tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29829293
Tiểu thuyết
23.12.2011
Stefan Zweig
Thế giới những ngày qua

LỜI GIỚI THIỆU


Thế giới những ngày qua - Hồi ức của một người dân châu Âu là tác phẩm cuối cùng của  văn hào Áo Stefan Zweig. Ông  viết tác phẩm này trong vài năm đầu của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, sau khiđã rời bỏ nước Áo, rời bỏ châu Âu sang sống lưu vong ở Brésil.


Quyển sách mang tính chất tự truyện, đã phản ánh chân thật và đầy đủ cuộc đời của Stefan Zweig.


Ông là một nhà văn lớn, viết nhiều thể loại: thơ, kịch, tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận văn học, ký, bút ký lịch sử, đặc tả chân dung… Và ở thể loại nào ông cũng đạt tới đỉnh cao.


Ông là một nhà sưu tầm bút tích và di vật văn hóa nghệ thuật bậc thầy, luôn nắm bắt được những tư liệu tiêu biểu biểu hiện những giờ phút sáng tác xuất thần, những giờ phút rực sáng của các nghệ sĩ.


Ông là một nhà nhân đạo chủ nghĩa, kiên cường đấu tranh cho hòa bình hữu nghị giữa các dân tộc, kiên quyết chống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh.


Ông là một người chăm đi du lịch không mệt mỏi: Bỉ, Thụy Sĩ, Đức, Pháp, đến Italia, Anh, Tây Ban Nha, Liên Xô, hết châu Âu đến châu Á với Ấn Độ, Đông Dương, châu Mỹ với Hoa Kỳ, Mêhicô, Brésil…


Ông là người gốc Do Thái nếm đủ các cực hình mà chế độ phát xít Hitle dành cho dân tộc Do Thái, đặc biệt là thấy sách mình bị cấm, bị đốt, bị đóng đinh treo ở các quảng trường của nước Đức quốc xã và bản thân chịu lưu đày dài ngày, luôn sống với tâm trạng "không Tổ quốc" suốt nhiều năm tháng.


Có hiểu rõ năm mặt đó của cuộc đời ông mới dễ dàng theo dõi những trang hồi ký đan xen nhiều hoạt động của ông với những thành công và thất bại, những niềm vui và nỗi buồn, những nỗi cực nhục và những niềm vinh quang.


Thế giới những ngày qua là cuốn hồi ký không chỉ về một con người mà là cuốn hồi ký của cả một thế hệ, một thời đại. Bạn đọc chứng kiến sự suy tàn của Đế chế Áo dưới triều đại Hasbourg, những chua cay của Chiến tranh thế giới thứ nhất cho người thắng trận cũng như người bại trận, hậu quả của chiến tranh qua hai cuộc lạm phát rùng rợn ở Áo và ở Đức, sự phục hồi nhanh chóng của châu Âu trong những năm 20 và 30 của thế kỷ XX, hi vọng chóng tàn đối với hoạt động của Hội Quốc Liên, sự lên nắm quyền của Hitle và việc chuẩn bị Chiến tranh thế giới thứ hai. Khi quyển hồi ký khép lại vào năm 1939, chân trời châu Âu đã đen kịt mây mù chiến tranh và Stefan Zweig đã ở tuổi sáu mươi, chỉ còn sống vẻn vẹn chưa đầy ba năm nữa thôi.


Không bằng lòng với những phác họa hời hợt trên bề mặt một xã hội với hoạt động lăng xăng của các chính khách (và chính khứa nữa!), cuốn hồi ký đã đi sâu vào các tầng lớp nhân dân, khắc họa sâu sắc không chỉ số phận của các dân tộc mà của các tầng lớp dân chúng, nhất là lớp bình dân nghèo khổ, số phận những con người cụ thể bằng xương bằng thịt.


Quyển hồi ký trải dài qua hơn nửa thế kỷ với nhiều năm tháng ngồn ngộn sự kiện và cũng trải rộng trong không gian qua nhiều đất nước xứ sở. Trục chính châu tuần xung quanh nước Áo với thủ đô Vienne và thành phố biên giới Salzbourg rồi mở rộng dần qua Bỉ, Đức, Thụy Sĩ, Pháp, Italia, Tây Ban Nha, Anh, Ấn Độ, Hoa Kỳ, Mêhicô, Brésil… Đây thực sự là quyển hồi ký của một công dân châu Âu, một công dân thế giới.


Nổi lên như những cái phao sáng làm tiêu điểm cho không gian và thời gian rộng lớn ấy là những bức chân dung mà bạn đọc sẽ bắt gặp rải rác qua các trang hồi ký. Dường như Stefan Zweig không chú ý bao nhiêu đến các chính khách như vua Charles, Hanshoffer, Rathénau, Mussolini, Hitle, Chamberlain mà thường ông chỉ thuật lại lác đác một số hành tung. Mọi cố gắng đều dành tập trung khắc họa chân dung các nhà văn và nhà văn hóa. Bạn đọc sẽ hứng thú đọc những trang về Hoffmannsthal (nhà văn Áo), Verhaeren (nhà thơ Bỉ), Rilke (nhà văn Airơlen), Maxim Gorki (nhà văn Nga), Bernard Shaw và H.G. Wells (hai nhà văn Anh), Rodin (nhà điêu khắc Pháp), Sigmund (nhà phân tâm học Áo)… Stefan Zweig viết về các đồng nghiệp với tất cả sự khiêm nhường và quý trọng, với một tấm lòng thương yêu trìu mến thực sự…


"Cảo thơm lần giở trước đèn"…


Những trang hồi ký của Stefan Zweig đầy cảm xúc và đầy trí tuệ. Người dịch đã để nhiều năm tháng, công sức và tâm huyết để diễn đạt chúng ra một thứ tiếng Việt trong sáng và dễ hiểu. Chắc chắn đó là cơ sở để bạn đọc can đảm bước vào một quyển sách dày hơn 400 trang và ở miết trong đó với một niềm say mê khôn dứt.


Cuối sách, chúng tôi dịch và in thư tuyệt mệnh của Stefan Zweig, viết vài phút trước lúc cùng vợ đi vào cõi chết thực sự tự nguyện…


Cuộc đời lớn lao của một con người cuối cùng là vô gia cư, không Tổ quốc như dân tộc Do Thái lúc bấy giờ còn chưa có Quốc gia, chưa có Tổ quốc hẳn sẽ làm xúc động sâu sắc những người hiện nay đang phấn đấu cho một thế giới không có nghèo đói, không có chiến tranh và cho một nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ,công bằng và văn minh.


