làm gì? Chúng còn non, không nuôi tử tế thì chết mất.


Một đứa thấy dáng điệu, mặt mũi dữ tợn của chú thì có vẻ sợ hãi, gãi đầu gãi tai đáp:


- Chúng cháu bắt nó trong một cái hang trên núi.


Đứa kia tiếp:


- Ông có muốn mua, chúng cháu bán.


Câu mời của thằng bé khiến tôi hồi hộp. Tôi nắn ngay túi quần túi áo tôi, trong đó có hơn hai hào xu lẫn với con quay và mấy hòn bi đá, bi ve. Tôi nắm tay chú Hai:


- Chú cứ mua, cháu có tiền đây, cháu sẽ hết sức nuôi cho chúng nó lớn.


Chú gạt đi, bảo rằng:


- Nó còn đang bú mẹ. Cháu sẽ bỏ nó chết đói, chết rét mất thôi.


Tôi cố nài:


- Cháu cho nó ăn sữa dê, cháu nhịn phần sữa của cháu, nhường cho nó.


Chú tôi nín lặng, đôi mắt tự nhiên đỏ ngầu nhìn vào hai con vật, giọng run run thì thầm bên tai tôi.


- Ngày trước… một đứa trẻ y như cháu cũng chỉ ước ao nuôi một con khỉ để nó làm trò… chú đã đi săn, đã gặp một con khỉ lớn… nó đu trên cành cây, nó như trêu trọc thách chú bắn… Chú đã đuổi theo bắn ba bốn phát liền, nhưng nó cứ chuyền cành này sang cành khác để khiêu khích chú mãi. Mấy người bạn cùng đi săn vỗ tay cười ran cả rừng. Chú cáu tiết chĩa súng bắn luôn phát nữa. Con vật không bị đạn. Kết quả đứa trẻ kia đang ngồi hái quả trên một cành cây bị viên đạn ấy trúng giữa tim ngã chết. Bây giờ cứ trông thấy con vật khốn nạn ấy là chú sợ, cứ nghe tiếng súng nổ ở đâu là chú giật nảy mình.


Đầu chú tôi gục xuống. Tôi đã biết đứa trẻ xấu số ấy là Lê, con chú. Chú tưởng mẹ tôi chưa kể cho tôi biết, nên vẫn giấu. Có lẽ chú không có can đảm nhắc đến cái tên yêu quý ấy chăng! Tôi thương xót chú, nhưng lòng ham muốn có hai con vật nọ vẫn khiến tôi không rời mắt nhìn ngắm chúng. Tôi khẽ nài nỉ:


- Chú! Chú cứ mua cho cháu, cháu sẽ giấu nó vào trong buồng học của cháu, không để nó quấy rầy chú đâu.


Thấy tôi nằn nì, sau cùng, chú cũng chiều ý tôi mà mua hai con khỉ đó. Chú bỏ tiền ra trả, chứ không lấy tiền của tôi. Chú bảo:


- Chỉ sợ cháu phải nhịn cả quà cũng chưa đủ nuôi nó đâu, cháu ạ.


Tôi hí hửng xách cái lồng về.


III


- Trời ơi, em mang cái của nợ ấy về nhà làm gì thế hả?


Chị Châu tru tréo lên. Tôi vội tươi cười, vỗ vai chị nịnh nọt cho chị khỏi kêu to kẻo mẹ tôi biết.


- Chị không sợ. Nó có phải là hổ hay sư tử đâu mà sợ nó vồ. Em nuôi nó. Nếu khi nào chị có bụng tốt thương yêu loài vật thì chị cho nó một bát sữa dê, chị cứ lấy vào phần của em cũng được.


- Sữa đâu mà cho nó. Rồi lớn lên, nó sẽ cào cấu quần áo, nhảy phá đổ đồ đạc, lại hôi bẩn như khỉ ấy, ai chịu được.


- Thì nó là khỉ mà lại không như khỉ.


Tôi cười. Mẹ tôi trên gác xuống, thấy thế cũng kêu lên:


- Sao chú để cháu nó rước cái của nợ ấy về nhà thế. Nó hãm tài lắm, đem thả lên núi ngay đi!


Chú Hai đã trót mua cho tôi, không nhẽ lại không bênh vực tôi, nên chú nói khéo với mẹ tôi, và buổi tối chú lại nói với cả thầy tôi, thành thử cả nhà không ai phản đối nữa.


