tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29883994
29.12.2011
Hà Minh Đức
Nguyễn Đình Thi - Chim phượng bay từ núi (8)

CHƯƠNG NĂM


NGUYỄN ĐÌNH THI  NHÀ LÝ LUẬN PHÊ BÌNH VĂN HỌC


Gắn bó với nhiều thể loại sáng tác văn học Nguyễn Đình Thi vẫn dành một phần tâm trí và thời gian cho hoạt động lý luận phê bình. Ông không hẳn là một nhà lý luận phê bình nhưng những bài viết của Nguyễn Đình Thi có giá trị và vẻ riêng độc đáo. Ngay từ thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám với sự nhạy cảm về chính trị của một trí thức trẻ Nguyễn Đình Thi đã viết bài Sức sống của dân Việt Nam trong ca dao và cổ tích. Tìm cảm hứng về sức sống của một dân tộc qua những áng văn chương lâu đời của nhân dân là một điều đúng đắn và sáng tạo. Như trước đây Ănghen đã nhấn mạnh những ca khúc của Airơlen là cái còn lại của tinh thần dân tộc khi đất nước ấy đã thuộc về quá khứ. Sức sống của dân tộc Việt Nam được biểu hiện qua nhiều bình diện và hiện tượng quan trọng và văn nghệ là tiêu biểu. Ý nghĩa quan trọng của vấn đề là thời điểm và cách đề xuất vấn đề. Nguyễn Đình Thi viết trong không khí những ngày tiền khởi nghĩa, khi đất nước đang dồn sức cho cuộc đổi đời và niềm tin ở sức mạnh tinh thần của dân tộc là nhân tố quan trọng.


