tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30523760
Tiểu thuyết
26.12.2011
Stefan Zweig
Thế giới những ngày qua

Khó có thể tìm thấy một thành phố ở châu Âu ở đó khát vọng về văn hóa lại cuồng nhiệt hơn ở Vienne. Vì nền quân chủ Áo từ nhiều thế kỷ đã trút bỏ những tham vọng chính trị của nó và không hề đạt được một thắng lợi chói lọi nào trên chiến trường, lòng tự hào dân tộc đã chuyển thành ý chí khẩn thiết giành lấy ưu thế nghệ thuật. Từ đế quốc Habsbourg đã thống trị châu Âu, từ lâu nhiều tỉnh vừa quan trọng vừa giàu có đã tách ra: đất Đức và Italia, xứ Flandres và xứ Wallon; song thủ đô vẫn giữ nguyên vẻ huy hoàng xưa, nó là nơi ẩn náu của triều đình, người gìn giữ một truyền thống nghìn năm. Những người La Mã đã đặt những viên đá đầu tiên của thành phố này, họ đã dựng một pháo đài Castrum( ) trạm tiền đồn chuyên bảo vệ nền văn minh La tinh chống lại những người man rợ, và hơn một ngàn năm sau, sự tiến công của người Thổ Nhĩ Kỳ chống lại phương Tây đã bị đập tan trên những thành lũy này; những người Nibelungen( ) đã tới đây, từ nơi đây đã chói lọi khắp thế giới chòm bẩy ngôi sao nhạc sĩ bất tử: Gluck, Haydn và Mozart, Beethoven, Schubert, Bramhs và Johann Strauss, đây là nơi hợp lưu của tất cả các dòng văn hóa châu Âu; ở triều đình, trong giới quý tộc, trong dân chúng, những dòng máu Đức, Slave, Hung, Tây Ban Nha, Italia, Pháp, Flandres được hòa trộn và chính thiên tài thực sự của thành phố âm nhạc này đã dung hợp một cách hài hòa tất cả những sự trái ngược đó thành một cái gì mới mẻ và đặc thù tinh thần Áo, tinh thần Vienne. Niềm nở và được phú cho một ý thức tiếp nhận đặc biệt, thành phố này lôi cuốn về phía mình những lực lượng phân tán nhất, nó bảo vệ chúng, luyện chúng thành ôn hòa và mềm mại, cuộc sống là thích thú trong bầu không khí của sự hòa giải trí tuệ này, và, vô hình trung, mỗi người tư sản của cái thành phố này, bằng sự giáo dục của mình, đã đến với chủ nghĩa thế giới, nó gạt bỏ mọi chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, và cuối cùng đến với phẩm cách của người công dân thế giới.


Cái nghệ thuật của sự đồng hóa này, của những bước chuyển từ từ và mềm mại này đã được thể hiện ở cấu trúc bề ngoài của thành phố. Mở rộng qua nhiều thế kỷ và phát triển hữu cơ từ vành đai trung tâm đầu tiên, thành phố khá đông dân cư với hai triệu người phô bày ra tất cả sự sang trọng và tất cả sự đa dạng của một thành phố lớn, nhưng nó cũng không quá lớn đến mức tách với thiên nhiên như Luân Đôn hay New York. Những ngôi nhà ngoài cùng của thành phố soi mình trong dòng nước uy nghiêm của sông Danube hoặc nhìn ra cánh đồng lớn, hoặc mất hút trong những khu vườn và đồng ruộng, hoặc xếp thành tầng trên sườn đồi thoai thoải ở những lớp núi ngang có cây của dãy Alpes, người ta hầu như không nhận ra bước chuyển từ thiên nhiên sang cụm dân cư thành thị vì cái này hòa vào cái kia không chút cản trở, không chút bất hòa; ở phía trong, người ta cảm thấy thành phố phát triển như một thân cây, vòng nọ tiếp vòng kia; và ở chỗ những pháo đài ngày xưa, trái tim quý giá của thành phố được bao bọc trong Ring - đường phố của những tòa lâu đài tráng lệ; ở trung tâm, những lâu đài cổ của triều đình và của giói quý tộc kể lại cả một lịch sử được lưu giữ trong những tảng đá; chỗ này, Haydn đã là khách mời của gia đình Esterhazy, xa hơn, tại trường đại học cổ, sự sáng tạo của Haydn vang lên lần đầu tiên, thành phố Hof đã chứng kiến nhiều thế hệ hoàng đế, Schưrbrunn đã là nơi Napoléon cư ngụ, trong vòm nhà thờ Saint-Etienne, các hoàng tử Thiên Chúa giáo liên minh đã quỳ xuống tạ ơn Thượng đế đã giải phóng châu Âu thoát khỏi một cuộc tấn công của người Thổ Nhĩ Kỳ, trường Đại học tổng hợp đã đón tiếp trong những bức tường của mình vô số ngọn đuốc của khoa học; và giữa tất cả các công trình nghệ thuật cổ, nền kiến trúc mới đứng sừng sững một cách tự hào, tráng lệ với những đại lộ sáng choang và những cửa hiệu chói lọi. Nhưng cái cổ xưa không phải thiếu hài hòa với cái hiện đại khác nào đá tạc với thiên nhiên nguyên sơ. Thật là thú vị được sống ở đây, ở cái thành phố hiếu khách này, nó đón nhận tất cả những gì từ các nước khác tới và ban phát một cách rộng lượng, thật là tự nhiên hơn được hưởng thụ cuộc đời trong không khí nhẹ nhàng bay bổng của nó, cũng giống như ở Paris được hưởng sự thanh thản vậy. Vienne, như mọi người đều biết, là một thành phố hưởng thụ, nhưng ý nghĩa của văn hóa là gì, nếu không là rút ra từ nguyên liệu của cuộc sống