 


Hãy đối mặt với thời gian


Như nó tìm kiếm chúng ta


(Shakespeare - Cymbelina)


 LỜI TỰA


Tôi không bao giờ cho con người tôi là quan trọng tới mức toan đem truyện đời mình kể cho người khác. Phải đã xẩy ra nhiều việc, một tổng số những sự kiện, tai biến, thử thách mà hiếm có một thế hệ con người nào đã trải qua như vậy để cho tôi đủ can đảm bắt đầu một quyển sách mà nhân vật chính hoặc đúng hơn, trung tâm là bản thân cái tôi của tôi. Việc làm nổi bật mình lên bằng cách đó là hoàn toàn xa lạ với ý định của tôi, tôi chỉ muốn đứng với tư cách người bình luận cuốn phim đang diễn ra: thời gian sản sinh ra những hình ảnh; tôi chỉ hạn chế ở một vài từ giải thích, và không phải tôi kể số phận của tôi mà đúng hơn là số phận của cả một thế hệ, thế hệ kỳ lạ và đầy ắp số mệnh của chúng tôi mà ít thế hệ khác có được trong tiến trình lịch sử. Mỗi người chúng tôi, kể cả người bé nhỏ nhất và khiêm nhường nhất cũng bị xáo động trong con người sâu kín của mình bởi những cơn giật nẩy của núi lửa đã không ngừng làm lay động dải đất châu Âu của chúng tôi. Và tôi, lẫn vào đám đông, tôi chỉ công nhận cho tôi một đặc quyền duy nhất: với tư cách người Áo, người Do Thái, nhà văn, nhà nhân văn và nhà hòa bình chủ nghĩa, tôi luôn tự thấy có mặt ở nơi mà những cơn giật địa chấn đó xẩy ra dữ dội nhất. Chúng đã ba lần đảo lộn tổ ấm gia đình và cuộc sống của tôi, đã tách tôi ra với một sự mãnh liệt bi thảm khởi tất cả quá khứ của tôi và quẳng tôi vào hư không, đến cái xứ sở mà tôi đã biết rất rõ ở đó sự hỗn loạn làm người ta kêu lên: "Tôi không biết đi đâu cả". Nhưng tôi không than phiền: Người - Không - Tổ quốc ở một ý nghĩa nào đó tự thấy được giải thoát và người không còn sự gắn bó sẽ không còn quan tâm đến cái gì cả. Tôi hy vọng bằng cách đó đạt được một trong những điều kiện cơ bản của mọi sự mô tả trung thực thời đại của chúng tôi: sự chân thật và tính vô tư.


Vì nếu bao giờ có ai đó tự thấy bị tước bỏ mọi gốc rễ, và cả mảnh đất nuôi sống các gốc rễ đó, thì người đó chính là tôi. Tôi sinh ra năm 1881 trong một đế chế lớn lao và hùng mạnh, đế chế của các triều đại Hasbourg; nhưng mong rằng ngày nay đừng ai tìm nó trên bản đồ: nó đã bị xóa bỏ không để lại dấu vết. Tôi được nuôi dưỡng ở Vienne, một thành phố lớn hai nghìn năm lịch sử, thủ đô của nhiều quốc gia, và tôi đã phải từ biệt nó như một kẻ tội phạm, trước khi bản thân nó chịu sỉ nhục để chỉ còn là thành phố tỉnh lẻ của Đức. Tác phẩm văn chương của tôi trong ngôn ngữ gốc đã bị đốt thành tro ngay ở đất nước mà sách của tôi đã làm bạn với hàng triệu độc giả. Như vậy là tôi không còn mối liên hệ ở nơi nào cả. Khắp nơi tôi là người xa lạ, cùng lắm là khách trọ ở nơi mà số phận ít thù địch với tôi nhất. Ngay cả cái Tổ quốc đích thực mà trái tim tôi đã chọn, châu Âu, tôi cũng mất luôn nó kể từ khi lần thứ hai, bị cơn sốt tự sát ám hại, nó đã xâu xé nhau trong một chiến cuộc huynh đệ tương tàn. Trái với ý muốn của tôi, tôi đã là chứng nhân của sự thất bại kinh khủng nhất của lý trí và sự chiến thắng dã man nhất của tính tàn bạo mà sử biên niên của các thời đại đã chứng thực. Không bao giờ - tôi ghi lại điều này không phải với niềm kiêu hãnh mà với một nỗi xấu hổ - một thế hệ bị rơi như thế hệ chúng tôi từ một sự hùng mạnh về trí tuệ như vậy xuống một sự sa đọa như vậy về đạo đức. Trong một số ít năm trong đó râu tôi từ lúc bắt đầu mọc đến lúc đốm bạc, trong một nửa thế kỷ, đã diễn ra nhiều biến đổi triệt để hơn ở những thời kỳ khác trong mười đời người; và mỗi người trong chúng tôi đều cảm nhận điều đó: đã xảy ra quá nhiều điều! Ngày hôm nay của tôi khác biệt với mỗi ngày hôm qua, trên những thăng trầm tôi đã chịu, đến mức hình như đôi khi tôi đã sống không phải một cuộc sống mà nhiều cuộc sống khác hẳn nhau. Vì thường xảy ra với tôi là, khi nói mà không chú ý: "Cuộc đời tôi", tôi bất giác tự hỏi: "Cuộc đời nào trong các cuộc đời của tôi?" Cuộc đời trước Chiến tranh thế giới, cuộc đời trước Chiến tranh thế giới thứ nhất hay trước Chiến tranh thế giới thứ hai, hoặc cuộc đời của tôi bây giờ? Rồi tôi đột nhiên tự nhận thấy mình nói: "Ngôi nhà của tôi" và tôi không thể nhận ra ngay là mình muốn nói về chỗ nào trong những chỗ ở cũ của tôi, chỗ ở tại Bath hay tại Salzburg, hay là ngôi nhà của bố mẹ tôi ở Vienne. Hoặc nữa, nếu tôi nói "Ở nước chúng tôi", tôi kinh hoàng nhớ ra rằng từ lâu tôi không còn hòa nhập với người của nước tôi nhiều hơn với người Anh, người Mỹ, rằng tôi không còn gắn bó hữu cơ với những người ở nơi ấy nhiều hơn, và ở đây tôi không bao giờ tìm thấy thứ bậc và chỗ đứng bảo đảm; cái thế giới trong đó tôi lớn lên và cái thế giới ngày nay, và những thế giới xen vào giữa hai cực đó ngày càng tách biệt nhiều hơn trong tình cảm của tôi thành bấy nhiêu thế giới hoàn toàn khác biệt nhau; mỗi lần trong một cuộc nói chuyện, tôi kể lại cho những người bạn trẻ những tình tiết của thời kỳ trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, tôi chợt thấy qua những câu hỏi đầy ngạc nhiên của họ rằng bao nhiêu sự vật đã trở thành lịch sử đối với họ, rằng họ hình dung sai biết bao những gì đối với tôi còn là thực tại hiển nhiên. Và một bản năng bí ẩn trong tôi đã cho là họ có lý: giữa tôi và họ, giữa ngày hôm nay, ngày hôm qua, ngày hôm kia của chúng tôi, mọi cây cầu đã bị cắt đứt. Tôi không thể không ngạc nhiên về sự phong phú, sự đa dạng mà chúng tôi đã cô đặc lại trong khoảng thời gian ít ỏi của một cuộc sống duy nhất thực ra là rất mong manh và nguy hiểm, đơn giản khi tôi so sánh nó với lối sống của những người tiền bối. Bố tôi, ông tôi, họ đã thấy gì? Toàn bộ cuộc đời họ diễn ra trong sự đồng nhất. Một cuộc đời đơn nhất từ đầu đến cuối, không có sự thăng lên giáng xuống, không có chấn động và hiểm họa, một cuộc đời với những căng thẳng nhẹ nhàng, những bước chuyển không nhận thấy. Bằng cùng một nhịp điệu yên tĩnh và uể oải, làn sóng thời gian mang họ từ cái nôi đến cái mồ. Họ chỉ ở trong một nước, một thành phố và hầu như luôn luôn trong mỗi một ngôi nhà; những gì diễn ra bên ngoài, trong thế giới rộng lớn, chỉ là sự kiện trên các báo và không đến gõ cửa phòng họ. Một cuộc chiến tranh đúng là có nổ ra đâu đó, nhưng luôn chỉ là một cuộc chiến nhỏ so với quy mô những cuộc chiến ngày nay, và nó diễn ra xa các biên giới, người ta không nghe tiếng đại bác và chỉ trong vòng sáu tháng nó đã bị dập tắt, bị lãng quên, chỉ còn là một trang lịch sử đã khô héo và cuộc đời cũ tiếp tục, luôn là cuộc đời ấy. Còn đối với chúng tôi, tất cả những gì chúng tôi đã sống đi qua không trở lại, không gì còn lại từ những cái đã đến trước, không gì quay về. Chúng tôi được dành dấn toàn bộ cuộc sống vào trong một dòng thác sự kiện mà thường lịch sử trước đây phân bố một cách dè sẻn giữa một số nước, một số thế kỷ riêng biệt. Cùng lắm một thế hệ trải qua một cuộc cách mạng, thế hệ thứ hai một cuộc nổi dậy, thế hệ thứ ba một cuộc chiến tranh, thế hệ thứ tư một nạn đói, thế hệ thứ năm một cuộc phá sản - và nhiều dân tộc, nhiều thế hệ đầy ân sủng không hề biết đến những thứ đó. Còn như chúng tôi, ngày nay đang ở tuổi sáu mươi và được quyền sống vài năm nữa, có gì mà chúng tôi đã không kịp nhìn thấy và chịu đựng và đã không trải qua? Chúng tôi đã cày từ đầu này đến đầu kia thửa ruộng của tất cả các tai họa có thể tưởng tượng và chưa phải là đã giở đến trang cuối. Và mỗi một mình tôi, tôi đã là chứng nhân của hai cuộc chiến tranh lớn nhất đã làm nhân loại đau buồn, và tôi, tôi đã sống với chúng ở hai mặt trận khác nhau, cuộc thứ nhất ở mặt trận Đức và cuộc thứ hai, ở mặt trận đối lập. Thời trước chiến tranh, tôi đã hưởng được hình thức và trình độ cao cả nhất của tự do cá nhân và từ đó, chịu tình trạng bị làm mất phẩm giá tồi tệ nhất có thể thấy được qua nhiều thế kỷ; tôi đã được ca tụng và đã bị đặt ngoài vòng pháp luật; tôi đã được tự do và đã bị làm nô lệ, đã giàu và đã nghèo. Tất cả những con ngựa tái mét của Ngày tận thế đã nhảy xổ vào cuộc sống của tôi, cách mạng và đói kém, sự phá giá đồng tiền và sự khủng bố, những bệnh dịch và sự di cư. Tôi đã thấy lớn lên dưới mắt chúng ta và truyền bá vào trong quần chúng những ý thực hệ lớn: chủ nghĩa phát xít ở Italia, chủ nghĩa quốc xã ở Đức, chủ nghĩa bôlsơvích ở Nga, và trước hết, cái thối tha trong những cái thối tha là chủ nghĩa quốc gia, nó đã đầu độc cái hoa của nền văn hóa châu Âu của chúng ta. Tôi đã phải làm chứng nhân bất lực và không được bảo vệ của việc trở lại không thể tưởng tượng của nhân loại vào trạng thái dã man mà người ta tưởng đã bị lãng quên từ lâu, với những giáo điều và cương lĩnh chống nhân loại của nó được soạn thảo một cách có ý thức. Chúng tôi được dành cho nhìn thấy lại, sau nhiều thế kỷ, những cuộc chiến tranh không tuyên chiến, những trại tập trung, những nhục hình và những cưỡng đoạt hàng loạt, những trận ném bom các thành phố không phòng thủ, tất cả những hành vi thú vật mà năm mươi thế hệ vừa qua không biết đến và hy vọng rằng các thế hệ tương lai cũng không còn phải chịu. Và một cách nghịch lý, trong thời gian thế giới chúng ta đi thụt lùi một thế kỷ về đạo đức, tôi đã thấy cũng nhân loại ấy, bằng trí tuệ và kỹ thuật, đã tự nâng mình lên tới những điều kỳ diệu vô song, vượt quá bằng một sự cất cánh cả những gì mà nhiều triệu năm đã tạo được: sự chinh phục khoảng không của máy bay, sự chuyển đạt tức khắc lời nói trần tục trên toàn bộ diện tích của quả đất chúng ta và qua đó trên tất cả không gian đã được chinh phục, sự phân cách nguyên tử, những chứng bệnh âm ỉ được chữa trị thành công, sự thực hiện hầu như hằng ngày những gì hôm qua tưởng phải bó tay. Chưa bao giờ cho đến thời đại chúng ta, nhân loại trong cái tổng thể của nó tỏ ra quỷ quái hơn và hoàn thành nhiều kỳ tích hơn, chúng đặt nhân loại ngang tầm Thượng đế.