Ngay hôm đó, chú cháu tôi hì hục chẻ tre, vót cật làm một cái lồng to khá đẹp. Tôi đặt giữa lồng một cành cây bé cho hai con khỉ leo trèo. Tôi lại lấy lá phủ bên ngoài lồng cho mát và kín đáo. Tôi nhờ lão Bồng khiêng với tôi cái lồng đó lên gác, đặt ngay cạnh giường tôi nằm. Lão Bồng chiều chuộng tôi và cũng sẵn lòng thương yêu giống vật, cứ mỗi ngày ba lần lão đem lên cho hai con khỉ một bát sữa dê đầy. Tôi nhìn chúng uống một cách ngon lành mà vui sướng. Uống xong, chúng lại co tròn lăn quay như quả bóng, đùa nghịch với nhau, kêu chí chóe.


Chú tôi cười bảo:


- Đừng đánh đập chúng nhé! Một khi cháu đã cướp chúng ra khỏi bầu sữa mẹ chúng, ấy là cháu phải giữ bổn phận nuôi nấng chúng. Cái bổn phận ấy không nhỏ đâu.


Lời khuyến khích của chú càng khiến tôi phải nghiêm trang, chứ không đùa như mọi lần nuôi con chim sâu, con bươm bướm, chuồn chuồn, chán thì bóp chết, ngắt cánh, ngắt đầu cũng được. Tôi bận bịu với chúng luôn. Ở nhà, tôi học vội bài; vừa tan trường, tôi chạy vội về nhảy ngay lên gác thăm đôi khỉ. Sáng dậy mở mắt là tôi nghĩ đến việc lấy sữa dê cho chúng. Tiền quà mẹ cho hàng ngày, tôi ra chợ mua chuối bỏ vào đầy lồng. Đôi khỉ được ăn nhí nhắt suốt ngày.


Thấm thoắt chúng đã lớn lên trông thấy, chúng đã biết cào cắn nhau, đã biết ném vỏ chuối ra ngoài kẽ lồng để trêu tôi. Con lớn đuôi dài có vẻ mạnh mẽ, nghịch và ăn nhiều hơn con nhỏ đầu đốm trắng. Con nhỏ, tôi nhận thấy, cứ mỗi ngày một gày đi, lừ khừ, nằm vật vạ.


Chú Hai nghiêm giọng bảo tôi:


- Ta đã nói trước mà! Loài vật phải được tự do ngoài nắng, gió và ánh sáng. Giam cầm, bắt nó tù hãm, ấy là làm cho nó khổ sở. Đó là lẽ tự nhiên của trời đất, ta không nên làm trái.


Thế rồi một buổi sáng, tôi bưng bát sữa lên, mở cửa lồng thì thấy con khỉ bé nằm còng queo. Con khỉ lớn ngồi lặng lẽ nhìn cái xác bạn cùng loài. Thấy tôi, nó ngẩng lên nhìn tôi bằng đôi mắt lờ đờ. Lòng tôi buồn nao nao. Lần đầu tiên trong tuổi chơ dại, tôi được biết rõ cái tình chia ly của sự chết. Tôi gọi chú Hai. Chú ở phòng bên cạnh, bước sang. Tôi sợ, không dám mó vào xác con vật, phải nhờ chú. Chú mang xác nó ra bãi cỏ ngoài bờ rào nhà tôi chôn cất tử tế.


Từ đó, con khỉ lớn sống cô độc, nhưng rồi cũng không sao, nó lại leo trèo nhảy nhót, ăn uống như thường. Nó thò tay ra ngoài nan lồng vẫy tôi, cướp quả chuối hay hột ngô rang ở bàn tay tôi, rồi nhe răng ra kêu khẹc khẹc. Con vật đùa như một đứa trẻ. Có hại gì cho ai đâu!


- Đấy mẹ xem, có chuyện gì là hãm tài, mà mẹ cứ mắng con.


Mẹ tôi cười không đáp.


- Đấy chị Châu xem, mẹ mãi chẳng đẻ em bé cho vui nhà nên em phải chơi đùa với nó vậy. Nó có cào cấu chị đâu, có làm đổ vỡ gì đâu!


Chị Châu cũng cười. Không ai ghét nó nữa. Mẹ tôi hôm nào đi chợ mua thức ăn cũng nhớ mua cho con khỉ một nải chuối, hay một mớ sim chín. Nó thích ăn sim lắm, có lẽ nó ăn cái thứ quả rừng xanh để nhớ đến rừng xanh chăng.