bằng những sự quyến rũ êm ái của nghệ thuật và của tình yêu, những gì dịu dàng nhất và tế nhị nhất mà nó ẩn giấu. Nếu người ta thực sự sành ăn trong cái thành phố này, rất chú ý thưởng thức rượu vang ngon, bia ngon tươi và chát, những món tráng miệng và những bánh bao đầy nhân, người ta cũng tỏ ra tinh tế trong những sự thưởng thức thanh tao hơn. Tài âm nhạc, tài khiêu vũ, tài biểu diễn sân khấu, tài giao tiếp, ứng xứ nhã nhặn, làm vui lòng bằng sự giúp đỡ được trau dồi ở đây như một nghệt thuật đặc biệt. Công việc quân sự, chính trị hay thương nghiệp không giữ một vị trí ưu thế trong đời sống của các cá nhân cũng như của xã hội trong tổng thể của nó. Người dân bình thường thành Vienne lướt cái nhìn đầu tiên lên tờ báo buổi sáng không phải là chú ý tới những tranh luận của Nghị viện hay những sự kiện của thế giới, mà tới các tiết mục của sân khấu, và sân khấu giữ ở đây một tầm quan trọng trong đời sống xã hội mà hẳn người ta khó hiểu ở các thành phố khác. Bởi vì Nhà hát Hoàng gia Burghtheater, đối với người dân thành Vienne, đối với người dân nước Áo là cái gì đó cao hơn, nhiều hơn một sân khấu đơn giản nơi các diễn viên sắm vai; đó là cái thế giới vi mô phản ánh thế giới vĩ mô, là chiếc gương nhiều mặt mà xã hội tự soi mình, cái Cortegiano( ) duy nhất chân chính, sách gối đầu giường của thị hiếu tao nhã. Diễn viên của nhà hát Hof dùng làm mẫu cho khán giả: mọi người học tập ở họ cách ăn vận, cách bước vào căn phòng, cách trò chuyện, những từ nào mà một người có giáo dục tốt có thể dùng được, những từ nào phải tránh; sân khấu không phải là một nơi tiêu khiển, mà là một kim chỉ nam bằng lời nói và bằng hành động về kiểu cách thượng lưu, về sự phát âm chính xác; và một vầng hào quang của sự kính trọng bao quanh lấy tất cả những ai đã có mối quan hệ, dù là xa xôi, với nhà hát của Hoàng cung. Chủ tịch hội đồng tư vấn, một ông trùm tư bản giàu có nhất có thể đi qua các phố thành Vienne không có ai ngoái nhìn; nhưng mỗi một người bán hàng, mỗi người đánh xe ngựa thuê đều nhận ra một diễn viên của Nhà hát hay một ca sĩ của Opéra. Khi bọn trẻ con chúng tôi gặp người nào trong số họ (mỗi chúng tôi sưu tập ảnh của họ, bút tích họ), chúng tôi lấy làm tự hào kể lại sự kiện đó, và sự tôn sùng gắn tới mức thần tượng mà chúng tôi dành cho các nhân vật đó đi xa tới mức lan cả tới những người bao quanh họ, người cắt tóc cho Sonnenthal, người đánh xe cho Joseph Kainz là những người được kính trọng mà mọi người thầm thèm muốn; có những người trẻ tuổi thanh lịch lấy làm kiêu hãnh được cắt áo quần bởi cùng người thợ may. Mỗi ngày cưới, mỗi đám tang của một diễn viên lớn là một sự kiện có tầm quan trọng, nó xếp vào xó tối tất cả những sự kiện thuộc về chính trị. Tác phẩm được diễn ở Nhà hát Thành phố là mơ ước tột cùng của mọi nhà văn Áo, bởi vì điều đó phong cho anh ta một thứ quý phái trọn đời và mang lại đủ thứ biệt đãi danh dự, như là cả đời vào cửa khỏi trả tiền vé, và được dự tất cả các cuộc tiếp đãi chính thức, người ta trở thành khách của một hoàng gia, và tôi còn nhớ về sự trọng thể đối với bản thân khi tác phẩm của tôi được diễn. Buổi sáng ông giám đốc Nhà hát mời tôi đến bàn giấy của ông, sau những lời khen ngợi thông thường, ông thông báo rằng vở kịch của tôi được chấp thuận; buổi chiều về nhà tôi đã thấy tấm thiếp của ông ta ở đó; ông đã đến thăm để đáp lễ đích danh tôi, khi đó mới 26 tuổi; với tư cách là tác giả của sân khấu Hoàng gia, do độc nhất việc được chấp nhận, tôi đã được xếp vào hàng "gentleman" (người hào hoa phong nhã) và một giám đốc Nhà hát ấy đã đối xử tôi ngang hàng. Và những gì xảy ra ở Nhà hát Hoàng gia làm xúc động gián tiếp mọi người ngay cả những người không có chút quan hệ trực tiếp nào với sự kiện. Tôi hồi tưởng lại, ví dụ như, vào thời tôi mới lớn, bà nấu bếp của gia đình tôi một hôm chạy ùa vào phòng khách mắt đẫm lệ: người ta vừa cho bà biết rằng Charlotte Wolter, nữ diễn viên nổi tiếng nhất của Nhà hát Thành phố đã qua đời, điều kỳ cục của nỗi đau tang tóc ồn ào này là người làm bếp già nua mù chữ của chúng tôi chưa hề đặt chân lần nào vào nhà hát quý tộc ấy và chưa bao giờ nhìn thấy Wolterr trên sân khấu, chưa hề gặp bà ta lần nào trên đường phố; nhưng một nữ nghệ sĩ quốc gia lớn đã thực sự là tài sản chung của tất cả thành phố, ở Vienne, đến mức mà ngay cả người không có chút phần nào trong đó cũng cảm thấy cái chết của bà ta như một tai họa. Mỗi tổn thất, sự ra đi của một ca sĩ hay một nghệ sĩ tiếng tăm biến thành một