Tôi nghĩ rằng mình có nghĩa vụ làm chứng cho cuộc sống mãnh liệt, bi thảm, giàu những điều bất ngờ, là cuộc sống của chúng tôi, và xin nhắc lại, mỗi người đều là nhân chứng của những biến đổi lớn lao này, mỗi người đều bị bắt buộc phải là chứng nhân. Đối với thế hệ chúng tôi, không hề có lối thoát, không hề có nơi nghỉ ngoài cái thực tại hiện thời. Nhờ có tổ chức mới của chúng ta về sự đồng bộ phổ biến, chúng ta thường xuyên được gắn mình với thời đại. Khi những quả bom biến các ngôi nhà ở Thượng Hải thành mảnh vụn, chúng ta ở châu Âu trong các phòng ở của mình, biết được tin đó trước khi những người bị thương được đưa ra khỏi đống đổ nát. Tất cả những gì diễn ra cách hàng nghìn dặm ở bên kia các đại dương xông vào chúng ta bằng những hình ảnh sống động. Không có sự bảo vệ, không có sự an toàn chống lại nhu cầu được thường xuyên thông tin về tất cả, được tham gia mọi thứ. Không có một nước nào để có thể ẩn náu, không hề có sự cô đơn và sự im lặng nào có thể mua được. Khắp nơi, bàn tay số mệnh luôn luôn chộp lấy chúng tôi và đưa chúng tôi trở về với trò chơi không bao giờ biết chán của nó.