Khi cuộc kháng chiến chống Pháp mới bắt đầu, không khí văn nghệ còn nhiều bỡ ngỡ. Nhận trách nhiệm nặng nề trước cuộc kháng chiến Nguyễn Đình Thi viết Nhận đường. Bài viết mang ý nghĩa của một tuyên ngôn nghệ thuật. Chưa gọi chính danh nhưng nhà văn thực chất phải là người chiến sỹ và họ sẽ được rèn luyện thử thách trong cuộc chiến đấu của dân tộc ở tuổi đời ngoài hai mươi, Nguyễn Đình Thi đã đem sức trẻ đóng góp cho sự phát triển của văn nghệ kháng chiến. Cùng một thế hệ nhà văn đến với cách mạng, cùng một chiến hào trong chiến đấu, Nguyễn Đình Thi, Trần Đăng, Nam Cao, Tố Hữu… có mặt ở nhiều chiến dịch. Trần Đăng và Nam Cao đã ngã xuống như những người anh hùng. Tiếc thương người đồng chí đã hy sinh, tiếc thương những tài năng, những cây bút có tầm xa trong văn nghệ không còn nữa, Nguyễn Đình Thi đã viết những bài xúc động về Trần Đăng, về Nam Cao. Đây không phải là những bài phê bình văn học mà là những trang viết tiếc thương và ghi nhận sự đóng góp của một đời văn. Về Nam Cao, Nguyễn Đình Thi đã có những nhận xét sắc sảo về đời văn về tác phẩm. Với tác phẩm Sống mòn, Nguyễn Đình Thi đã có những ý kiến sâu sắc, xác đáng: “Sống mòn tả cuộc sống thiểu não quanh quẩn, nhỏ nhen của mấy người trí thức tiểu tư sản nghèo, một cuộc sống mù xám cứ mốc lên rỉ đi mòn ra mục ra không có lối thoát. Rộng hơn là vận mệnh mấy con người ấy ta thấy đặt ra một cách ám ảnh vận mệnh chung của cả một xã hội chua xót, đau đớn, buồn thảm, tủi nhục, trong đó đời sống không còn ý nghĩa; quay về phía nào cũng thấy dựng lên những bức tường bế tắc”. Nguyễn Đình Thi đã chỉ ra sâu sắc bản chất của vấn đề. Qua những tiểu luận, bài viết của thời kỳ đầu như Thực tại với văn nghệ (1944), Sức sống của dân Việt Nam trong ca dao và cổ tích (1944), Vấn đề xây dựng con người (1946), Nhận đường (1948), Quần chúng phê bình nghệ thuật… ngòi bút Nguyễn Đình Thi bộc lộ một khả năng kết hợp giữa tư duy chính luận đan xen với hình ảnh và tình cảm. Trong các bài tiểu phẩm của Nguyễn Đình Thi có sự chỉ đạo của tư tưởng triết học và chính trị làm nền cho tư duy và cấu tứ. Nhà phê bình Lê Đình Kỵ nhận xét: “Xây dựng con người mới, thực tại với nghệ thuật, quần chúng với nghệ thuật, con đường văn nghệ phải đi, đó là những vấn đề chính trị lớn đặt ra cho văn nghệ sỹ và trí thức lúc bấy giờ, nhưng Nguyễn Đình Thi đã đứng trên bình diện triết học mà giải quyết nó với những rung động và lời lẽ của nghệ sỹ. Và cái cốt cách triết học này ngay từ đầu đã làm nên ưu thế không thể chối cãi được của các bài phê bình lý luận của anh. Ở Nguyễn Đình Thi hình như chính trị, cách mạng hấp dẫn nhất là ở khía cạnh triết học của nó. Đặc biệt lúc bấy giờ chính trị mà nhuyễn vào triết học được sự tiếp sức của triết học thì dễ nghe hơn đối với các nhà văn, nhà trí thức” . Lê Đình Kỵ đã chỉ ra đúng phẩm chất của tiểu luận Nguyễn Đình