quốc tang, không thể khác được. Khi nhà hát "cũ" của Thành phố, nơi biểu diễn lần đầu tiên vở Đám cưới của Figaro của Mozart, bị phá hủy, tất cả xã hội thành Vienne tụ họp lần cuối cùng trong căn phòng, tỏ thái độ trang nghiêm, sầu não mà người ta thường có trong lễ tang, tấm màn còn chưa hạ xuống mà tất cả mọi người vội ùa lên sân khấu để ít nhất mang đi một mẩu vỡ của sàn diễn đã sản sinh ra những nghệ sĩ yêu dấu để làm di vật, và trong hàng tá gia đình tư sản sau nhiều thập kỷ, người ta còn có thể nhìn thấy những mẩu gỗ không có hình thù đó được cất giữ trong những cái tráp quý, giống như những mẩu Thánh giá trong các nhà thờ. Bản thân chúng tôi, chúng tôi đã không có một cách xử sự nào ít nhiều hợp lý hơn khi căn phòng gọi là của Bojendorf bị phá ủy. Bản thân căn phòng ấy là phòng hòa âm dành riêng cho âm nhạc thính phòng, là một kết cấu không có vẻ bên ngoài, không có đặc tính nghệ thuật nơi tập ngựa cũ của hoàng tử Lichtenstein lát gỗ rất đơn giản và như vậy cũng phù hợp với công dụng mới của nó. Nhưng nó có tiếng vang của một cây vĩ cầm xưa, nó là một nơi thiêng liêng cho những tay mê nhạc, bởi vì Chopin và Brahms, Liszt và Rubinstein đã có những buổi hòa nhạc ở đấy và bao nhiêu là những "Khúc nhạc bốn phần" lừng danh đã được cho nghe lần đầu ở đấy, thế mà ngày nay nó phải nhường chỗ cho những xây dựng mới; điều đó bất lịch sự đối với chúng tôi là những người đã sống ở đấy những thời khắc không bao giờ quên được. Khi nhịp cuối của Beethoven đã tắt và nhạc công đàn dây Rosé đã biểu diễn diệu kỳ như chưa từng thấy, không ai rời chỗ ngồi. Chúng tôi vỗ tay vang, các bà nức nở khóc trong cơn xúc động, không ai muốn công nhận đây là sự chia ly cuối cùng. Người ta tắt đèn trong phòng để giải tán chúng tôi. Không một ai trong số bốn trăm hay năm trăm người cuồng tín đứng dậy. Chúng tôi ngồi nửa giờ, một giờ tưởng chừng như vì sự hiện diện của chúng tôi, chúng tôi có thể đủ sức làm cho cái nơi thiêng liêng này được cứu thoát. Và bao nhiêu là đơn khiếu nại, đơn thỉnh cầu, bài báo, bao nhiêu là những cuộc biểu tình do sinh viên chúng tôi tổ chức để cho nhà tang của Beethoven không bị phá hủy! Mỗi nơi ở lịch sử tại Vienne đối với chúng tôi là một chút linh hồn mà người ta rứt ra khỏi thể xác của chúng tôi.


Sự cuồng tín đó đối với mỹ thuật và đặc biệt là đối với nghệ thuật sân khấu bắt gặp ở Vienne trong tất cả các tầng lớp dân chúng. Trong bản thân nó, do truyền thống của nhiều thế kỷ Vienne là một thành phố phân tầng rất rõ rệt, nhưng đồng thời (như có một lần tôi đã viết điều này) cũng là một thành phố rất mực hòa hợp. Chiếm vị trí đầu não bao giờ cũng là Hoàng cung. Hoàng cung ở trung tâm Nhà nước quân chủ có nhiều sắc tộc, không chỉ với nghĩa không gian thuần túy, mà cả với ý nghĩa văn hóa. Bao quanh cung điện này, những dinh thự của giới đại quý tộc Áo, Ba Lan, Hung, hình thành một thứ hàng rào thứ nhì. Theo liền sau đó "xã hội thượng lưu" bao gồm lớp tiểu quý tộc, những công chức cao cấp, những đại diện của nền kỹ nghệ và những "gia đình có dòng dõi lâu đời", cuối cùng, bên dưới là tầng lớp tiểu tư sản và giai cấp vô sản. Mỗi giai cấp này tạo thành một thế giới nhỏ tách biệt, mỗi giai cấp đều có khu phố riêng. Giới đại quý tộc sống trong các lâu đài của họ ở trung tâm thành phố, giới ngoại giao ở khu phố thứ ba, giới kỹ nghệ và thương nghiệp ở vùng gần Ring, tầng lớp tiểu tư sản trong những khu phố ở giữa, từ thứ hai đến thứ chín, giai cấp vô sản ở những khu vực ngoại ô. Thế nhưng tất cả mọi người cùng đồng cảm ở Nhà hát hoặc trong các dịp hội hè lớn, ví dụ ở tết Hoa tại Prater, ở đó ba trăm nghìn người nhiệt tình hoan hô "mười gia đình thượng lưu" trong những chiếc xe của họ được trang hoàng lộng lẫy. Ở Vienne tất cả những gì bao hàm màu sắc và âm nhạc đều biến thành hội hè, những đám rước tôn giáo như là Lễ Thánh thể, những cuộc duyệt binh "ban nhạc của Hoàng cung", ngay cả những đám ma cũng được tiến hành với sự tham gia đông đảo của dân chúng nhiệt tình, và là tham vọng của mọi người dân Vienne hiền lương là có những lễ tang tốt đẹp với một đám rước sang trọng và nhiều người đi theo linh cữu; một người dân Vienne đích thực biến ngay cái chết của mình thành một cảnh tượng hấp dẫn đối với đồng bào mình. Tất cả thành phố nhất trí với nhau trong các thị hiếu ưa những gì sặc sỡ, vang động, tưng bừng, trong sự ham thích những cuộc biểu diễn, được coi như một trò chơi và một tấm gương soi của cuộc đời, dù ở trên sân khấu hay ở ngoài trời.