Luôn luôn phải quy phục những đòi hỏi của Nhà nước, dấn thân vào cái chính trị ngu xuẩn nhất, thích nghi với những thay đổi kỳ ảo nhất; luôn luôn người ta bị trói buộc vào cộng đồng, dẫu kịch liệt chống đỡ đến mấy; người ta bị lôi cuốn không cưỡng lại được. Ai đó đã đi qua, hoặc, để nói chính xác hơn, bị xua đuổi và vây dồn xuyên qua thời đại này - chúng tôi ít có lúc được nghỉ ngơi - đã sống nhiều lịch sử hơn mọi tổ tiên mình. Ngày nay chúng tôi lại tự thấy mình ở một bước ngoặt, ở một chỗ kết thúc và một chỗ khởi đầu. Không phải là không có ý định mà tôi ngưng cái nhìn phối cảnh này của cuộc đời đã qua của tôi ở một ngày tháng chính xác. Vì cái ngày tháng chín 1939 đó đặt một dấu chấm hết cho thời kỳ đã đào tạo và giáo dục những người tuổi sáu mươi, những người đương thời của tôi. Nhưng, nếu như bằng sự làm chứng của chúng tôi, chúng tôi truyền đạt đến thế hệ kế tiếp chúng tôi một mẩu nhỏ của sự thật được cứu khỏi ngôi nhà đang sụp đổ, thì chúng tôi đã không làm việc hoàn toàn vô ích.


Tôi ý thức được những điều kiện không thuận lợi nhưng rất đặc trưng của thời đại chúng ta, trong đó tôi tiến hành tạo hình cho những hồi ức của tôi. Tôi đã biên soạn chúng trong chiến tranh, ở nước ngoài và không hề có trong tay một tài liệu nhỏ nào có thể hỗ trợ cho trí nhớ của tôi. Tôi không có sẵn tại phòng khách sạn một bản nào các sách của tôi, không một ghi chú, không một lá thư bè bạn. Tôi không thể kiếm đâu ra một tin tức vì trên toàn thế giới dịch vụ bưu điện đã bị cắt ở các biên giới hoặc bị cơ quan kiểm duyệt gây trở ngại. Chúng tôi sống tách biệt nhau như vào thời xa xưa chưa chế tạo được tàu thủy, xe lửa, máy bay, bưu điện. Và tất cả quá khứ của tôi, tôi chỉ có, ở phía tôi, những gì tôi mang đằng sau trán. Tất cả những cái còn lại trong lúc này đối với tôi là hoặc không với tới hoặc đã mất. Nhưng, thế hệ chúng tôi đã học kỹ nghệ thuật tuyệt vời không hề để niềm thương tiếc những gì đã mất thiêu đốt mình, và có lẽ sự thiếu tài liệu này và thiếu các chi tiết trở nên có lợi cho tác phẩm của tôi. Vì tôi cho rằng ký ức của chúng ta không phải là năng khiếu nhớ lại một cách ngẫu nhiên những yếu tố nào đó và để trốn đi một cách ngẫu nhiên tất cả những gì còn lại, tôi nghĩ rằng đó là một sức mạnh biết tổ chức, sắp xếp các chất liệu với một ý thức đầy đủ về công việc của mình, một cách khôn ngoan. Tất cả những gì người ta quên về cuộc đời của mình, một bản năng bí ẩn đã từ lâu buộc phải lãng quên. Chỉ những gì mà người ta muốn giữ gìn cho mình mới có quyền được gìn giữ cho những người khác. Vậy, các hồi ức của tôi ơi, hãy nói lên và hãy chọn lựa cho tôi! Hãy ít nhất trả lại một phản chiếu của cuộc đời tôi trước khi nó chìm vào bóng tối.


 


THẾ GIỚI CỦA SỰ YÊN BÌNH


Được nuôi dưỡng trong sự tĩnh lặng,


trong nơi ẩn dật và trong thư thái,


Chúng ta bỗng bị ném vào đời;


Bị hàng trăm ngàn ngọn sóng vùi dập


Tất cả đều hối thúc, biết bao điều làm


ta vui thích,


Lại bao điều khác khiến ta sầu muộn, và


giờ này sang giờ khác,


Tâm hồn không yên ổn của ta ngập ngừng;


Ta nhận thấy những cảm giác và những gì


mà ta cảm thấy được,


Cơn lốc lắm vẻ của cuộc đời quét sạch


nó xa ta.


                                        GOETHE


Khi tôi thử tìm cho thời kỳ trước Chiến tranh thế giới trong đó tôi đã được nuôi dưỡng một công thức thâu tóm thời kỳ đó, tôi tự phụ thật là may mắn đã bắt gặp được nó khi tôi nói: Đó là thời vàng son của sự yên bình. Trong chế độ quân chủ Áo già nua ngót ngàn năm của chúng tôi, tất cả dường như dựa vào độ dài của thời gian, và bản thân Nhà nước tỏ ra là cái bảo đảm cao nhất cho tính lâu đời này. Những quyền mà nó chấp nhận cho công dân được các văn bản của Nghị viện xác định, cơ quan đại diện này được toàn dân bầu cử tự do, và mỗi một nghĩa vụ của chúng tôi đều được quy định một cách chính xác. Giá trị tiền tệ của chúng tôi, đồng Cuaron Áo, lưu hành bằng những đồng tiền vàng đẹp và bằng cách đó cam đoan sự bất biến của nó với chúng tôi. Mỗi người biết rõ mình có bao nhiêu hoặc thu nhập bao nhiêu, được phép làm gì và không được phép làm gì. Mỗi vật đều có chuẩn mực riêng, có kích thước và có trọng lượng xác định. Ai sở hữu một gia sản có thể tính toán lợi tức thường niên. Công chức, sĩ quan thấy trong lịch chính xác năm được tăng lương và năm về hưu. Mỗi gia đình có ngân quỹ ổn định, họ biết mình sẽ phải chi bao nhiêu cho cái ăn và cái ở, chi bao nhiêu cho kỳ du lịch mùa hè và xem hát, ngoài ra còn một số tiền nhỏ cho các khoản chi đột xuất, cho việc chữa bệnh và trả công chăm sóc của thầy thuốc. Ai có một ngôi nhà có thể coi nó là nơi nương náu chắc chắn cho con cháu, cơ nghiệp và cửa hàng buôn bán được thừa kế từ đời này sang đời khác. Lúc mà đứa trẻ còn nằm trong nôi người ta đã đặt trong chiếc bùng binh hay đưa vào quỹ tiết kiệm món tiền nho nhỏ đầu tiên dành cho cuộc hành trình suốt đời của nó một chút "dự trữ" cho tương lai. Tất cả trong cái đế quốc rộng lớn này đều giữ nguyên chỗ không thay đổi, vị hoàng đế già ở chỗ cao nhất, và nếu ngài sắp băng hà thì người ta biết rõ (hay người ta tin tưởng) rằng một đấng khác kế vị và rằng chẳng có gì thay đổi trong cái trật tự được sắp xếp một cách khôn ngoan đó. Chẳng một ai tin là có chiến tranh, có các cuộc cách mạng hay những cuộc xáo trộn. Mọi thay đổi triệt để, mọi bạo lực dường như là điều không thể có trong thời kỳ của lý trí đó.


Cái cảm giác về sự yên bình là tài sản chung của hàng triệu con người, là lý tưởng của họ về cuộc đời, rất xứng đáng để được mọi người ra sức bảo vệ. Không có sự yên bình, cuộc đời không đáng sống, và những giới ngày càng đông đảo khát khao được có một phần cái kho tàng quý giá đó. Trước tiên chỉ có những người hữu sản hưởng điều lợi ích này, nhưng dần dần các tầng lớp quần chúng rộng rãi đạt tới đó; thế kỷ yên bình trở thành thời vàng son của chế độ bảo hiểm. Người ta bảo hiểm ngôi nhà khỏi hỏa hoạn và nạn trộm cắp, ruộng đất của họ khỏi băng giá và bão táp, thân thể họ khỏi tai nạn và bệnh tật. Người ta mua trái phiếu trọn đời để phòng những bất cập của tuổi già, và đặt trong nôi những đứa bé gái một tờ bảo hiểm để bảo đảm nố có của hồi môn sau này. Sau cùng, bản thân thợ thuyền tổ chức và tranh đấu mạnh mẽ cho đồng lương bình ổn và quỹ bảo hiểm y tế; những người đầy tớ trích từ tiền tiết kiệm một khoản tiền bảo hiểm tuổi già và trả trước cho quỹ tang chi phí về đám tang của mình. Chỉ những người có thể hình dung tương lai không chút e ngại là có thể vui hưởng hiện tại một cách đầy thiện ý.


Trong niềm tin đáng cảm động rằng mình có những hàng rào không một khe hở khiến không một vận rủi nào có thể chui vào, bất kể mọi sự vững vàng và khiêm nhường của những quan niệm về cuộc sống mà niềm tin này mang trong nó, vẫn có một sự tự phụ to lớn và nguy hiểm. Thế kỷ XIX với chủ nghĩa lý tưởng tự do của nó, đã thành thực tin rằng nó đang đi trên con đường thẳng nhất thiết dẫn tới "thế giới tốt đẹp nhất có thể có". Người ta thường nhìn nhận một cách rẻ rúng những thời đại đã qua với chiến tranh, đói kém, nổi loạn, cho là nhân loại chỉ vì chưa được rọi sáng đầy đủ nên chưa đạt tới độ trưởng thành. Chỉ cần vài thập kỷ là chiến thắng được hoàn toàn mọi điều ác và mọi bạo lực, và lòng tin vào một "Tiến bộ" tất yếu và liên tục trong giai đoạn đó có đầy đủ sức mạnh của mọi tôn giáo. Người ta đã tin vào sự "Tiến bộ" đó hơn tin Kinh thánh và dường như phúc âm này đã được chứng minh một cách không thể bác bỏ được bởi những điều kỳ diệu không ngừng đổi mới của khoa học và kỹ thuật. Và quả thật một đà thăng tiến chung hiện ra rõ rệt hơn vào cuối thế kỷ hòa bình này, luôn nhanh hơn và đa dạng hơn. Trên các đường phố, đèn điện thay thế ánh đèn dầu tù mù, các cửa hiệu lớn mang vẻ huy hoàng cám dỗ của những con đường chính đến tận ngoại ô, nhờ điện thoại con người đã nói chuyện được với nhau từ xa, người ta đã phi với độ nhanh không ngờ trong các xe không ngựa kéo, họ đã lao vào khoảng không và thực hiện giấc mộng Icare([1]) Tiện nghi thâm nhập vào các ngôi nhà tư sản, người ta không phải đi lấy nước từ giếng hay ngoài kênh ngòi, không phải nhóm lò mệt nhọc, vệ sinh phổ biến khắp nơi, mọi cáu bẩn biến mất. Đàn ông trở nên đẹp hơn, to khỏe hơn, lành mạnh hơn từ khi thể thao tôi luyện và làm săn chắc thân thể họ. Họa hoằn lắm mới gặp ngoài đường những người què, người bị bướu giáp, cụt tay chân. Tất cả những điều thần kỳ ấy đều là tác phẩm của khoa học, vị tổng thiên thần của tiến bộ. Cả về mặt xã hội cũng vậy, nhân loại đang tiến bước; từ năm này sang năm khác người ta thuận cho cá nhân thêm những quyền mới, việc xét xử được thực hiện nhẹ nhàng hơn và nhân đạo hơn, và ngay cả vấn đề gay cấn nhất, tình trạng bần cùng của quảng đại quần chúng dường như không còn là điều nan giải nữa. Quyền bầu cử mở rộng đến những tầng lớp ngày càng rộng rãi, và bằng cách đó họ đã đạt được khả năng bảo vệ quyền lợi của mình qua các con đường hợp pháp. Các nhà xã hội học và các giáo sư đua nhau đem hết nhiệt tình làm cho đời sống người vô sản lành mạnh hơn và thậm chí hạnh phúc hơn: - Có gì ngạc nhiên là cái thế kỷ này tự tán thưởng một cách thỏa mãn trong các tác phẩm của nó và chỉ coi đoạn kết của thập kỷ này như khúc dạo đầu của một thập kỷ tốt đẹp hơn? Người ta không tin rằng sự man rợ có lúc còn quay trở lại, như các cuộc chiến tranh giữa các dân tộc châu Âu, khác nào không tin vào những hồn ma hoặc bọn phù thủy; ông cha chúng ta đã hoàn toàn thấm đẫm niềm tin vào uy lực và hiệu quả không thể chỗi cãi của sự khoan dung và tinh thần hòa giải. Các cụ thành thực cho rằng biên giới và những sự bất đồng giữa các quốc gia và tín ngưỡng sẽ tan biến dần trong một nhân loại chung, và như thế hòa bình và yên ổn, những của cải quý giá nhất sẽ là tài sản chung của tất cả mọi người.


Chúng ta những người của ngày hôm nay, là những người đã từ lâu loại trừ trong từ vựng cái từ "yên ổn", chúng ta nên chế giễu cơn mê sảng lạc quan của cái thế hệ đã bị mù quáng vì chủ nghĩa lý tưởng ngây thơ, cứ tin chắc rằng tiến bộ kỹ thuật của nhân loại nhất định phải dẫn tới sự đi lên cũng nhanh chóng như vậy về đạo đức. Chúng ta, những người đã học tập được trong thế kỷ mới là không được ngạc nhiên về một sự bùng nổ nào của thú tính tập thể, chúng ta là những người chờ đợi ở mỗi ngày đang tới những điều ghê tởm tồi tệ hơn mọi sự tồi tệ trước đây, chúng ta đặc biệt hoài nghi về khả năng giáo hóa được con người. Chúng ta phải thừa nhận là Freud đã có lý khi ông nhận thấy nền văn hóa của chúng ta chỉ là một lớp trầm tích mỏng manh lúc nào cũng có thể bị chọc thủng vỡ ra bởi sức mạnh tàn phá của thế giới ngầm, chúng ta phải làm quen dần với việc sống không có đất vững chắc dưới chân mình, không luật pháp, không tự do, không yên ổn. Đã lâu rồi chúng ta từ bỏ tôn giáo của cha ông trong cuộc sống của chính mình, từ bỏ lòng tin của họ về sự thăng tiến nhanh chóng và liên tục của nhân loại; đối với chúng ta là những người đã được dạy cho biết một cách độc ác, chúng ta thấy thiên kiến lạc quan kia ngờ nghệch trước tai biến đã đột ngột kéo lùi chúng ta lại và làm mất đi lợi ích của hàng nghìn năm nỗ lực. Nhưng nếu quan niệm của họ chỉ là sự điên rồ thì đó là sự điên rồ tuyệt vời và cao thượng mà cha ông chúng ta từng phụng sự, nó nhân đạo và phong phú hơn những lời nói của ngày hôm nay. Và có điều lạ là mặc dù tất cả những kinh nghiệm và những nỗi thất vọng của tôi, có cái gì trong tôi vẫn không tách hẳn ra khỏi sự điên rồ đó được. Cái mà một con người suốt thời thơ ấu đã hòa trộn vào dòng máu mình từ bầu không khí của thời đại sẽ không thể loại bỏ được. Và mặc cho tất cả những gì hét vào tai tôi mỗi ngày, mặc cho tất cả những gì mà bản thân tôi và biết bao bạn bè trong bất hạnh của tôi đã phải chịu đau đớn vì tủi nhục và thử thách, tôi không thể dứt khoát chối bỏ lòng tin thời tuổi trẻ của tôi, không thể tuyệt vọng về một công cuộc chấn hưng và một thời kỳ phục sinh mới. Từ vực thẳm của nỗi kinh hoàng nơi mà chúng tôi bước dò dẫm như những kẻ mù lòa, tâm hồn xáo động và trái tim tan vỡ, tôi còn ngoái nhìn về những chòm sao xưa cũ đã rực chiếu vào thời trai trẻ của tôi và tự an ủi với lòng tin truyền kiếp rằng sự suy thoái này chỉ là một bước đứt đoạn tạm thời trong nhịp vĩnh cửu của tiến bộ không cưỡng nổi.