Chị Châu đã hí hoáy mất nửa ngày để tìm vải xanh vải đỏ cắt cho con khỉ một bộ quần áo và cái mũ. Thú quá, tôi nhờ chú Hai nghĩ đặt cho nó một cái tên, chẳng nhẽ cu cậu cũng diện y phục như người mà lại không có tên thì… khỉ quá!


Chú Hai vuốt râu mép nghĩ ngợi. Rồi chú cười:


- Ta gọi cu cậu là Khả Tị tiên sinh. Đó là tên một con khỉ rất khôn theo một ông bầu già đi làm xiếc rong… Một con khỉ giang hồ trong truyện "Vô gia đình" của một nhà văn người Pháp.


Tôi vỗ tay, rất hoan nghênh cái tên sang trọng ấy, mặc dầu tôi chưa được biết Khả Tị tiên sinh trong truyện ấy thế nào.


Sáng hôm nay, một buổi sáng đẹp trời, Khả Tị mặc bộ áo quần mới nửa xanh nửa đỏ và đội mũ mão xong xuôi hình như rất lấy làm bằng lòng vẻ lịch sự của mình, nó đứng thẳng lên, nhăn nhở và lại kêu khẹc khẹc.


Chị Châu bàn:


- Nom bộ công tử như thế mà lại bị nhốt vào lồng thì buồn quá. Em dắt nó đi chơi một tí cũng hay.


Tôi lại vỗ tay hoan nghênh ý kiến ấy. Tôi lấy một sợi dây buộc vào cổ tiên sinh, dắt tiên sinh xuống nhà để giới thiệu với mẹ tôi. Lần đầu được bước ra ánh sáng, tiên sinh đi chập choạng, ngơ ngác nhìn tứ phía, nhìn cái cầu thang, rồi cẩn thận bước từng bậc một. Mẹ tôi, chú Hai và lão Bồng thấy vậy đều cười ran nhà. Khả Tị càng ngơ ngác, nhảy lên vai tôi, nép đầu vào cổ tôi như sợ sệt, như cầu ở tôi sự che chở vậy.


Kể từ hôm ấy Khả Tị được tự do, từ biệt cái lồng rộng rãi dành cho nó ngày măng sữa, nhưng rất hẹp cho nó lúc này đã lớn khôn rồi. Nó tung hoành khắp vườn, dưới nhà, trên gác. Tôi không lo nó về núi về rừng mất, vì tôi xem ý nó không ra quá ngõ bao giờ. Người và cảnh ở đây đã cùng nó thân thuộc quyến luyến rồi.


Khả Tị không ưa sữa nữa, nó thích ăn cơm và ngồi cùng tôi một mâm cơm rất lễ phép, khiến ai cũng bằng lòng. Ngoài cái thú ăn sim, nó còn thích ăn lạc rang, hạt dẻ, mà lại biết cắn bỏ vỏ rất nhanh, người không sao theo kịp. Tối tối, nó lên gác ngủ với tôi, nằm gọn dưới chân tôi cho đến sáng. Trừ những buổi tôi đi học, còn tôi đi đâu nó cũng theo sát từng bước. Tôi để nó ngồi lên vai, nó khẽ cắn vai tôi một cách đùa nghịch thân ái; nhưng khách lạ đến chơi mà mó vào nó thì những cái móng rất nhọn kia sẽ làm thủng bàn tay khách tức thì.


Một buổi trưa ở trường về, không thấy Khả Tị đâu, tôi đi tìm khắp chốn. Ra vườn, thấy nó đang đu trên cành cây nhãn. Tôi vẫy gọi, nó nhe răng ra, lại chuyền sang cành khác, rung cành cho lá rụng xuống đầu tôi, như trêu đùa, thách tôi trèo lên. Tôi trèo lên. Nhưng đuổi sao được cái giống hầu giỏi hơn cả muôn loài về cái tài trèo leo nhanh hơn gió ấy.


Đầu truyện, tôi đã kể rằng ngoài cửa sổ phòng chú Hai, hướng quay ra sau núi đá, có một cây nhãn lớn, chính lúc này tôi và Khả Tị đang ở trên cây nhãn đó.