Thật dễ dàng chế giễu cái thói "ám ảnh sân khấu' của dân thành Vienne, đôi lúc đã thực sự trở nên lố bịch, khi nó khiến họ tìm hiểu những hoàn cảnh phù phiếm nhất trong cuộc đời của những người mà họ yêu quý; và người ta có thể thực sự quy sự thờ ơ về chính trị của chúng ta, sự thấp kém về kinh tế của chúng ta trước người láng giềng thật kiên quyết, Đế quốc Đức, một phần cho sự đánh giá quá cao những gì gây ra niềm vui thích. Nhưng sự quan tâm quá lớn dành cho những sự kiện của thế giới nghệ thuật đã làm chín muồi ở chúng ta một cái gì rất khác biệt, trước hết một sự sùng bái khác thường đối với tất cả những sản phẩm nghệ thuật, rồi, nhờ một sự luyện tập lâu dài, một kiến thức tinh tế về chúng, và sau cùng một trình độ rất cao của toàn bộ nền văn hóa của chúng ta. Bao giờ người nghệ sĩ cũng cảm thấy dễ chịu nhất và cũng được khuyến khích sáng tạo nhất ở chỗ họ được hâm mộ và ngay cả quá hâm mộ, nghệ thuật luôn đạt tới đỉnh cao của nó ở chỗ nó được hòa nhập vào đời sống của cả một dân tộc. Và cũng như Florence và Rome, ở thời Phục hưng, đã hấp dẫn về phía mình những nhà hội họa và dạy cho họ sự cao cả, bởi vì mỗi người trong số họ cảm thấy rằng mình phải không ngừng vượt qua những người khác và tự vượt qua chính mình trong cuộc thi vĩnh cửu này, nơi mà tất cả giới tư sản đều là quan tòa và cũng như vậy, những nhạc sĩ, những diễn viên ở Vienne biết rõ tầm quan trọng của họ trong thành phố. Ở rạp Opéra của Vienne, tại Nhà hát Thành phố, người ta không bỏ qua bất kỳ một sự không hoàn hảo nào; mỗi nốt nhạc sai đều tức thời được nhận xét, mỗi cuộc khai diễn không chỉnh, mỗi cắt xén đều bị kiểm duyệt, và sự kiểm tra này không phải chỉ được thực hiện ở những lần biểu diễn đầu bởi những nhà phê bình chuyên nghiệp, mà tối này qua tối khác bởi lỗ tai chăm chú, lọc lõi nhờ những so sánh triền miên, của toàn thể công chúng. Trong khi về chính trị, trong chính quyền, trong các phong tục, tất cả diễn ra nhì nhằng, và người ta có lòng khoan dung đối với tất cả những sự nhu nhược và sự chiếu cố, đối với tất cả những thiếu sót, còn trong các loại hình nghệ thuật thì không có chuyện tha thứ vì chúng liên quan đến danh dự của thành phố. Mỗi ca sĩ, mỗi diễn viên, mỗi nhạc công luôn buộc phải chơi hết mình, nếu không anh ta bị thất bại. Được sự ưa chuộng của những đám đông ở Vienne là điều tuyệt diệu, nhưng khó mà giữ được sự ưa chuộng đó: một sự cẩu thả không bao giờ được tha thứ. Và biết rằng mình không ngừng được canh chừng với một sự chủ tâm không thương xót, mỗi nghệ sĩ thành Vienne buộc lòng phải chơi hết mình, điều đó cắt nghĩa tại sao trình độ chung bao giờ cũng cao đến vậy. Mỗi người trong chúng tôi từ nhiều năm thời tuổi trẻ, đã đem vào đời một quy tắc nghiêm ngặt và không nao núng để phán xét những sản phẩm nghệ thuật. Ai đã biết ở Opéra, dưới sự điều khiển của Gustave Mahler, cái kỷ luật sắt đến từng chi tiết nhỏ nhặt, ở dàn nhạc của hội nhạc, cái nhiệt tình được gắn bó rất tự nhiên với độ chính xác nghiêm ngặt nhất, người đó ngày nay rất ít khi thỏa mãn với một màn kịch hoặc một cuộc biểu diễn âm nhạc. Nhưng chúng tôi cũng đã học tập để nghiêm khắc với bản thân mình và với những tác phẩm nghệ thuật của chúng tôi; một trình độ hoàn hảo nào đó đã là và vẫn là mẫu mực của chúng tôi, ở ít thành phố trên thế giới người ta đặt ra những đòi hỏi như vậy đối với những nghệ sĩ đang được đào tạo. Nhưng ý thức về nhịp điệu và về động tác chính xác, người dân bình thường chia sẻ nó với những người tinh tế, người tiểu tư sản thưởng thức cái "mới" đòi hỏi dàn nhạc chơi nhạc tốt cũng như là yêu cầu rượu vang hảo hạng ở người chủ quán. Mặt khác, ở Prater quần chúng biết chính xác những điệu kèn nhà binh nào chúa nhất, đó là những "bậc thầy Đức" hay những người Hung, ai sống ở Vienne kẻ đó thở với không khí cái ý thức về tiết tấu. Cũng như ở cánh nhà văn chúng tôi, thị hiếu âm nhạc thể hiện bằng một thứ văn xuôi đặc biệt trau chuốt, thì ý thức về nhịp bộc lộ ở những người khác bởi thái độ trong xã hội của họ và toàn bộ cuộc sống hằng ngày của họ. Một người Vienne không có thị hiếu nghệ thuật và không chuộng hình thức là không thể tưởng tượng được trong xã hội thượng lưu; và ngay cả trong những tầng lớp bên dưới, những kẻ nghèo hèn nhất hấp thụ một bản năng nào đó của cái đẹp trong đặc điểm của phong cảnh, trong sự trong sáng đã được nhân hóa của môi trường; người ta không phải là một người dân Vienne thực sự nếu không có cái tình yêu văn hóa đó, nếu không có cái năng khiếu hưởng thụ, cái lành mạnh nhất trong những cái phù phiếm mà cuộc đời trao tặng cho chúng ta, vừa hưởng thụ vừa đánh giá niềm vui của mình.