Thi về văn học. Với trách nhiệm của người lãnh đạo văn nghệ, lần lượt Nguyễn Đình Thi phát biểu về một số vấn đề của văn nghệ cách mạng nhưng cũng không gây ấn tượng gì đặc biệt. Nguyễn Đình Thi cũng không phải là nhà phê bình văn học. Một số bài có tính chất nhận xét về một số tác phẩm như Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng, Núi Cứu quốc của Tô Hoài, Việt Bắc của Tố Hữu. Nguyễn Đình Thi rất chú trọng tiếng nói bên trong của tác phẩm hòa hợp với quần chúng và thực tại cách mạng. Văn xuôi gắn với kết quả của những chuyến đi vào thực tại cách mạng như những trang viết của Trần Đăng về đời sống chiến trường, của Tô Hoài với các dân tộc miền núi. Nguyễn Đình Thi hiểu rõ cái lớn lao của những sự kiện chính trị diễn ra ngày càng có sức hấp dẫn và lôi cuốn. Tuy nhiên điều quan trọng là vấn đề con người “Xây dựng con người hay nói đúng hơn làm cho con người tự xây dựng được” . Vấn đề trung tâm và then chốt của văn học nghệ thuật chúng ta là biểu hiện con người trong đời sống lao động của xã hội. Trong các bài viết của mình Nguyễn Đình Thi không chỉ lưu ý xây dựng mà còn tiến hành phê phán các quan điểm nghệ thuật tư sản xa lạ: “Chúng ta không thể để cho nghệ thuật văn học trở nên một thứ thuốc phiện ru ngủ, đưa con người đi trốn trách nhiệm xã hội, lánh xa sự thật, quay lưng vào cuộc đấu tranh của quần chúng”. Văn học cách mạng là văn học nhập cuộc và hơn thế, không bị động mà cần mang tính tiên phong. Trong trách nhiệm của mình, qua các bài viết, Nguyễn Đình Thi thường có xu hướng nắm vấn đề trong diễn biến, phát triển và kết thúc, hoặc tổng kết các cuộc tranh luận. Nhìn chung tác giả nêu nhiều nhận xét đúng đắn, chừng mực có sức thuyết phục, luân chuyển nhận thức giữa khái quát và cá thể về các hiện tượng văn học. Có ý kiến cho rằng trong một số bài viết về xây dựng con người trong văn nghệ, Nguyễn Đình Thi quan niệm con người còn mơ hồ không phân biệt rõ vị trí giai cấp bị trị cũng như thống trị. Một mặt có lúc tác giả lại cực đoan xem thơ Tố Hữu trước cách mạng “chưa thoát ra được ảnh hưởng của thơ ca lãng mạn đương thời”. Thực ra những ý kiến trên không thuộc về vấn đề bản chất trong luận điểm của Nguyễn Đình Thi. Có chăng là ở góc nhìn của người tiếp nhận. Trong các vấn đề lý luận, Nguyễn Đình Thi chú ý nhiều hơn đến lý luận về thể loại văn học đặc biệt là về thơ về tiểu thuyết. Là người làm thơ và viết tiểu thuyết Nguyễn Đình Thi không tự hạn chế mình trong khuôn khổ của những quan điểm lý luận truyền thống hoặc những luận điểm đã có phần hạn hẹp trước sự phát triển của thực tế sáng tác. Ông là người sáng tác nên càng hiểu khả năng và giới hạn của những luận điểm lý luận. Trên những vấn đề lý luận chính thống Nguyễn Đình Thi thận trọng, giữ nguyên tắc. Tuy nhiên tác giả không dễ chấp nhận những cái tưởng như ổn định nhưng gò bó, quy phạm.


