tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28975003
Tiểu thuyết
13.12.2011
Ngọc Giao
Mưa thu

Trong khi ấy thì Oanh đã biến thành một gái Chợ Dầu - Đình Bảng, tóc đuôi gà, mặt như tranh tố nữ, yếm thắm cánh sen, áo nâu tơ thắt vạt, váy lụa sa tiền. Oanh sẽ là con dâu ông già bất đắc chí, âm thầm một nắng hai sương, đốt trầm hương cho bố chồng đọc sách, ru con ngủ cạnh nia tầm, khung cửi, và đem giọt lệ nữ nhi cầm giữ cánh chim âu xa tắp nẻo chân trời sương gió.


Khán giả đã chiếm hết ghế ngồi và chỗ đứng, ở trong đình, ở ngoài đình. Có những kẻ trượng phu râu hùm hàm én đã ngồi ngây ngất nuốt thầm giọt lệ trước tài biểu diễn và giọng ngâm thơ của bốn tài tử bậc thầy: Hoạt, Ngọ, Linh, Oanh. Nhất là Oanh, Oanh đã khóc nhiều trong vai người dâu hiền vợ nghĩa để làm sa giọt lệ anh hùng, và làm rơi súng trường, gươm bén của những con người tim bọc thép.


Nhưng cũng đã có một nghệ sĩ già từ lúc mở màn, đứng lẫn trong khán giả, đã nhiều lần lau mắt kính. Đó là kép Trương. Quả như lời Ngọ, Trương đã tự trói chân mình vào lũ trẻ, an phận một anh dọn quán, bán hàng thế mà lũ quỷ đi đã khá xa rồi, Trương còn đứng dậy, rời buồng tối, rón rén ra hiên, ngó theo hút một lúc lâu, rồi quay vào, lòng buồn não chán chường đến mực Trương tưởng như sống lại cái tình trạng cai thuốc phiện hồi mười lăm năm về trước. Người nghệ sĩ già mệt mỏi, rã rời, vật xuống ổ rơm, bâng khuâng nghĩ đến các bạn đang băng đồi, vượt bãi, leo cầu, ca hát dọc đường và cười vang lữ quán. Để quên đi, Trương gượng ngồi lên, dắt lũ con lên ngọn đồi gần đấy. Đứa thì quét lá, đứa thì bẻ củi, còn Trương leo lên cành cây lấy ổ trứng kiến để chốc nữa đem về xào, đánh chén, vì Trương thường nghe thổ dân miền này vẫn coi món trứng kiến xào là món ăn đặc biệt. Nhưng đứng trên đồi cao, nhìn về các nẻo đường xa, Trương càng thêm nhớ cuộc sống hồn nhiên của bạn. Trương dẫn lũ con về quán, càng thấy thêm chán nản trước cảnh người vợ đang ngồi lim dim ngủ gật, tay vẫn phe phẩy xua ruồi trên rá bún, liễn chè còn nguyên vẹn. Và dĩ nhiên, chiều ấy, cả nhà họ ăn bún thang, chè mật trừ cơm trắng. Trương ôm vò rượu, đăm đăm nhìn ra ngoài đường vắng. Rượu gần cạn đáy, Trương nghiêng vò cạn hết, dốc cả vào tâm tư đang gửi theo các bạn.


Trăng thượng tuần gài ngang đỉnh núi hoen nhòa trong hơi thu giá lạnh, càng khêu cái sầu cô tịch của Trương.


- Tối nay, giờ này, chúng nó đang sửa soạn diễn. Chắc chúng diễn kịch thơ, vì chuyến này có Oanh, Linh. Dễ đã lâu, mình chưa được nghe thằng Linh nó ngâm lại hồ trường. Hừ, thèm quá, thèm đến chết mất thôi…


Trương gật gù, nói với lòng mình như vậy, và chặc lưỡi:


- Thèm như gái chửa con so thèm chua chát. Sống thế này, sống làm sao được. Mình đến phải vượt ngục phen nữa mất, ừ, chỉ một phen nữa thôi nhá, cốt đứng rình một xó tối, nghe xong mấy câu thơ của thằng Linh, thằng Hoạt là mình lại lủi về, thế là đỡ thèm rồi, không làm sao cả, không hại gì ai cả!