Tôi đứng ở một cành gần cửa sổ, nhìn được suốt vào phòng chú Hai. Tôi thấy chú ngồi trong một cái ghế mây rộng cũ, trước một cái bàn to thày tôi dùng làm bàn giấy. Chú đang chăm chú vào một quyển sách mà ở bên ngoài lấy hết sức nhìn, tôi có thể biết rằng trang nào cũng có in tranh vẽ màu. Bàn tay khô gày lần giở từng tờ, đôi mắt sâu nheo hẳn lại gần như nhắm tịt, vầng trán hói hằn nổi nhiều vết nhăn, chú Hai cúi mãi xuống gần trang sách, gần những dòng chữ đen như kiến bò, gần những cái tranh màu, chú không biết có tôi và Khả Tị đang rình chú. Chú có vẻ mơ màng, mê say một cái gì… Có lẽ bởi những bức tranh đẹp quá. Có lẽ bởi những trang sách chép biết bao chuyện đầy phép màu huyền bí. Chẳng thế mà, lạ quá, rõ ràng tôi thấy chú nói lẩm bẩm một mình, chốc chốc lại cười khúc khích, thỉnh thoảng lại ghé môi hôn lên mặt giấy. Tôi ngơ ngác không hiểu được chú. Khả Tị thấy tôi không đùa nữa thì rón rén chuyền lại, nhảy lên vai tôi ngồi yên. Vừa lúc ấy, chú Hai gấp sách lại, bỏ vào ngăn kéo bàn, tôi nghe rõ cả tiếng khóa kêu.


Tôi nhẹ nhàng tụt xuống gốc cây, nghĩ thầm: "Thì ra trưa nào chú cũng vào phòng đóng kín cửa lại là để ngồi cười, nói, và hôn quyển sách có tranh ảnh đó! Thế là nghĩa lý gì?”.


IV


Quyển sách của chú Hai, bắt đầu từ trưa hôm ấy, luôn ám ảnh trí tò mò thơ dại của tôi.


"Phải xem cho được, không thì tức lắm". Tò mò, cái nết xấu ấy cứ xúi giục tôi phạm tội lỗi. Tại sao chú Hai lại cười, nói, hôn những trang giấy đó? Chắc là quyển sách hay lắm đây. Nhất là những bức tranh, ồ, những bức tranh tô màu, tôi thích lắm. Tôi hay vẽ nhảm. Tôi vẽ cả ngày. Không có bút chì mầu, tôi lấy lá khoai bôi làm màu cỏ, tôi lấy hoa mõm chó bôi làm màu da trời, tôi lấy hoa râm bụt bôi làm môi con gái hay làm áo cẩm bào ông Trạng.


Những bức tranh màu sặc sỡ trong quyển sách chú Hai! Tôi mở tưởng nó từng giờ, từng phút. "Phải xem cho được, không thì tức lắm".


Tôi để ý chờ cơ hội chú Hai đi đâu vắng. Một buổi sáng chú rủ tôi ra chợ xem bọn thuyền chài có bán con cá nào ngon thì mua. Tôi cáo nhức đầu, không đi. Chú đi một mình.


Cơ hội tốt đã đến. Chờ cái bóng còng còng của chú khuất ngoài ngõ rồi, một lát sau tôi mới rón rén lên gác. Cửa phòng khép hờ, tôi khẽ đẩy, bước vào. Những đồ đạc cũ bụi bặm từ ngày có chú Hai đến ở đều được chú lau chùi sạch sẽ. Một cái rác, một cái mạng nhện cũng không. Chú quét lấy, lau dọn lấy, không khiến lão Bồng. Tôi đi nhẹ như con mèo, tiến đến cái bàn. Cúi nhìn chiếc khóa ngăn kéo to quá, tôi thất vọng. Nhưng lại nghĩ rằng trong ngăn kéo có quyển sách đầy những tranh mầu kia, tôi hăm hở lay, giật, song cái khóa không chuyển động. Tôi nghĩ đến chiếc kìm của lão Bồng. Lại xuống bếp tìm được cái kìm lên, tôi ra sức nhổ hai chiếc đanh khuy để hy vọng nhấc cả khóa ra. Tôi làm rất khéo, bàn tay tôi tự nhiên sao khỏe khác thường. Một chiếc đanh khuy đã rơi xuống, một chiếc nữa cũng rơi theo. Thành công rồi, tim tôi đập mạnh. Tôi mở ngăn kéo, khe khẽ…