Khi nói về đặc trưng của nghệ thuật Nguyễn Đình Thi nhận xét: “Các nhà lý luận của ta thường hay trích câu nói của Biêlinski “Nghệ thuật là tư duy bằng hình tượng”. Đây là một câu rất quan trọng như cái chìa khóa để hiểu đặc điểm của công việc nghệ thuật. Nhưng ta nên hiểu câu này như thế nào? Có lẽ nên nói “Tư duy trong nghệ thuật là tư duy bằng hình tượng” thì rõ hơn tránh được sự hiểu biết theo cách hẹp cạn. Bởi vì nghệ thuật không chỉ là tư duy. Tôi nghĩ rằng nó còn là cái gì khác nữa. Làm nghệ thuật không chỉ đơn thuần bằng trí tuệ mà phải sống phải lăn lộn trong cuộc sống. Tác phẩm nghệ thuật trực tiếp từ cuộc sống của con người mà nâng lên” . Khi nói về chức năng của văn nghệ là nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ, Nguyễn Đình Thi cho rằng “những yếu tố trên là ích lợi, tác dụng chứ chưa thật là chức năng… Theo tôi nói gọn lại văn học nghệ thuật là thức ăn tinh thần của con người, là chất nuôi sống tâm hồn con người đó là chức năng của văn học nghệ thuật”. Nguyễn Đình Thi cũng nhận xét về bản chất của con người: “Tôi cho rằng câu nói “Nhân chi sơ tính bản thiện” không hoàn toàn đúng. Thật ra con người mới đẻ chưa biết thiện ác, nó sống và phấn đấu để sống và chính xã hội và sự giáo dục sẽ vạch lên những nét đẹp hay xấu, thiện hay ác. Đứa trẻ có mặt biết thương và có mặt không biết thương, đó là bản năng của nó, và nó có thể phát triển theo cả hai mặt ấy. Đứa trẻ chơi chuồn chuồn bứt cánh con chuồn chuồn đó là vì nó chưa hiểu sự đau khổ, chưa biết thương” . Cứ thế Nguyễn Đình Thi nhận thức các vấn đề theo tinh thần phản biện đúng như nhà văn từng tâm sự: “Tôi học tập theo tinh thần phê phán”. Đó là vấn đề nguyên tắc có tính sáng tạo. Với tinh thần ấy, kết hợp lý luận với thực tiễn sáng tác Nguyễn Đình Thi đã đi vào vấn đề lớn hơn là lý luận về thơ. Tại hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc (25-28/9/1994) thơ Nguyễn Đình Thi được dành để trao đổi trong chiều 28/9/1949. Các bài thơ của Nguyễn Đình Thi được đề cập đến khi trao đổi là Đêm mít tinh, Không nói, Đường núi, Sáng mát trong như sáng năm xưa. Nguyễn Đình Thi trong bài Mấy ý nghĩ về thơ (1948) đã nói về thơ: “Đầu mối của thơ có lẽ ta đi tìm bên trong tâm hồn con người chăng? Ta nói trời xanh hôm nay nên thơ nhưng chính ra là lòng chúng ta mang một nỗi niềm vui buồn nào mà muốn làm thơ hoặc đọc thơ về trời xanh. Mưa phùn buổi chiều gợi những câu thơ nhớ nhung nhưng chính nỗi nhớ nhung gặp buổi chiều mưa mà muốn thì thấm những câu thơ chưa thành hình rõ. Cái rung động thơ là một sự nhận thức của tâm hồn đang rung động ở một mức độ khác thường và tự thấy là nó đang rung động. Rung động thơ là tâm hồn đang sống và đang tự thấy”. Một quan niệm như thế về thơ sẽ là cơ sở để tìm hiểu sự vận động, phát triển của thơ về nội dung cũng như hình thức. Nguyễn Đình Thi nói tiếp: “Tôi không thích những bài thơ nói ra tâm tình. Nó phải nói ra cảm xúc, cảm xúc là cái tai nghe, mắt thấy, mũi ngửi, tay sờ, cảm thế nào nói thế ấy…”.