*


Vậy mà, sự thích nghi với môi trường mà một dân tộc và sự cư trú của họ tạo nên đối với những người Do Thái không chỉ là một biện pháp tự vệ bên ngoài, mà là một nhu cầu riêng tư và sâu sắc. Khát vọng của họ về một tổ quốc, về một sự nghỉ ngơi, về một sự thư giãn, về một sự yên ổn, về một nơi chốn mà họ không bị coi là những người xa lạ, đã buộc họ tự gắn bó một cách say mê với nền văn hóa của nợi họ sinh sống. Và chưa bao giờ một sự cộng sinh như thế lại tỏ ra thích hợp hơn và phồn thịnh hơn là ở nước Áo, nếu không phải ở Tây Ban Nha vào thế kỷ XV. Định cư trên 200 năm tại thành phố kinh đô, những người Do Thái gặp được ở đây một dân tộc với phong tục thoải mái và thái độ hòa giải, dân tộc ấy, đằng sau vẻ ngoài khinh suất, nuôi dưỡng cùng một bản năng sâu xa về những giá trị thẩm mĩ và trí tuệ mà đối với bản thân họ quan trọng biết nhường nào. Họ tìm thấy ở Vienne nhiều hơn thế: ở nơi đây họ có một nhiệm vụ phải hoàn thành. Trong suốt thế kỷ qua, sự sùng bái các nghệ thuật đã mất đi ở nước Áo những người gìn giữ, những người bảo vệ truyền thống, tôi muốn nói hoàng gia và giai cấp quý tộc. Trong khi ở thế kỷ XVIII Marie Thérèse giao cho Gluck chăm lo dạy âm nhạc cho các con gái của bà, khi Joseph II tranh luận với tư cách là người hiểu biết với Mozart về những Opéra của bậc thầy lớn này, khi Léopold III cũng soạn nhạc, những triều đại tiếp sau họ, François II và Ferdinand, không quan tâm đến mỹ thuật chút nào nữa, và vị hoàng đế François Joseph của chúng ta, ở tuổi 24, không đọc một cuốn sách nào ngoài cuốn Toát yếu nghệ thuật quân sự và không cầm trên tay một quyền nào khác mà còn biểu hiện với âm nhạc một ác cảm công khai. Và một cách tương tự, tầng lớp đai quý tộc đã từ bỏ sự bảo trợ nghệ thuật của mình; người ta đã chứng kiến ngày xưa những thời vinh quang lúc mà gia đình Esterhazy tiếp đón Joseph Haydn tại nhà họ, lúc mà các gia đình Lobkovitz, Kinsky và Waldstein tranh nhau vinh dự được tổ chức trong lâu đài mình cuộc biểu diễn đầu tiên những tác phẩm của Beethoven, lúc mà một bà công tước Thun vừa quỳ xuống trước đại ác quỷ vừa van xin ông ta đừng rút lui ở nhà hát Opéra tác phẩm Fidélio của mình. Wagner, Brahms và Johan Strauss hay Hugo Wolf không còn tìm thấy bên cạnh họ, một sự ủng hộ nhỏ nào; để giữ những buổi hòa nhạc của hội nhạc ở trình độ ngày xưa, để làm cho các nhà hội họa và điêu khắc có thể sống nổi, giai cấp tư sản cần phải nhảy lên chỗ trống, và đúng là lòng tự hào và tham vọng của giai cấp tư sản Do Thái muốn được xuất hiện hàng đầu ở đó và giữ cho danh tiếng của nền văn hóa Vienne vẫn chói lọi như xưa. Bao giờ họ cũng yêu cái thành phố này và đã thích nghi với nó bằng tất cả tâm hồn của họ, nhưng chỉ bởi tình yêu của họ đối với nghệ thuật Vienne mà họ tự xét mình đượng hưởng quyền công dân của Vienne và cảm thấy thực sự trở thành người dân Vienne. Vả lại họ chỉ đóng vai trò khá mờ nhạt trong đời sống công cộng; sự chói lọi của hoàng gia đẩy vào xó tối những tài sản của các cá nhân; những chức tước cao nhất trong việc điều hành quốc gia đại sự đều được cha truyền con nối, việc ngoại giao được dành riêng cho giới quý tộc, quân đội và những chức vụ cao nhất cho những gia đình dòng dõi lâu đời, và những người Do Thái không tìm cách chen lấn trong những giới bậc quyền ấy. Đầy tế nhị, họ tôn trọng và coi như là đương nhiên những đặc quyền truyền thống đó; tôi còn nhớ, chẳng hạn cho tôi suốt đời tránh ăn tối ở nhà hàng Sacher, không phải vì tiết kiệm, sự chênh lệch giá cả ở nhà hàng này và các khách sạn lớn khác rất nhỏ, nhưng bởi ý thức tự nhiên về những khoảng cách cần giữ, dường như ông cảm thấy khó chịu hoặc bất lịch sự nếu ngồi ăn gần bên bàn các hoàng tử Schwarzenberg hay Lobkovitz. Chỉ có trong sự sùng bái mỹ thuật là mọi người ở Vienne cảm thấy bình quyền, bởi vì tình yêu nghệ thuật được coi tại đây là nghĩa vụ của tất cả cộng đồng,Vienne và giai cấp tư sản Do Thái đã đóng góp một phần đáng kể vào sự phát triển văn hóa Vienne bằng cách tạo thuận lợi cho nó đủ mọi cách. Người Israel tạo thành công chúng thực thụ, họ choán đầy các nhà hát, các phòng hòa nhạc, họ mua các sách mềm, các bản tranh khắc, họ thăm các triển lãm. Với trí thông minh mềm dẻo hơn và ít bị tập quán ràng buộc hơn, ở đâu họ cũng là những người cổ động và những người bênh vực tất cả những sự mới mẻ. Gần như tất