Chỉ có một mình tôi. Không, còn Khả Tị tiên sinh nữa chứ! Quái ác thật, con khỉ đã theo tôi vào tự lúc nào. Hình như biết tôi đang làm một việc vụng trộm nên nó len lén ngồi yên một xó tường, giương tròn mắt nhìn từng cử động của tôi. Tôi giận lắm, đuổi nó ra ngoài, nhưng nó nhăn răng kêu ầm ĩ, cào vào gấu quần tôi. Tôi đành chịu, vì cho việc đó không can hệ gì. Việc can hệ là mở ngăn kéo, lấy quyển sách bí mật kia ra. Bàn tay tôi run run lục lọi mớ giấy vụn. Bìa một quyển sách in màu, vẽ một cô tiên có đôi cánh và một đàn bướm hiện ra…


Tôi bật reo lên một tiếng vui mừng.


V


Đó là quyển sách kể những truyện cổ tích thần tiên. Những bức vẽ thật ngộ nghĩnh. Đây, một cô tiên thổi sáo, múa hát bên dòng suối. Kia, một con chuột đi ô, đeo kính nhẩy múa với con chuồn chuồn. Kia nữa, một cô gái đẹp mình người cánh bướm bay giữa một đàn bướm nhỏ trong rừng hoa… Nhiều nữa... Nhiều nữa.


Trang đầu có mấy hàng chữ, viết nắn nót lối chữ cậu học trò nhỏ tuổi:


Sách này chính sách của ta


Khác nào như cõi Sơn hà của Vua.


Mép trang, một vết mực đổ loang như con rắn bò. Tôi nhận thấy chữ Lê, ký lờ mờ bên dưới mấy hàng chữ kia. Ở những chỗ trống có dăm hình vẽ bằng bút chì màu, phỏng theo những bức tranh in. Hình vẽ bắt chước một cách ngây ngô, mắt liền với mũi, chân tay nghêu ngao, trông cô tiên mà người ta tưởng "ông Ba bị"! Cái tranh nào cũng ký tên Lê. Lê là con chú Hai, đứa trẻ xấu số đã bị bố vô tình bắn chết vì cơn điên khùng trong một cuộc đi săn. Những chữ ký đó khiến tôi tưởng tượng ra một đứa trẻ bằng tuổi tôi, khôi ngô và ngoan ngoãn, cũng có tính tinh nghịch hay vẽ nhảm như tôi. Tôi khám phá ra rằng chú Hai vẫn thường vào phòng đóng chặt cửa để giở quyển sách kỷ niệm của con trai chú ra, ngồi lẩn thẩn nói chuyện và cười rủ rỉ với nét vẽ ngộ nghĩnh của nó, và hôn hít những vết ngón tay dính mực, dính đất cát còn in nguyên vẹn trên trang giấy.


Tôi đang bùi ngùi nghĩ vậy thì ở dưới cầu thang có tiếng chú Hai nói với mẹ tôi, và tiếng giày chú bước thình thịch trên những bậc gỗ kêu cót két. Tôi hoảng hốt, chỉ kịp ném vội quyển sách xuống chân cái ghế mây chú Hai vẫn ngồi, rồi tôi chạy vút ngay về buồng mình. Tôi lắng nghe tiếng chú lẩm bẩm:


- Hôm nay mình đãng trí quá, đi nửa đường mới sực nhớ ra là quên khóa cửa. Chết nỗi, cửa khép hờ thế này, nhỡ Khả Tị tiên sinh mà lần được vào thì bất trị.


Chú dừng lại móc túi áo lấy chìa khóa, khóa cẩn thận rồi lại xuống thang.


Tôi thở một hơi dài vì chợt nhớ ra trong buồng chú, Khả Tị đang bị nhốt. Chốc nữa chú về, mọi tội lỗi sẽ đổ vào đầu nó. Khả Tị phá ngăn kéo, Khả Tị lôi quyển sách bí mật ấy ra, chứ không phải tôi! Tôi đã nghĩ mưu mẹo chối lỗi của mình, đổ tội oan cho con vật một cách hèn nhát như thế đấy.


Ngồi đứng không yên chỗ, tôi vẫn lo lắng nghĩ nếu Khả Tị xé nát quyển sách kia! Sự lo lắng ấy khiến tôi bồn chồn, khổ sở. Tôi hối hận đã tò mò, đã phá ngăn kéo của người ta, như thế có khác nào quân trộm cắp!