 Trương quả quyết đứng lên, với tay lên giá tre mở va li lấy chiếc áo tây dạ tím, khăn phu la mặc vội, và lấy vội chiếc ba toong treo trên vách, nhảy xuống đất, xỏ guốc, bước nhanh ra cửa. Lũ trẻ và người vợ ngơ ngác nhìn cái thái độ khủng khiếp và bất thường đó của Trương, không dám níu kéo mà chỉ dám kêu lên:


- Cậu nó lại đi nữa đấy à?


- Cậu đi đâu đấy! Chúng con ở đây sợ trộm lắm. Cậu đừng đi.


Trương bước ra ngoài đường rồi mới ngoái lại ôn tồn:


- Mợ và các con cứ gài chặt cổng mà ngủ. Mai nghỉ hàng, hay làm ít bán cho vui tùy ý. Tôi có việc cần lắm lắm. Thế nào mai sớm cũng về.


Trương băng mình vào ánh trăng lạnh nhuộm sương thu. Gió xuôi chiều, đẩy Trương đi như cánh buồm căng lộng gió. Trương hăm hở bước, nhìn thẳng về Mai Thượng. Như ý định, Trương đứng lẫn vào đám đông đàn bà, con trẻ mà xem các bạn diễn, và Trương cũng định tâm sẽ vào một nhà quen nào ngủ đỗ, lánh mặt anh em, mai sớm về ngay quán cho yên lòng vợ con và đàn trẻ nhỏ. Nhưng màn chót sắp buông, Trương không thể yên lòng vì yêu bạn, say nghề, rồi thì ma đưa quỷ dắt làm sao, Trương bước lên cửa sau sân khấu, vén lá chiếu che lừ lừ hiện ra trước cái nhìn và nụ cười tinh ranh của Ngọ.


- A, kia lão hiền huynh. Trận gió nào lại cuốn bạn già đến chốn này. Tưởng bạn già đã đành tâm yên phận!


Trương cười ngượng nghịu:


- Ma đưa lối quỷ dẫn đường, đoạn trường tìm lối kịch trường mà đi. Đã toan nằm ấm chỗ, lại nhớ các chú, phải tung chăn, rứt xích lao thân già vào gió bụi, theo nghệ thuật. Thì ra mình vẫn cứ ngứa ngáy, ngủ không an, nằm không ổn, thế mãi thôi!


Bỗng Trương ngừng lời, nhìn ra sân khấu, lắng nghe câu thơ ruột của ông Hoạt, lúc đó vọng ra ngoài sông núi, mà cũng là vọng vào mặt Trương cạnh cánh gà:


Ngày mai ắt có con thuyền lại,


Lửa một khoang đầy sưởi bốn phương.


Màn từ  từ  hạ, Hoạt vào, ôm choàng lấy Trương mà thét:


- Biết ngay mà! Cái con bệnh trầm trọng này chỉ còn món thuốc ấy là trúng bệnh. Có là vượt ngàn sông núi cũng cứ phải theo, cho đến thác.


Linh và Oanh rửa xong mặt phấn ở góc đình, cũng chạy đến nắm tay Trương, cười lớn. Mọi người kéo cả về nhà ông Tổng. Chủ nhân đã sai nấu sẵn nồi cháo, chõ xôi. Đoàn kịch xúm lại ăn, rồi chia chiếu ngủ. Đêm trời trở lạnh. Họ lại chia nhau những màn che, phông vẽ, cánh gà bằng vải thô dầy, thay chăn mà đắp.