cả những sưu tập lớn về tác phẩm nghệ thuật thế kỷ XIX đã do họ tạo nên, gần như tất cả những dự định nghệ thuật đều do họ làm cho trở thành có thể thực hiện được. Không có niềm quan tâm thúc đẩy mà giai cấp tư sản Do Thái dành cho những sự vật này, mà nó trái với sự thờ ơ của triều đình, của giới quý tộc và của các nhà triệu phú Thiên Chúa giáo, chỉ duy nhất ham thích có ngựa đua và săn bắn, Vienne sẽ lạc hậu với Berlin trong lĩnh vực mỹ thuật, và như vậy trong cùng một mức độ mà về chính trị nước Áo đã ở bên dưới nước Đức. Người nào muốn đưa ra được một cái mới ở Vienne, khách lạ muốn gặp được một công chúng cảm thông thì rút cuộc phải tiếp xúc với giới tư sản Do Thái này; khi người ta thử thành lập một nhà hát gọi là "quốc gia", trong thời kỳ bài Do Thái, người ta không tìm được sự ủng hộ của tác giả nào, diễn viên nào, công chúng nào cả; và chỉ vài tháng sau, cái "Nhà hát quốc gia" đó thật bại thảm hại; và cái ý định đẻ non đó minh họa lần đầu tiên cho sự thật, rằng chín phần mười những gì mà thế giới hâm mộ như là nền văn hóa Vienne ở thế kỷ XIX, đã được ưu đãi, nâng đỡ, đôi khi sáng lập tự phát bởi cộng đồng Do Thái của thành phố.


Bởi vì có thể nhận thấy một cách chính xác rằng trong những năm cuối này, - như ở Tây Ban Nha trước đây, một tai họa bi thảm tương tự như thế - những người Do Thái ở Vienne đã trở thành những người sáng tạo nghệ thuật, không hẳn là vì những sản phẩm của họ có một đặc tính Do Thái một cách riêng biệt, nhưng vì đã tạo ra cho thiên tào Áo, cho thiên tài Vienne sự biểu hiện đậm đà nhất của một khả năng hội nhập thông minh và nhạy cảm kỳ diệu. Goldmark, Gustave Mahler và Schoenberg đạt được sự lừng danh quốc tế trong lĩnh vực soạn nhạc, Oscar Strauss, Léo Fall, Kalmann gây nên một kỳ nở rộ mới của điệu valse và của tiểu nhạc kịch truyền thống, Hofmannsthal, Arthur Schnitzler, Beer-Hofmann, Pierre Altenberg bảo đảm cho văn học Vienne một thứ hạng trong nền văn học châu Âu mà nó chưa bao giờ chiếm được ngay cả ở thời của Grillparzer và của Stifter; Sonnenthal, Max Reinhardt làm trẻ lại trên toàn thế giới niềm vinh quang của thành phố về nhà hát, Freud và những nhà khoa học có uy danh làm cho mọi cặp mắt quay nhìn nền Đại học nổi tiếng từ xưa; khắp nơi, các nhà bác học, những người có biệt tài, các họa sĩ, các đạo diễn, các kiến trúc sư và các nhà báo, bảo đảm những vị trí nổi tiếng mà người ta không nghĩ tới việc tranh chấp với họ trong đời sống trí tuệ của thành phố. Vì tình yêu say đắm của họ đối với thành phố này, vì ý chí của họ muốn hòa đồng với nó, họ đã thích ứng một cách hoàn toàn với nó, và họ đã sung sướng được phụng sự cho vinh quang của nước Áo; họ tin tưởng rằng làm điều đó là hoàn thành một sứ mệnh mà họ phải làm tròn đối với thế giới, và cần nhấn mạnh điều này vì lợi ích của chân lý: phần lớn nếu không phải là phần lớn nhất những gì mà châu Âu, mà châu Mỹ ngợi khen trong âm nhạc, trong văn học, trong sân khấu, trong những nghệ thuật ứng dụng như là biểu lộ sự phục sinh của nền văn hóa Vienne, đã được xây dựng bởi người Do Thái ở Vienne, như vậy họ sánh kịp với những đại diện xứng đáng nhất của giá trị tinh thần cao và của thiên tài ngàn năm của nòi giống. Một năng lượng trí tuệ trong nhiều thế kỷ chưa tìm thấy con đường của mình, liên kết tại đây với một truyền thống đã hơi chùng xuống, nuôi dưỡng nó, động viên nó, tiếp sức cho nó, làm tươi mới nó nhờ vào những sức mạnh mới và nhờ ở một hoạt động không mệt mỏi; người ta sẽ nhận thấy trong suốt những thập kỷ sau tội ác chống lại Vienne mà người ta đã phạm bằng cách chăm chú "quốc gia hóa" và "tỉnh lẻ hóa" một thành phố mà tinh thần và văn hóa chính là dựa vào sự hội tụ của những nhân tố không thuần chất nhất, vào tính chất "siêu quốc gia" của nó. Bởi thiên tài của Vienne, thực sự là âm nhạc, bao giờ cũng là hòa hợp trong bản thân mình tất cả những tương phản dân tộc và ngôn ngữ, nền văn hóa của nó là một sự tổng hợp của tất cả những nền văn hóa phương Tây; ai đã sống và làm việc ở đó đều cảm thấy thoát khỏi tất cả sự hẹp hòi và thoát mọi thành kiến. Không ở đâu dễ dàng là người châu Âu hơn, và tôi biết rằng tôi chủ yếu chịu ơn thành phố này, một thành phố từ thời Marc Aurèle đã bảo vệ chủ nghĩa đại đồng La Mã, về việc đã sớm được học tập yêu mến tư tưởng cộng đồng như là tư tưởng cao quý nhất mà trái tim tôi hằng ấp ủ.