Vậy: “Khi đã bỏ luật lệ rồi, đủ cảm xúc tự nhiên thì cứ nói thành vần cũng được không thì thôi. Nói như lời nói thường vậy”.


Quan niệm trên được vận dụng tự nhiên trong các bài thơ tự do hay thơ không vần của Nguyễn Đình Thi và hội nghị phê bình thơ Nguyễn Đình Thi đã có ý kiến khác nhau. Xuân Diệu xem thơ Nguyễn Đình Thi là đầu Ngô mình Sở “thơ anh Thi tính cách trí óc nhiều, tình cảm ít”, “câu thơ của anh Thi đúc quá “không chấm câu”, “không rõ điệu tâm hồn”, “không có vần”, “Thơ anh Thi không trẻ, thu xếp, gò bó, bố trí nhiều quá, dáng điệu già”. Thế Lữ cũng phê phán nặng nề thơ Nguyễn Đình Thi:


“Thơ anh Thi nguy hiểm và còn là một cái nguy cơ. Các nghệ sỹ hay bám vào hình ảnh mới lạ miễn là nó long lanh để đưa tâm hồn mình vào đấy. Đó là thú vicieux (bệnh tật) của nghệ sỹ. Thơ anh Thi có tính cách quý phái cao đạo”. Các nhà thơ Tố Hữu, Văn Cao, Thanh Tịnh, rồi Xuân Trường, Phạm Văn Khoa, Ngô Tất Tố… đều không tán thành thơ Nguyễn Đình Thi. Người thì chú ý đến vần điệu như Ngô Tất Tố “Tôi đề nghị thơ không vần thì đừng gọi là thơ”. Người thì cho là cảm xúc của anh Thi là cảm xúc cũ tuy anh Thi là người mới (Xuân Trường). Xuân Thủy cho thơ Nguyễn Đình Thi là khó hiểu, khó ngâm. Một số ít nhà văn nhà thơ ủng hộ Nguyễn Đình Thi như Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng… Nguyễn Huy Tưởng nói: “Giữa anh Thi và tôi có một sự đồng lõa vì tôi cũng thích thơ không vần. Anh Thi chỉ thành công khi nào anh không phải quay cuồng với chính mình mà đi gần đại chúng để phát biểu tiếng nói của đại chúng”. Nguyên Hồng khẳng định mạnh mẽ hơn những ưu điểm của thơ Nguyễn Đình Thi: “Ý riêng tôi anh Thi rất thành công, ngay bây giờ đã thành công rồi. Anh Thi tiêu biểu cho tâm hồn rộng rãi, rải rác. Tôi tin sẽ có những bài thơ kỳ diệu của dân tộc ở trong loại thơ đó”. Cuộc tranh luận kết thúc nhưng không đi vào những kết luận cụ thể. Những nhà thơ bàn luận nhiều về thơ, một số khác lại bàn luận nhiều về người qua tâm hồn nhà thơ, tầm nhìn cuộc sống, quan hệ với quần chúng… Nguyễn Đình Thi vẫn tiếp tục hướng đi và nguyên tắc sáng tác của mình. Nói không nhiều nhưng luận điểm chắc chắn, có chiều sâu lý luận. Qua cuộc tranh luận cũng dễ thấy chính các nhà thơ có tên tuổi như Xuân Diệu, Thế Lữ, Thanh Tịnh, Tố Hữu lại không tán thưởng thơ Nguyễn Đình Thi, nhất là các nhà thơ trong phong trào thơ mới. Lúc này lực lượng thơ trưởng thành từ Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp và có những sáng tác có giá trị theo hướng thơ tự do như Trần Mai Ninh, Hữu Loan, Quang Dũng, Khương Hữu Dụng, Hoàng Cầm… không có điều kiện tham dự cuộc hội thảo. Nếu lực lượng các nhà thơ kháng chiến này có mặt, tình thế cuộc thảo luận sẽ có phần khác đi và thơ Nguyễn Đình Thi chắc chắn được tán thưởng nhiều hơn. Trên thực tế của cuộc thảo luận nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đã có căn cứ khi xem thơ Nguyễn Đình Thi là hiện tượng tích cực nhưng đã gặp trở lực của những chuẩn mực và nguyên tắc sáng tác của phong trào thơ mới mà tiêu biểu là ý kiến của Xuân Diệu và Thế Lữ. Nguyễn Đình Thi đã có những cách tân, sáng tạo về nội dung và hình thức của thơ khi ông cảm nhận thấy những giới hạn của chuẩn mực và thi pháp thơ mới và nhận rõ yêu cầu phát triển của thơ trong thời kỳ mới của cách mạng. Thơ phải là tiếng nói chân thực, tự nhiên gần gũi với cuộc đời. Thơ phải hạn chế sự tô vẽ màu sắc và giảm nhiệt cái tôi như thường thấy trong phong trào thơ mới.


Thơ tự do hay thơ không vần chỉ là hệ quả tất yếu của sự phát triển nội dung. Và chỉ không lâu sau nhà thơ Sóng Hồng một tác giả thận trọng và nghiêm ngặt với nguyên tắc thơ cũng phải thừa nhận thơ tự do trong hiện tại và tương lai sẽ là chủ thể của thơ Việt Nam hiện đại. Một trong những vấn đề của lý luận về thể loại được Nguyễn Đình Thi quan tâm phát biểu thuộc về tiểu thuyết. Nguyễn Đình Thi đã sớm cảm nhận phải có một cách viết, một cấu trúc tự sự và kể chuyện mới phù hợp với yêu cầu phản ánh cuộc sống cách mạng đang phát triển nhanh, với nhiều biến động, đa dạng, phong phú. Lối viết của tiểu thuyết lãng mạn ở thời kỳ trước chắc chắn là không phù hợp. Lối kể chuyện, miêu tả của một số tác phẩm tả chân về một hiện thực tù túng bế tắc cũng phải đổi thay cho phù hợp với yêu cầu mới của văn xuôi cách mạng.