Trong khi ấy thì Linh và Oanh dắt nhau ra ngồi ở cầu ao xây gạch, ngắm mảnh trăng non chếch bóng lúc này đang cài trên lùm cây xõa tóc, nom tựa vành chiếc lược bạc.


Oanh lại thầm thì bàn đến chuyện chia ly. Cô cần tiền lộ phí rời Việt Bắc, xuôi về  miền ruộng Thái Bình để sống cùng cha mẹ. Câu chuyện ấy đã từ lâu khiến anh lo lắng, để rồi càng tự thấy mình bất lực. Chung quanh một lũ bạn nghèo, anh thấy khổ tâm trước một tình trạng thực nan giải: để Oanh thân gái dặm trường lặn lội về quê một mình, hay anh phải đi cùng cô, không nhìn lại anh em nghệ sĩ và một gia đình trong đó cha mẹ già và vợ con một bầy đang nheo nhóc bên kia bến đò Hồ vang tiếng súng.


Anh cảm thấy chưa thể dứt tình giữa lúc này, cũng chưa nỡ xa nghệ thuật và bạn hữu. Người con hư hỏng ấy đã tự viện cớ bỏ nhà theo bạn kịch chỉ vì nghệ thuật chứ không phải vì tình. Sự thực thì anh yêu Oanh, có lẽ còn lớn hơn cả nghệ thuật, hơn bạn hữu, hơn tất cả.


Phần thứ hai.


Năm Ất Dậu 1945, vào cữ lạnh.


Cụ Đầu Xứ ngồi như vậy từ lúc tinh sương. Ấm trà ủ dưới vạt áo bông dài đã nguội, màu nước trà trong chiếc chén men xanh lúc này ngả vàng. Cái thứ trà ngày loạn ly này uống vào lại càng thêm nhớ hương xưa khói cũ. Đã nhiều lúc cụ Đầu Xứ nghĩ lẩn mẩn không biết trời có còn cho sống để một ngày nào đó lại được cùng mấy người bạn già nâng chén nước “Vũ Di”, ngâm ngợi mấy lời thơ trong nắng sớm. Nhưng làm gì còn có nữa, thời buổi khói lửa này!


Cơn gió lạnh từ lòng sông rộng dâng lên, làm rung cánh liếp dựa vào tấm vách rệu rã vì mưa nắng. Ở sân sau,  lũ cháu nhỏ đang ngồi xúm vào nhau gọt gỗ, khoét tre làm súng ống bày trận giả. Cụ trông cháu mà đau ruột. Bố chúng đã ba năm nay nghe chừng đi đâu xa lắm, chả có tin tức gì. Người con dâu vừa ngồi băm bèo vừa coi lũ trẻ, vì ngay đấy là rìa sông sâu.


Đôi lợn đói phá chuồng. Người đàn bà băm vội mớ bèo, đứng lên vào bếp. Lũ trẻ buộc xong sợi cao su vào dóng tre con rỗng ruột, giơ súng lên trời thử bắn. Súng không nổ, chỉ có mồm chúng kêu, làm con chim ngói trên cành xoan sợ cất cánh bay đi mất. Hoa xoan trắng rụng xuống bể nước mưa ở giữa những luống cải và húng Láng.


Gió ngoài sông lùa qua phên thưa vách nát. Cụ Đầu Xứ khẽ rùng đôi vai gầy. Cụ nghĩ đến chiếc hỏa lò than đỏ. Giá như mọi khi thì những ngày trời trở rét thế này, cụ cho người nhà ra bờ sông đón thuyền  mua cá, rồi sai cầm thiếp đi thỉnh mấy bạn già ở làng xa đến nhắm rượu cùng với gỏi cá, bàn chuyện thơ văn, thế sự bên lò than ấm. Thế mà bây giờ cụ đành ngậm ngùi ngày ngày ngồi nghe tiếng sóng con sông Hồ.