*


Người ta sống tốt, người ta sống một cuộc sống dễ dàng và vô tư lự trong cái thành phố Vienne già nua này, và những người Đức ở phương Bắc nhìn với một chút coi thường và cả bực mình những người láng giềng vùng Danube của họ, đáng lẽ phải tỏ ra kiên quyết và chăm chỉ, những người tuân thủ chặt chẽ trật tự, thì lại buông mình trong cuộc sống hưởng thụ, lại thích ăn ngon, thích thú với các cuộc lễ tết và nhà hát, và cùng với những trò đó, lại chơi âm nhạc tuyệt vời. Thay vì cái "giá trị" Đức ấy, rút cuộc nó đầu độc và làm rối loạn sự sống của tất cả những dân tộc khác, thay vì sự thèm khát được nổi trội hơn những người khác, thay vì thích chơi nước trước khắp nơi, thì ở Vienne, người ta thích trò chuyện một cách êm ả, người ta ưa những cuộc hội họp thân tình, và người ta thừa nhận mỗi người có phần của mình, không tham muốn, và trong một tinh thần hòa giải độ lượng có thể có chút hèn nhát. "Sống và để cho người khác sống" đó là châm ngôn Vienne tuyệt đỉnh, và tôi cho là nhân đạo hơn tất cả những mệnh lệnh quyết đoán, nó tự áp đặt khắp nơi không cưỡng lại được. Giàu và nghèo, Tiệp và Đức, Do Thái và Thiên Chúa giáo sống hòa bình bất chấp đôi điều châm chọc nhất thời; và ngay cả những phong trào chính trị và xã hội không làm nổ ra những thù hằn độc địa mà những người đương thời của chúng ta hiện có trong huyết quản như một di sản bị đầu độc của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Trong nước Áo già nua, người ta hãy còn đấu tranh với những biện pháp nghĩa hiệp, quả là người ta chửi bới nhau trên báo chí hay trong nghị trường, nhưng sau những tràng lời lẽ theo phong cách Cicéron, những kẻ thù tập hợp nhau thân mật quanh một chiếc bàn, uống bia hay cà phê, xưng hô mày tao; ngay sau khi Lueger, thủ lĩnh Đảng bài Do Thái được chọn làm thị trưởng, chẳng có gì thay đổi trong những quan hệ riêng tư, và tôi phải thú nhận rằng không có người nào, không ở trường phổ thông nào, trường đại học nào, không ở trong giới các nhà văn, không hề bao giờ gây cho tôi chút bối rối nhỏ này hay tỏ ý khinh rẻ vì tôi là người Do Thái. Sự hận thù giữa các nước, các dân tộc, các giai cấp không bày ra hàng ngày trong tất cả các báo, nó còn chưa chia rẽ mọi người và các quốc gia, bản năng bầy đàn đáng ghét còn chưa phải là sức mạnh mà nó đạt được từ hồi đó trong đời sống công cộng; tự do hành động trong cái riêng tư vẫn là chuyện dĩ nhiên tới mức ngày nay khó hình dung; người ta không khinh bỉ sự bao dung như là một dấu hiệu của tính nhu nhược và của sự yếu đuối, người ta đánh giá nó rất cao như một sức mạnh tinh thần.


Bởi lẽ tôi không sinh ra và lớn lên trong một thế kỷ của đam mê. Đó là một thế giới có trật tự với những cấp độ khá xác định và những bước chuyển không cảm nhận thấy, một thế giới không lên cơn sốt và không vội vã. Máy móc, ô tô, máy điện thoại, máy vô tuyến, máy bay còn chưa áp đặt cho con người nhịp điệu của những vận tốc mới, thời gian và tuổi có một thước đo khác. Người ta sống một cuộc đời uể oải hơn, và khi tôi thử hồi tưởng lại vẻ ngoài của những ai đã là người lớn vào thời tôi còn trẻ con, tôi ngạc nhiên về con số quá lớn những người đã để lộ chứng béo phì trước tuổi. Cha tôi, các chú tôi, các giáo sư của tôi, những người bán hàng, những nhạc công của ban nhạc dây trước giá nhạc của họ ở độ tuổi 40 đều là những người to béo đồ sộ. Họ đi bước một, lời nói lúc nào cũng chững chạc và họ vuốt râu khi nói chuyện, bộ râu tỉa tót và thường đốm bạc. Nhưng mái tóc hoa râm còn là một dấu hiệu của phẩm cách đàng hoàng và một người "từ tốn" rất cẩn thận tránh những cử chỉ nóng nảy hăng hái của bọn thanh niên, bị coi là không hợp lẽ. Ngay thời tôi còn rất trẻ, lúc đó cha tôi chưa đầy 40 tuổi, tôi không nhớ có lần nào đã trông thấy ông chạy lên hoặc chạy xuống cầu thang gác hoặc làm một hành động nào đó với một sự vội vàng không che giấu. Sự hấp tấp không chỉ là biểu hiện của sự thiếu tao nhã, mà nó thực sự vô ích, bởi vì trong cái thế giới rất ổn định theo kiểu tư sản, với vô số những biện pháp an toàn nhỏ nhặt và những sự bảo trợ của nó, không bao giờ có điều bất ngờ xảy ra; những thảm họa bất chợt xảy đến ở xa, ở ngoại vi mảnh đất cư ngụ, không lọt qua nổi những bức thành chèn kỹ của cuộc sống "ổn định" này. Chiến tranh vùng Boers, chiến tranh Nga - Nhật, ngay cả chiến tranh vùng Balkans không đụng chạm đến cuộc sống của cha mẹ tôi. Các vị đọc lướt trên báo về tình hình chiến sự với thái độ dửng dưng mà họ có với các mục thể thao. Và thực ra thì những điều xảy ra bên ngoài nước Áo có gì đụng được đến họ, có gì thay đổi được cuộc sống của họ? Trong nước Áo, vào cái thời phẳng lặng đó, không hề có các cuộc cách mạng, không hề có sự hủy hoại đột ngột các giá trị; nếu bất chợt những thương phiếu giảm giá xuống bốn hoặc năm điểm, người ta gọi đó là một "krach" (cuộc phá sản) và người ta cau mày và nghiêm trạng nói đến một "thảm họa". Người ta phàn nàn vì thói quen hơn là vì tin rằng thuế má "nặng nề", những thuế này, trong thực tế, nếu so chúng với thời hậu chiến thì chỉ như một thứ tiền phong bao nhỏ bỏ ra cho Nhà nước. Người ta còn ấn định trong các chúc thư những điều khoản dành riêng cho việc bảo vệ các cháu và các chắt chống lại mọi sự mất mát tài sản, làm như sự yên ổn được bảo đảm cho bạn bằng một giấy biên nhận vô hình của những sức mạnh vĩnh cửu, và với điều đó người ta sống yên ổn và người ta sẽ vuốt những lo lắng nhỏ bé của mình như những con vật nuôi trong nhà hiền lành và dễ bảo, mà xét cho cùng, người ta không có điều gì phải sợ cả. Khi ngẫu nhiên một tờ báo cũ thời đó rơi vào tay tôi, tôi đọc những bài viết với lời văn say sưa về cuộc bầu cử nhỏ của Hội đồng thành phố, khi tôi tìm cách nhớ lại những vở đã trình diễn ở Nhà hát Thành phố với những đề tài nhỏ bé hoặc sự náo động không cân xứng của những cuộc tranh cãi trẻ con giữa chúng tôi về những đề tài vô nghĩa, tôi không giữ nổi nụ cười. Tất cả những lo lắng đó mới tí xíu làm sao, cái thời đó mới yên tĩnh làm sao! Cái thế hệ của cha mẹ và ông bà tôi, họ đã có được phần tốt đẹp, họ đã sống một cuộc đời phẳng lặng, tất cả thẳng tuột và trong sáng, từ khi sinh ra cho đến lúc xuống mồ. Vậy mà tôi không biết rằng tôi có ghen tị họ hay không. Họ đã trải qua cuộc sống mơ màng thức ngủ của họ như ở bên ngoài tất cả những cay đắng thực, những sự phản trắc và những sức mạnh của số phận, họ đã né tránh tất cả những cơn khủng hoảng và những vấn đề nghiền nát trái tim, nhưng những điều đó cũng mở rộng tâm hồn một cách diệu kỳ. Sống trong sự yên ổn, trong tiền của, trong tiện nghi họ hiểu ít biết bao nhiêu rằng cuộc đời cũng có thể là sự quá mức và sự căng thẳng, cũng có thể toàn là sự bất ngờ và sự dứt bỏ; trong chủ nghĩa tự do đáng cảm động và chủ nghĩa lạc quan của họ, họ ít ngờ biết bao nhiêu rằng ngày đang ló rạng có thể phá tan cuộc đời chúng ta. Ngay cả vào những đêm tăm tối nhất của họ không thể hình dung trong giấc mơ rằng con người có thể trở nên đáng sợ biết bao, nhưng con người cũng có bao nhiêu sức mạnh trong họ để đối mặt với những hiểm nguy và vượt qua những thử thách. Chúng ta bị ném qua tất cả những thác ghềnh của cuộc đời, chúng ta bị nhổ bật khỏi tất cả cội rễ đã ràng buộc mình, chúng ta những người lại khởi đầu với những tổn phí mới mỗi khi bị dồn nén vào ngõ cụt, chúng ta, nạn nhân và cũng là người phục vụ tự nguyện của những thế lực bí ẩn, chúng ta, những người mà tiện nghi đã trở thành huyền thoại và sự yên tĩnh, một giấc mơ con trẻ, chúng ta cảm nhận được trong mỗi thớ thịt của mình sự căng thẳng chạy từ cực này sang cực khác và cơn rùng mình của sự đổi mới bất tuyệt. Mỗi giờ của chúng ta gắn liền với số phận của nhân loại. Trong nỗi đau và trong niềm vui, chúng ta đã sống những thời kỳ và một lịch sử chạy trải ra rất xa bên ngoài sự tồn tại nhỏ bé của chúng ta, trong khi những người kia sống tù túng trong bản thân họ. Vậy là mỗi người chúng ta, ngay cả những người hèn mọn nhất của giống loài chúng ta, ngày hôm nay biết về những thực tế của cuộc đời ngàn lần nhiều hơn người khôn ngoan nhất trong cha ông chúng ta. Nhưng không có gì chúng ta được cho không, chúng ta đã trả đầy đủ và bằng tiền đang lưu hành ngày hôm nay, cái giá của những gì chúng ta đã nhận được.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Thế giới những ngày qua. Tự truyện của Stefan Zweig. Phùng Đệ và Trần Nam Lương dịch. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 10.12.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 10.12.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 10.12.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 07.12.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 06.12.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 05.12.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 05.12.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 05.12.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 02.12.2019
xem thêm »