Tôi chạy xuống dưới nhà, lao ra vườn. Tôi trèo lên cây nhãn, vừa nhòm vào buồng chú Hai đã thấy rụng rời chân tay. Khả Tị đang nhảy nhót trên giường lại vút lên nóc tủ, lên đỉnh màn, chán trò, nó quay ra vò xé một chiếc sơ mi của chú Hai. Tôi sợ hãi, dịu giọng gọi khẽ: "Khả Tị, Khả Tị!". Nghe tiếng tôi, con khỉ tinh quái nọ nhìn ra,  nó càng nhảy nhót, càng vò xé, cuộn cái sơ mi rách vào mình mà lăn khắp sàn gỗ.


Tôi tức bực, giơ tay dọa nạt, Khả Tị càng làm trò để trêu tôi. Đang bối rối thì có tiếng mẹ hỏi chị Châu phía sân trước:


- Châu có thấy em Ngọc đâu không?


- Có lẽ em con nó theo ông Bồng cho dê lên núi.


Tiếng mẹ gắt gỏng:


- Thằng bé tệ quá, chạy như thỏ cả ngày thôi.


 Chú Hai ở ngoài ngõ đang đi vào trong sân, nghe vậy bèn bênh vực tôi.


- Bác mắng cháu làm gì. Tuổi nó đang nghịch ngợm. Mà cũng phải nhảy nhót thế thì mới khỏe mạnh chứ. Cháu nghịch, nhưng học giỏi, thế là đáng mừng, bác ạ.


Lời khen của chú càng khiến tôi hổ thẹn. Bỗng có tiếng kêu the thé trong buồng chú. Tôi vội ngoảnh nhìn vào: Khả Tị đã trông thấy quyển sách dưới chân ghế. Nó cầm quyển sách lên, nghiêng nghé cái đầu rồi tẩn mẩn xé một trang, trang nữa, trang nữa…


Tôi muốn kêu lên, mà không dám, sợ mẹ tôi và chị Châu tôi biết tôi đang nấp ở trên cây.


Mặt tôi không còn máu. Tôi nguyền rủa thầm con vật khốn nạn. Tôi muốn với một chân sang cái thành cửa sổ để nhẩy vào. Chân tôi không với tới. Tôi toan nhảy liều sang, nhưng ngay dưới chân có một bụi gai khá rậm, nếu nhảy hụt thì còn gì là xương thịt.


Bỗng nhiên cánh cửa buồng xịch mở. Chú Hai vào. Sợ quá, không dám nhìn cái cảnh ghê gớm sắp diễn ra, tôi nhắm nghiền mắt lại. Khi mở mắt, ôi chao, tôi thấy chú đã tóm được Khả Tị mà bóp chặt, con vật giãy giụa kêu chí chóe trong hai bàn tay gân guốc của chú.


Tôi điên cuồng tụt vội xuống đất, chạy vào nhà.


VI


- Lạy chú, xin chú đừng bóp nó. Chính cháu mở ngăn kéo chú, cháu đã vất quyển sách của chú xuống chân ghế… Cháu có tội, chú đánh cháu, chứ đừng đánh oan nó.


Nhưng chú Hai cuồng dại, đôi mắt đỏ ngầu trợn lên, hai quai hàm bạnh hẳn ra, răng nghiến ken két, chú lấy hết sức bóp cổ Khả Tị.


- Con quỷ! Con quỷ. Mày là con quỷ hại tao. Mày phải chết.


Khả Tị càng giẫy giụa, một chân tuột ra, móng nhọn đâm sâu vào tay chú Hai, máu chảy ròng ròng.


Chú Hai thét một tiếng, ấn Khả Tị xuống cạnh bàn, hai bàn tay nổi gân.


- Lạy chú! Cháu xin chú tha cho nó!


Nhưng máu đã làm cho chú Hai thành điên cuồng, tức giận như lửa cháy đổ thêm dầu, chú lầu nhầu nguyền rủa, đập đầu Khả Tị kêu bôm bốp vào cánh cửa.


Con vật khốn nạn kêu một tiếng cuối cùng, đôi mắt lờ đờ nhìn tôi một lần cuối cùng như để cầu cứu, để vĩnh biệt rồi không động đậy. Chú Hai ném nó xuống sàn. Tôi quỳ ôm Khả Tị vào lòng mà nấc nở:


- Chú độc ác lắm! Chú độc ác lắm.