Giữa dòng sông, một chiếc thuyền bị bắn đắm từ ngày nọ vẫn còn nằm phơi nửa mình trên mặt nước. Cụ chạnh lòng nghĩ đến đời mình, ở lúc cỗi cằn này, có khác gì con thuyền nát bị sa lầy, vô dụng phó cho nước vỗ. Cụ nhớ lại những ngày trai tráng thuở Đông Kinh Nghĩa thục, nhớ tới những nắm xương tàn nơi hoang đảo.


Xuân này không áo đẹp,


Nhưng khói tỏa sông Hồ


Đất nước phơi sương máu,


Tay anh hùng điểm tô.


Trên nẻo giang thôn mờ mưa bụi, tiếng gà gáy ngọ theo hơi gió hoà lời thơ ngân khẽ của ông già bên lũ cháu.


Năm nay, tết nhà cụ lão nho là cái tết buồn tẻ nhất trên bến Hồ vắng tanh. Tuy nhiên người con dâu cũng thưa bằng được với mẹ chồng cho phép gói vài chục bánh chưng nhân dừa mỡ, vài chục bánh gio mà chị biết tính bố chồng tết mọi năm vẫn khen ngon. Nhưng bữa cơm sáng ngày mồng một năm nay cụ chỉ uống rượu suông, nếu có cầm đũa thì chỉ để gắp cho lũ cháu ngồi ghếch đầu lên đùi ông nội mà làm nũng.


Chén rượu có lúc nằm trên tay cụ một hồi lâu không nhúc nhích. Đôi mắt mờ dưới cặp kính nhìn ra ngoài con sông cạn chìm giữa đôi bờ dâu, sắn, điểm thưa thớt vài búi tre vàng. Cụ nghĩ tới người con trai từ ngày Hà Nội khói lửa đã theo đoàn người áo vải lấy gian lao làm nghĩa của đầu xanh. Cụ chỉ    mỗi một người con trai đó. Nhưng xa thì nhớ mà gần thì cha con ít khi ngồi cùng một bữa mâm cơm thường ngày. Trước đó cụ nghĩ rằng Linh chỉ là một kẻ bê tha hư hỏng, lấy khói men tửu sắc làm lẽ sống mà thôi. Năm thì mười họa, Linh mới tạm rời Hà Nội, trở lại căn nhà lá bến Hồ. Linh từ con đò ngang bước chân lên đất. Dăm ba bà già, cô gái và lũ trẻ thập thò dẫy phố bên sông. Họ nhìn anh mặt xanh xao hơn mà thì thầm bàn tán:


- Cậu giáo Linh ở tỉnh về. Chắc là ngày lễ.


- Cậu ấy có dạy học nữa đâu mà giáo diếc. Nghe nói dạo này cậu ta làm nghề diễn kịch, làm báo viết sách gì ấy mà!


- Lắm nghề thế chắc kiếm được nhiều tiền đấy nhỉ?


- Chả biết có kiếm được nhiều không, chứ mợ ấy lúc nào cũng tần tảo khổ cực mà cứ kêu túng thiếu. Bà cụ chỉ thở dài, không ra khỏi cửa. Ông cụ lang độ này nghề thuốc ế ẩm làm sao, chả thấy ai mời đi chữa bệnh.


Tiếng bàn tán còn xì xào sau lưng Linh mãi cho tới lúc anh ngượng nghịu bước chân qua ngưỡng cửa khẽ lạy chào cụ Đầu Xứ lúc đó lạnh lẽo nhìn qua mặt con rồi lại cúi vào trang sách. Lũ trẻ trông thấy bố cũng như trông thấy người lạ mặt mặc tây vào xem mạch lấy thuốc của ông nội chúng. Đến nỗi người mẹ, má đỏ hồng, mắt long lanh ướt vì mừng tủi, phải mắng yêu con:


- Bố ở tỉnh về đấy mà. Con không yêu bố ư, hư đến thế thì thôi! Thơm bố rồi bố cho quà tỉnh, chóng!