*


Giờ đây khi cơn bão lớn đã tàn phá nó từ lâu, chúng tôi biết rõ rằng cái thế giới của sự yên bình ấy chỉ là một tòa nhà xây trong mộng. Thế mà cha mẹ tôi đã ở trong đó như trong ngôi nhà bằng đá. Chẳng bao giờ một cơn bão hay một ngọn gió lùa hơi mạnh đã lọt vào trong cuộc sống ấm áp và an lạc của họ. Chắc hẳn là họ đã được hưởng một sự che chắn đặc biệt chống gió ào vào: họ là những người khá giỏi, từng bước vươn lên sự giàu có và cả sự rất giàu có; vả của cải trong thời đó giúp họ bịt kín mít khe cửa sổ và các vách. Theo tôi thì cách sống của họ là điển hình cho "tầng lớp tư sản Do Thái tốt đẹp", đã làm cho nền văn hóa nước Áo phong phú thêm bao giá trị đích thực (và được thưởng công bằng cách bị tiêu diệt hoàn toàn) và điều đó tới mức mà khi mô tả cuộc sống yên bình và lặng lẽ của họ hình như trên thực tế tôi đã kể một chuyện hoàn toàn không có tính chất cá nhân: Mười hay hai chục ngàn gia đình đã sống ở Vienne như bố mẹ tôi trong cái thế kỷ của các giá trị được bảo đảm chắc chắn.


Gia đình cha tôi, nguyên quán Moravie. Trong những khối dân cư nông thôn nhỏ bé, cộng đồng người Do Thái sống ở đó rất hòa hợp với những người nông dân và tiểu chủ, vì vậy họ không biểu lộ chút nào cảm giác bị đè nén, và mặt khác không biểu lộ sự sốt ruột muốn ngoi lên và cái khôn khéo của dân Do Thái phương Đông, của người Galixie. Cuộc sống ở nông thôn khiến họ trở nên khỏe mạnh và rắn rỏi, họ đi con đường của mình qua các cánh đồng với vẻ bình thản tự tin y hệt như những người nông dân ở quê họ. Sớm thoát khỏi mọi chính giáo hẹp hòi, họ trở thành những tín đồ say mê của tôn giáo mới, của sự "Tiến bộ" và cung cấp những đại biểu được quý mến nhất cho Nghị viện trong phái theo chủ nghĩa tự do chính trị. Khi di cư đến Vienne, họ hội nhập cực nhanh với tầng lớp có học vấn nhất của thủ đô, và sự thăng tiến cá nhân của họ gắn bó mật thiết với tất thảy đà tiến lên của thời đại. Gia đình chúng tôi là một thí dụ điển hình của sự tiến triển đó. Cụ tổ bên nội buôn bán hàng chế biến bằng công nghiệp. Lúc đó vào nửa sau của thế kỷ, cuộc bành trướng kỹ nghệ khởi đầu ở Áo. Máy dệt và máy sợi nhập cảng từ Anh do sự khai thác hợp lý gây nên một sự hạ giá thần kỳ so với hàng dệt thủ công, và lại chính là những lái buôn người Do Thái vốn có năng khiếu quan sát thương nghiệp và có tầm nhìn bao quát tình hình quốc tế, là những người đầu tiên ở Áo nhận ra nhu cầu và lợi ích của một sự biến đổi của nền sản xuất công nghiệp. Họ xây dựng, thường với số vốn khiêm tốn, những nhà máy mau chóng ứng biến, ban đầu chỉ lợi dụng sức khởi động của nước và phát triển dần dần thành nền kỹ nghệ dệt lớn mạnh ở Bohême, chế ngự cả nước Áo và miền Balkans. Trong khi ông nội tôi thuộc lớp người cũ chỉ giữ vai trò trung gian trong việc buôn bán thứ hàng thành phẩm thì cha tôi tiến dứt khoát vào giai đoạn mới, bằng cách dựng lên ở phía bắc xứ Bohême một xưởng dệt nhỏ, ở tuổi 30, và mỗi năm ông mỗi mở rộng lên, chậm và chắc, đến lúc trở thành một xí nghiệp quan trọng.