Nguyễn Đình Thi luận bàn nhiều về tiểu thuyết khi hòa bình lập lại (1954) và ông chuẩn bị cho xuất bản tiểu thuyết Vỡ bờ. Hai loại hình tiểu thuyết, Xung kích như một mũi nhọn tiếp cận nhanh và chiếm lĩnh cuộc sống đang vận động và Vỡ bờ loại tiểu thuyết có dung lượng lớn và chiều sâu hiện thực, khi mọi hiện thực phong phú phức tạp đã lui dần vào quá khứ. Ở cả hai loại hình có điểm nào chung và khác biệt? Nguyễn Đình Thi không chú ý nhiều đến cốt truyện, như trong tiểu thuyết lãng mạn và hiện thực thời kỳ trước. Một cốt truyện hấp dẫn, lôi cuốn không dễ hình thành mà nhiều khi phải chờ đợi “trời cho” (như Gogol với Quan thanh tra và Goethe với Nỗi đau khổ của chàng Véc-tơ). Tổ chức một cốt truyện cho một tiểu thuyết có dung lượng lớn dễ gò bó và thiếu chân thực. Nguyễn Đình Thi chú trọng và xem nhân vật và các mối quan hệ chân thực của nhân vật với hoàn cảnh riêng và chung là quan trọng nhất. Và tự nhiên là nhân vật phải có xuất xứ từ hoàn cảnh một gia đình (như nhân vật Khắc và Quyên con gia đình nền nếp của cụ Tú hoặc Phượng với gia đình tư sản Hà Nội). Nhân vật cũng phải gắn với cơ sở của một giai cấp, một môi trường hoạt động xã hội, một nghề nghiệp (các nhân vật tiểu tư sản như họa sỹ Tư, thầy giáo Hội, nhạc sỹ Toàn đều có ít nhiều mẫu số chung về giai cấp và hoàn cảnh xã hội). Trong một cuốn tiểu thuyết lớn theo tác giả thì kết cấu có vai trò quan trọng trong việc tổ chức, điều hành cho các tuyến nhân vật có những mối quan hệ và hoạt động hợp lý. Vỡ bờ được thực hiện theo những nguyên tắc đó. Sự am hiểu sâu sắc khuynh hướng tư tưởng, hoàn cảnh xã hội, đặc trưng giai cấp của các nhân vật đã tạo cho Vỡ bờ có kết cấu hợp lý, phù hợp với sự vận động xã hội trong thời kỳ lịch sử này.


Cốt truyện của Vỡ bờ không quy về một mối có mở đầu phát triển và kết thúc như thông lệ mà thuộc dạng kết cấu mở, gắn bó các mối quan hệ các nhân vật trong bức tranh chung.


Nguyễn Đình Thi viết Công việc người viết tiểu thuyết, cuốn sách tập trung nhiều bài luận bàn về tiểu thuyết. Tác giả xem tiểu thuyết là “máy cái” của một nền văn học. Quan điểm này vừa xác định vừa uyển chuyển đổi thay trong quá trình sáng tác. Có thời điểm tập trung vào thơ, Nguyễn Đình Thi lại xem thơ là cái nói được mình nhiều nhất. Và khi tập trung viết kịch Nguyễn Đình Thi lại đặc biệt ca ngợi khả năng của kịch ở tính quy tụ xung đột về xã hội đặc biệt về tư tưởng. Trở lại với tiểu thuyết Nguyễn Đình Thi cũng xem hư cấu là sức mạnh đặc biệt của tiểu thuyết. Theo tác giả Vỡ bờ chủ yếu được viết bằng hư cấu nghệ thuật. Trên trục Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng Nguyễn Đình Thi đã hư cấu vùng quê Hải Dương với làng Ghềnh, làng Chẩm và các gia đình ở vùng quê này. Trong những năm chống Mỹ, Nguyễn Đình Thi viết Vào lửa và Mặt trận trên cao, xem đó là những tiểu thuyết và tác phẩm được viết ra dựa trên hư cấu nghệ thuật. Bàn về tiểu thuyết Nguyễn Đình Thi là người có lý luận và kinh nghiệm sáng tác. Những trang viết sâu sắc, giàu tri thức và trải nghiệm về thể loại này là một đóng góp về lý luận về tiểu thuyết của Nguyễn Đình Thi. Tuy nhiên ông chưa có điều kiện tìm hiểu sự xuất hiện phát triển của tiểu thuyết cổ, kim, phương Đông, phương Tây. Ông chưa có điều kiện khảo sát có tính khoa học về thể loại này nên chủ yếu là bằng sự thông minh sắc sảo về lý luận và những thành công của bản thân về tiểu thuyết làm cơ sở luận bàn. Không tránh khỏi nhiều lúc đơn giản hóa đặc trưng của tiểu thuyết qua bài viết Tiểu thuyết là gì? Tác giả viết về một em bé nhỏ kể chuyện với bà về con ngựa mà em trông thấy: “Coong ngạ, nó đang… rồi nó kêu nhoong nhoong” và tác giả kết luận “Trong một sự việc nhỏ bé như trên, tôi thấy đã có đủ mầm mống của một công việc viết truyện, tiểu thuyết”. “Trong Câu chuyện xung quanh công việc sáng tác nghệ thuật cái gọi là sáng tác nghệ thuật theo tôi nghĩ nó rất đơn giản, đơn giản như cái cây mọc lên như bông hoa nở, như trái kết trên cành… Không nói những loài vật cao cấp như loài có vú mà loài chim cũng làm nghệ thuật. Con công múa đẹp lắm. Con gà trống khi dụ gà mái cũng biết khoe bộ lông sặc sỡ. Nó phải làm sao hấp dẫn. Nó làm nghệ thuật đấy! Con chim hót đến mùa sinh sản nó hót. Nó đang sáng tác đấy. Không nói các loài động vật nữa, tôi nói cây cỏ. Đóa hoa là cái gì? Cũng có thể nói bông hoa chính là sáng tác nghệ thuật của cái cây” .