Lũ trẻ vẫn rụt rè nấp sau cánh liếp. Hảo kéo con vào. Linh cúi hôn các con. Mặt anh cũng đỏ lên như Hảo. Anh có cảm tưởng những vầng trán thơ ngây trên đó chưa in bóng hình tục lụy, những cặp má mịn mát như cánh bạch hồng trong đó dòng máu thiên lương còn nguyên hương tươi thắm, vậy mà cặp môi anh bấy nay hằn tội lỗi vừa đặt xuống.


Anh ghé ngồi xuống góc giường, đáp qua loa mấy câu cụ hỏi về chuyện Hà Nội, chuyện chính trị, chuyện thế giới, hỏi cho có chuyện, thực thì cụ cũng chẳng thiết tha gì lắm nữa với việc đời. Trong khi ấy bà mẹ nhìn con xanh gầy đi mà đứt ruột, rón rén đứng dậy ra sân lau nước mắt. Lũ trẻ ngồi xúm cả sau lưng ông, mắt đen nháy tròn xoe nhìn bố để ngóng quà, nhưng trong chiếc cặp da cũ nát ném trên giường kia chỉ có chiếc sơ mi rách vá, chiếc quần đùi, còn thì toàn bản thảo kịch, thơ.


Linh cố lưu lại với gia đình được hai ngày. Hai ngày ấy anh không nói với ai, chỉ ra sau nhà ngồi hàng giờ lâu bên bờ sông thả cần câu cá, nhưng mắt anh chẳng buồn nhìn phao chìm hay nổi trên dòng nước đục không gợn chút sóng.


Anh lại cắp chiếc cặp da cũ kỹ vội xuống con đò ngang trở sang sông. Chiếc sào đẩy lướt mũi thuyền nan, người ra đi không quay lại nhìn người vợ trẻ còn đứng trong ngưỡng cửa gượng cười với lũ con thơ: " Bố dặn phải học cho ngoan, chủ nhật sau bố lại về, lần này thì bố sẽ mua quà thật." Lũ trẻ lại tròn mắt nhìn mẹ, để lạ sao mẹ khóc; và chúng quay cổ nhìn bà để lạ sao bà khóc, trong lúc ông nội chúng chỉ khẽ thở dài và run tay lật nhanh trang sách mực tàu giấy bản đặt trên đùi.


Bảng lảng thân tàn ai có hay,


Gươm thiêng ngủ bụi đã lâu ngày,


Chiến bào thơm máu phơi trăng khuyết,


Vó ngựa chồn sương ngóng cát bay…


Trên nẻo giang thôn mờ bụi nước, cụ Đầu Xứ gửi uất sầu vào chén rượu hoàng hôn.


*


Bốn tháng liền, cụ vắng nhà. Tới chiều nay, vừa đi chữa cho mấy con bệnh về, cụ ngồi với bầy cháu ngoan trước đĩa lạc rang, chai rượu thuốc.


Có tiếng ồn ào ở ngoài đường. Lũ trẻ chạy ra rồi chạy vào, ngả vào lòng ông,  nói:


- Ông ơi, người ta đang chạy. Họ bảo nguy lắm ông ơi!


Cụ Đầu Xứ vẫn ngồi yên, mặt không biến sắc. Bà cụ và người con dâu run lập cập. Bà khẽ thì thầm:


- Sao lại thế hả ông, sao lại động ngay được đến vùng này. Đi đâu được hả ông? Tôi lo lắm.


Cụ Đầu Xứ chau mày, suy nghĩ. Ở ngoài kia tiếng người nhốn nháo, tiếng chân chạy rậm rịch ở gần ở xa, trong xóm và ngoài bến


Bà cụ và người con dâu cuống quýt hết chạy ra đường, lại chạy vào nhà. Cụ Đầu Xứ lật mạnh trang sách đặt trên đùi, chậm rãi:


- Bà và con cứ an tâm. Đừng bắt chước người ta, chưa có gì đã rối lên.