Cùng lúc ấy, chú Hai ngồi xuống cạnh tôi. Vẻ giận dữ ghê gớm trên mặt chú đã biến đi, nước mắt chú rơi xuống đôi má hóp, chú thổn thức như đứa trẻ.


Hồi lâu chú mới nói nên lời.


- Chú là một kẻ điên dại! Cháu tha lỗi cho chú! Chỉ vì chú đã không chịu nén cơn cáu kỉnh, tức giận mà khổ sở thế này… Con vật kia có biết gì đâu, nó vô tội, vậy mà chú đã điên cuồng giết nó như chú đã giết Lê con chú. Tức giận là một thói xấu, cháu ơi, nếu lần đầu ta không cố nén nó để luyện lấy cái nết ôn hòa, hiền hậu thì nó sẽ thành tật, sẽ thành tội ác! Nếu trước kia, chú bình tĩnh, nhân hậu thì em Lê vẫn đang ở bên chú, cũng khỏe mạnh, thông minh và đáng yêu như cháu. Có em Lê thì chú đâu đến nỗi buồn cái tuổi già trơ trọi, đâu đến nỗi đi lang thang một mình nay đây mai đó thế này. Cả cuộc đời chú giờ chỉ có quyển sách của nó để lại… Thế mà…


Máu trên hai bàn tay chú nhỏ từng giọt xuống những mảnh giấy tranh ảnh có chữ ký của Lê. Chú cúi xuống nhặt nhạnh những mảnh giấy đó, bỏ vào một chiếc hộp:


- Em Lê được nhà trường thưởng quyển sách này. Chú luôn giữ bên mình làm kỷ niệm. Mỗi lần xem lại những nét vẽ ngệch ngoạc, nhìn lại những vết tay in trên giấy kia, chú lại tưởng tượng thấy đôi mắt đen nháy của nó, nghe thấy tiếng cười trong trẻo của nó…


Lòng tôi xúc động vô cùng. Tôi ôm chàng cổ chú:


- Thôi chú đừng buồn nữa. Chú cứ ở đây, chúng cháu yêu quý chú như yêu quý thày mẹ cháu. Cháu thay em Lê làm con chú, ở bên chú luôn luôn, mãi mãi, cho đến ngày chú sống tròn trăm tuổi.


Chú cảm động, sung sướng ôm tôi vào cánh tay, ngồi lên ghế, chú vuốt tóc tôi, hôn đầu, hôn má tôi.


- Cháu là đứa trẻ tốt lắm. Ta yêu cháu không có lời nào tả được.


*


Chú Hai sống giữa hạnh phúc êm ả của gia đình chúng tôi; coi chúng tôi như con đẻ, chú không buồn nữa. Tóc chú bạc dần dần cùng với tóc thày mẹ tôi. Chú hiền từ như ông Bụt. Chúng tôi đã lớn khôn, nhưng vẫn ngày ngày xán bên cạnh chú để bắt chú kể chuyện "Ngày xưa…".


Và đến hôm nay, thấm thoát đã hơn hai mươi năm rồi, tôi kể lại cùng các bạn nhỏ thân mến câu chuyện này, cùng lời khuyên nhủ của chú Hai. Lời khuyên ấy hiện thành những nét chữ vàng chói lọi trước mặt tôi. Lòng tôi lúc nào cũng êm vui, bình tĩnh, sẵn sàng tha thứ, thương yêu con người và con vật, thương yêu tất cả cõi đời.


Nguồn: Rút từ Mưa thu. Tuyển tập truyện dài của Ngọc Giao. Nguyễn Tuấn Khanh tuyển chọn. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


                   


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chiều muộn - Triệu Văn Đồi 02.12.2019
Lễ hội ăn mày - Hồng Nhu 14.11.2019
Chuyện không muốn kể - Đỗ Tiến Thụy 03.11.2019
Lênh đênh - Đỗ Tiến Thụy 03.11.2019
Gai sen - Kim Nhu 03.11.2019
Vũ nữ Ba Lê - Olga Tokarczuk 15.10.2019
Người đàn bà xấu nhất hành tinh - Olga Tokarczuk 15.10.2019
Người cha anh hùng của nữ thủy thần Undine - Heinrich Böll 11.09.2019
Mùi vị bánh mì - Heinrich Böll 11.09.2019
Cuộc đời trôi nổi của cái tách không quai - Heinrich Böll 11.09.2019
xem thêm »