Cách nói của tác giả không chỉ ra được sự khác biệt của hoạt động sáng tác có ý thức, có sáng tạo của con người với những hoạt động có tính chất bản năng của loài vật. C.Mác đã chỉ ra con người sáng tác “theo những quy luật của cái đẹp”. Cái đẹp được cảm nhận, tái tạo có ý thức. Loài vật bằng giác quan riêng và sự phản xạ có tính bản năng cũng có thể có phản ứng về âm thanh, màu sắc, mùi vị nhưng cũng khó nói là có thể sáng tác nghệ thuật. Ở vườn thú Thái Lan bán những chiếc áo phông do voi dùng vòi vẽ. Người chăn voi bôi các màu lên vòi voi và theo phản xạ voi quết lên các chiếc áo. Những mảng màu sắc đan xen chồng chất gợi tò mò và người mua làm kỷ niệm và đó không phải là sáng tác nghệ thuật.


Nhà văn Nguyễn Đình Thi viết lý luận không nhiều nhưng ông đã để lại những ấn tượng riêng khá sâu sắc qua một số bài viết đặc biệt là những tiểu phẩm văn học. Nguyễn Đình Thi có đủ tư chất để trở thành một nhà lý luận phê bình văn học có tên tuổi. Giàu tri thức văn hóa, am tường về triết học, sắc sảo về chính trị có khiếu năng về nghệ thuật và trong thực tế là tác giả của nhiều tác phẩm có giá trị về thơ, tiểu thuyết, kịch. Nhưng dường như ông không chú tâm nhiều đến hoạt động lý luận phê bình, một công việc nói như Xuân Diệu là “tổn thọ”. Đó cũng là một điều đáng tiếc nhưng không thể khác đi.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi. Chuyên luận, trò chuyện và ghi chép của Hà Minh Đức. NXB Văn học, 12-2011.


www.trieuxuan.info


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
Na Hang: Sắc nước hương trời - Trần Mai Hưởng 30.09.2019
Nhìn mưa, nhớ Nguyễn Ngọc Ly - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Trúc Cương - Liêu xiêu một đời - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Ngôi sao xa xôi thưở ấy - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Sun Group, Địa Ngục Tự - Bài 2: Dấu chấm hỏi về 'vòng tròn khép kín' ở Tam Đảo II - Nhiều tác giả 26.09.2019
Điều tra độc quyền: Sun Group, Địa Ngục Tự và ma trận chiếm lĩnh rừng quốc gia Tam Đảo - Nhiều tác giả 23.09.2019
Nguyên Ngọc con người lãng mạn - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2019
xem thêm »