Sự thận trọng đó, bất chấp các tình huống thuận lợi và hấp dẫn, là hoàn toàn ở trong tinh thần của thời đại. Hơn nữa nó ứng đáp bản chất dè dặt và không hề tham lam của cha tôi. Ông đã chấp nhận tín điều của thời đại ông là: Safety first (An toàn là trên hết); ông rất thích đứng đầu một xí nghiệp "vững chắc" - cũng lại là một thuật ngữ được ưa chuộng thời đó - mà ông quản lý với số vốn của chính mình, hơn mà mở rộng quá mức với rất nhiều khoản vay ngân hàng hay nợ cầm cố. Niềm tự hào duy nhất của ông là không bao giờ để ghi tên mình vào một giấy nhận là có nợ hay một hối phiếu và bao giờ cũng có tài khoản ký quỹ ở ngân hàng - tất nhiên là ngân hàng vững chắc hàng đầu, ngân hàng Rothschild. Ông chán ghét mọi lợi nhuận có bóng dáng của sự liều lĩnh, và suốt đời không bao giờ ông tham gia vào một xí nghiệp nào không phải là của mình. Nếu như bất kể mọi chuyện, rốt cuộc ông vẫn giàu lên đáng kể, thì ông không hề giàu có nhờ đầu cơ liều lĩnh hoặc những hoạt động có tầm lâu dài, mà thực tế là ông thích nghi với phương pháp chung của thời kỳ thận trọng này, nghỉa là chỉ tiêu một phần nhỏ thu nhập và tăng dần vốn năm này qua năm khác với số tiền ngày càng lớn. Giống như đa số người thuộc thế hệ ông, ông coi là kẻ phung phí đáng phàn nàn những ai xài nhẹ nhàng một nửa số lãi của mình mà "không nghĩ đến tương lai" - đây nữa, lại một thành ngữ đặc trưng của thời vàng son yên ổn đó. Nhờ sự dành dụm tiền lời đều đặn đó, sự giàu có từng bước của những người hữu sản nói chung chỉ giả định, về phía họ, một thứ hoạt động thụ động vào một thời kỳ phát triển phồn thịnh, trong lúc mặt khác, Nhà nước không nghĩ đến việc đánh thuế quá một tỉ số phần trăm khiêm tốn ngay cả trên những lợi tức đáng kể nhất, vả lại trong thời kỳ đó những trái phiếu của Nhà nước và những giá trị công nghệ mang lại những lợi nhuận to lớn. Và cái cung cách ấy vẫn mang lại hiệu suất tốt, kinh tế còn chưa bị tước sạch, thương nhân có khả năng chi trả và có nền nếp trong kinh doanh, chưa bị lột da như ở các thời kỳ lạm phát và đúng là những ai nhẫn nại nhất, những ai không đầu cơ trục lợi, là những người kiếm được nhiều nhất. Nhờ ở sự thích nghi với cơ chế chung ấy của thời đại ông, cha tôi đã có thể trở thành người rất giàu ở tuổi 50, ngay cả trên phạm vi quốc tế. Nhưng cách sinh hoạt của chúng tôi chỉ đi theo sau sự tăng trưởng luôn luôn nhanh hơn về tài sản của chúng tôi với một bước đi thật rụt rè. Chúng tôi sắm vài tiện nghi, dọn nhà từ chỗ ở nhỏ sang căn hộ lớn hơn, vào mùa xuân thuê xe hợp đồng cho các buổi chiều, đi du lịch bằng toa hạng hai với giường nằm, nhưng chỉ đến tuổi 50, cha tôi mới tự cho phép chơi sang lần đầu đi với mẹ tôi nghỉ đông một tháng ở Nice. Nhìn chung nguyên tắc của chúng tôi không thay đổi, theo đó người ta hưởng sự giàu có bằng cách sở hữu nó chứ không bằng sự phô trương nó. Ngay cả khi ông đã trở thành tỷ phú, không bao giờ cha tôi hút thuốc Havana; giống như hoàng đế François Joseph, ông bằng lòng với thuốc Virginia dân chủ, ông vẫn trung thành với xì gà đầu lọc giản dị của quốc doanh; và nếu ông chơi bài thì bao giờ cũng đặt cửa khoản tiền không đáng kể. Ông một mực giữ gìn ý tứ, giữ lối sống của mình, quả là sung túc nhưng kín đáo. Dẫu ông tiêu biểu và có học thức hơn hẳn phần đông bạn bè đồng sự của ông - ông chơi thạo piano, có văn phong thanh nhã và trong sáng, nói tiếng Pháp và tiếng Anh - ông khăng khăng tránh né những ưu đãi và những chức vụ danh dự, và cả đời ông không hề xin hoặc nhận bất cứ một danh hiệu nào, một chức tước nào, mặc dù người ta thường tặng ông với tư cách là nhà kỹ nghệ lớn. Không bao giờ yêu cầu điều gì, chẳng bao giờ dấn thân vào con đường thỉnh nguyện và ân huệ, ông rút ra từ đó một sự tự hào kín đáo, mà ông cho còn quý giá hơn tất cả những dấu hiệu bề ngoài của sự trọng vọng.


Thế mà đường đời của mỗi người chúng ta có một khoảnh khắc mà ở đó, trong bức tranh của cuộc đời mình, chúng ta không tránh được mình bắt gặp chính người cha của mình. Cái khuynh hướng về một cuộc sống hoàn toàn riêng tư và ẩn dật bắt đầu mỗi năm một phát triển trong tôi, càng ngày càng không thể cưỡng nổi, dù cho điều đó tỏ ra rất trái ngược với nghề nghiệp của tôi, đòi hỏi chừng nào đó tôi phải công khai hóa trước công chúng cả tên tôi lẫn con người tôi. Tuy nhiên cũng vì cùng một tình cảm tự hào sâu kín, bao giờ tôi cũng khước từ tất cả mọi đặc danh không bao giờ tôi nhận hoặc một huân chương, hoặc một danh hiệu, hoặc chức chủ tịch của bất cứ một hội nào, tôi không bao giờ tham gia bất cứ một viện hàn lâm nào, một ủy ban nào, một hội đồng nào. Đối với tôi việc ngồi ở một bàn quan chức là một hình phạt và chỉ nghĩ đến phải trình bày lời thỉnh cầu dù là cho một người khác cũng đủ làm cho tôi phải khô cả họng trước khi thốt ra lời nói đầu tiên. Tôi biết rất rõ sự ngượng ngập đó không hợp thời đến thế nào trong một thế giới ở đó người ta chỉ có được tự do nhờ sự khôn khéo và né tránh, ở đó, như cụ già Goethe đã nói một cách khôn ngoan rằng: "Những huân chương và danh hiệu tránh cho các ngài sự xô đẩy trong đám hỗn độn ồn ào". Nhưng chính là cha tôi ở trong bản thân tôi và lòng kiêu hãnh thầm kín của ông đã khiến tôi lùi bước và tôi không thể chịu nổi những thứ đó. Bởi vì nhờ có ông mà tôi cảm thấy cái cảm giác tự do nội tại có lẽ là của cái vững chắc duy nhất của bản thân tôi.


*


Mẹ tôi, người họ Brettauer, thuộc dòng dõi khác, quốc tế hơn. Bà chào đời ở Ancône miền Nam nước Italia và tiếng Italia là tiếng mẹ đẻ của bà cũng như tiếng Đức. Mỗi khi bà nói với bà tôi hay với em gái bà mà không muốn cho người làm trong nhà nghe được thì bà nói tiếng Italia. Cơm Italia, rau actisô thời đó còn rất hiếm, cũng như tất cả những đặc điểm khác trong cách nấu nướng, đối với tôi lại là quen thuộc từ thời thơ ấu, và từ đó mỗi khi sang Italia, tôi cảm thấy ngay như ở nhà mình. Nhưng gia đình mẹ tôi không có gì là Italia cả, bà ý thức rằng mình là công dân quốc tế: Họ Brettauer từ khởi thủy đã sở hữu một ngân hàng ở Hohenems, một thành phố nhỏ ở biên giới Thụy Sĩ, từ khá sớm đã phân nhánh khắp thế giới, bắt chước những đại gia đình chủ Ngân hàng Do Thái, nhưng dĩ nhiên là quy mô nhỏ hơn nhiều. Những người này định cư ở Saint-Gall, những người khác ở Vienne và Paris, ông tôi ở Italia, một trong các bác tôi ở New York, và những sự tiếp xúc quốc tế ấy đã làm nổi rõ ở họ một thái độ lịch thiệp tinh tế hơn, tầm nhìn rộng hơn, và ít nhiều cả niềm tự hào về gia tộc nữa. Không còn có ai làm nghề môi giới trong thương trường, mà chỉ có những chủ ngân hàng, các giám đốc, các giáo sư, luật sư và bác sĩ y khoa. Ai cũng nói được nhiều thứ tiếng và tôi hồi tưởng lại ở nhà cô tôi bên Paris, tại bàn ăn người ta chuyển câu chuyện rất tự nhiên từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Đó là một gia đình mà người ta giữ gìn cẩn thận thứ bậc của mình và khi có một người bà con trẻ nào hoàn cảnh nghèo đến tuổi thành hôn thì cả gia đình góp lại để cung cấp một số hồi môn lớn nhằm tránh một cuộc hôn nhân không tương xứng. Cha tôi được kính nể với tư cách là nhà kỹ nghệ lớn, song mẹ tôi mặc dầu cuộc hôn nhân của họ thuộc loại hạnh phúc nhất, bà không bao giờ chịu để các bà con nhà chồng tự phụ được ngang hàng với họ của bà. Niềm tự hào được bắt nguồn từ một gia đình "tốt đẹp" ở tất cả những người mang họ Brettauer, là một tình cảm thâm căn cố đế, và vào lúc tôi đã trưởng thành, khi có ai đó trong họ muốn thốt ra bằng một giọng ban ơn: "Dẫu sao, cháu là một Brettauer thực sự". Giống như họ ghi nhận: "Dẫu sao, cháu cũng được xếp vào hàng ưu việt".


Cái thứ quý tộc đó, mà nhiều gia đình Do Thái tự cho phép với ý thức mà họ có được về quyền lực tối cao của họ, khi thì làm chúng tôi vui thích, khi lại làm chúng tôi phẫn nộ, anh tôi và tôi, ngay từ lúc chúng tôi ở tuổi ấu thơ. Người lớn không ngừng nhắc đi nhắc lại vào tai chúng tôi rằng những người này là "ưu tú", những người kia thì không. Về mỗi người bạn của chúng tôi, người ta tìm hiểu xem đó có phải thuộc "Gia đình tốt" hay không, và người ta rà soát đến tận những thế hệ xa xưa, nguồn gốc của cả họ hàng, của cả tài sản nhà nó. Cái tật dai dẳng xếp loại mọi người ấy, là đề tài chính của mọi cuộc trò chuyện trong gia đình và trong cộng đồng, dường như đối với chúng tôi là chuyện khôi hài nhất và rất xứng với những kẻ học đòi, bởi vì rốt cuộc, hình như là trong mọi gia đình Do Thái chỉ có sự khác biệt nhau khoảng năm chục hay một trăm năm, nếu người ta cần xác định cái thời mà các gia đình ở cùng một lò Do Thái chung thoát ra. Mãi rất lâu về sau tôi mới hiểu rằng cái khái niệm về gia đình "tốt" đó mà chúng tôi coi là điều khôi hài và sự nhại lại một thứ giả - quý tộc hoàn toàn giả tạo, biểu thị một trong những khuynh hướng sâu xa nhất và bí ẩn nhất của Do Thái giáo. Thường thường người ta chấp nhận rằng cái mục đích thực sự và điển hình của cuộc đời người Do Thái là làm giàu. Điều đó sai hoàn toàn. Sự giàu có đối với họ chỉ là một bước trung gian, một phương tiện nhằm đạt tới mục đích chân chính chứ hoàn toàn không phải tự nó là cứu cánh. Ý chí thực sự của dân Do Thái, lý tưởng tự tại của họ là nâng cao trí tuệ, đạt tới một trình độ văn hóa cao. Trong Do Thái giáo chính thống phương Đông ở đó những nhược điểm cũng như những ưu thế của cả nòi giống đã để lại những dấu ấn đậm hơn, vị trí hàng đầu của khát vọng tinh thần đối với vật chất thuần túy tìm thấy sự minh họa của nó: Kẻ sùng đạo, nhà bác học về văn tự bên trong cộng đồng được ngàn lần quý mến hơn kẻ giàu có, ngay cả người được ân thưởng nhiều của cải nhất trên đời này cũng sẽ vui lòng gả con gái cho một người đàn ông khôn ngoan được điểm thêm những năng khiếu trí tuệ, dù hắn có nghèo như Job, vẫn hơn là gả cho một thương gia. Ưu thế về tinh thần ấy thường được bắt gặp một cách không thay đổi ở người Do Thái thuộc mọi tầng lớp. Người phu khuân vác cực khổ nhất kéo lê mình cùng gánh nặng trong mọi thời tiết, sẽ nỗ lực bằng những hy sinh nặng nề nhất, để cho ít nhất là một đứa trong số con trai của họ được học hành và họ coi là một danh hiệu vinh quang cho cả gia đình khi có trong nhà một thành viên nổi bật nhờ sức mạnh của tư tưởng, một giáo sư, một nhà bác học, một nhạc sĩ, dường như chỉ riêng người đó với sự thành đạt của mình đã nâng cao phẩm giá cho cả gia đình. Tôi không biết cái gì trong người Do Thái, một cách vô thức, tìm cách thoát khỏi những gì là khả nghi về đạo đức, là ghê tởm, là ti tiện, là thuần túy vật chất vốn dính chặt với việc buôn bán, với tất cả những gì chỉ thuộc giới kinh doanh, và tìm cách vươn lên trong thế giới trong sạch hơn của tinh thần, nơi mà đồng tiền không đáng kể nữa, tựa như anh ta muốn chuộc mình - nói theo cách nói của Wagner - anh ta và tất cả nòi giống của anh ta, khỏi sự nguyền rủa của đồng tiền. Vì vậy trong thế giới Do Thái, khát vọng làm giàu bị cạn kiệt đi sau hai hoặc ba thế hệ ngay trong lòng cùng một gia đình, và chính là những dòng họ có thế lực nhất lại thấy con trai họ ít thích thú nắm lại các ngân hàng, các xí nghiệp, các hoạt động đang phát triển của các bậc cha ông chúng. Không phải là ngẫu nhiên có một Hầu tước Rothschild là nhà nghiên cứu về chim, một Warburg nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật, một Cassieer triết gia, một Sassoon nhà thơ, tất cả họ đã tuân theo cùng một khuynh hướng vô thức, tự giải phóng khỏi những gì đã thu hẹp đạo Do Thái, cái ý chí lạnh lùng kiếm tiền, và có lẽ qua đó biểu hiện khát vọng thầm kín thoát khỏi những gì là đặc hiệu Do Thái bằng cách trốn vào cõi tinh thần, để hòa đồng trong cộng đồng nhân loại. Vậy "Một gia đình tốt" bao hàm nhiều hơn là một thứ bậc xã hội nào đó mà người ta tự phong khi đeo vào mình từ ngữ đó; nó có nghĩa là một chủ nghĩa Do Thái đã vượt qua hoặc bắt đầu vượt qua tất cả những thói xấu, tất cả những sự chật hẹp và nhỏ nhen mà Do Thái áp đặt cho họ, do sự thích ứng của nó với một nền văn hóa khác và nếu có thể, với một nền văn hóa toàn thế giới. Sự lẩn tránh vào cái tinh thần, trong khi sản sinh ra một sự cồng kềnh mất cân đối của những nghề tự do, có thể cũng nguy hại cho chủ nghĩa Do Thái như sự tự giới hạn của nó vào những thứ vật chất, đó là một trong những nghịch lý vĩnh cửu gắn liền với số phận của Israel.


(còn tiếp)


Nguồn: Thế giới những ngày qua. Tự truyện của Stefan Zweig. Phùng Đệ và Trần Nam Lương dịch. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 








([1]) Icare: Theo thần thoại Hi Lạp, Icare con của Dédale đã cùng cha trốn ra khỏi mê lộ bằng những cánh lông vũ gắn bằng sáp. Khí nóng mặt trời đã làm sáp chảy và Icare rơi xuống biển.  



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 26.09.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 26.09.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
xem thêm »