Cụ rót đầy chén rượu. Nhìn vào trong chén, cụ tưởng như máu sôi cháy rượu men nồng. Phút giây, tận đáy ly rượu tràn đầy, dựng lên bao nhiêu bóng hình ký ức: mồ hoang, tù ngục, cảnh tình nếm mật nằm gai của người quốc sĩ bốn mươi năm về trước, giờ đây thực không còn là gì nữa trong tuổi già suy bại trước bão đời.


Cạn một hơi, cụ lại ngậm ngùi nghĩ đến câu chuyện đêm qua ở nhà cụ Chánh Kiều. Người con trai lớn cụ Chánh cho biết, nghe nói Linh vừa chết bệnh ở miền sơn cước. Thảo nào, ít đêm nay cụ cứ thấy ruột gan sôi nóng, và đêm qua, vào khoảng canh ba, cụ mơ thấy con trai đứng ở chân giường cụ, mặt dàn dụa nước mắt.


Hảo bưng cây đèn dầu lạc đặt bên mâm cơm, ánh lửa đèn nhuộm vàng chòm râu cước.


Cụ cúi xuống, lật trang bìa cuốn sách phủ đầy bụi. Đây là bản thảo một vở kịch thơ dài của Linh. Xưa nay vẫn biết con mình làm thơ ca, nhưng cụ Đầu Xứ chưa hề biết cái anh “đãng tử” ấy đã gửi gắm những gì trên giấy. Tối hôm nay,  tâm tư nặng niềm đau huyết mạch, cụ rút trong ngăn sách cũ lấy ra tập sách dầy đã úa màu bụi bậm thời gian. Cụ lật trang đầu. Mái tóc trắng như bông nghiêng bên ánh lửa đèn, bỗng bàn tay run để rơi cuốn sách xuống đùi.


Một lát, cụ ngâm khe khẽ:


 Hỡi ai múa kiếm trên lưng ngựa,


Giờ đã nằm yên dưới suối vàng.


- Chao ôi, oan nghiệt gửi vào lời thơ mệnh đoản. Thằng Linh nếu có chết yểu cũng là thiên mệnh đó thôi. Ai đời lại khai bút một văn phẩm dài bằng câu thơ gở độc này!


Cụ ngồi lặng lẽ nhìn vào ngọn lửa leo lét trước ngọn gió lùa qua phên liếp mấy lần muốn tắt. Chén rượu rung trên tay yếu gợn lên hình ảnh người con viễn xứ, vô tình cụ để rơi xuống  mâm đồng. Chiếc chén vỡ tan.


                                                           *


Nhưng mấy hôm sau, cụ Đầu Xứ đã được yên lòng vì cái tin Linh chết nơi miền ngược chỉ là một tin hư huyễn. Thế rồi tiếng súng thêm gần, thêm gần mãi, vọng qua sóng nước, vọng cả vào chén rượu bữa thường ướt hoen trang giấy bản.


Một sớm, lũ trẻ vừa thò đầu ra cửa đã thụt vào. Chúng xanh mắt nhìn nhau, nói nhỏ :


- Người ta đi đâu mà nhiều gươm súng thế?


- Rõ ràng có tiếng anh Xương, anh Sửu.


- Các anh ấy là học trò ông nội. Chắc các anh ấy đến báo tin để ông nội tản cư. Chứ ở đây nghe súng mà hết vía.


Lũ trẻ đang thì thào thì bọn trai tráng ngoài đường, theo lời hô, dừng bước lại. Dân phố bến đò Hồ kinh hoàng hé liếp, kẹt cửa ngó ra, lại tụt ngay vào như đàn chuột lủi vào hang tối. Có tiếng quát to:


       - Trói thằng Lý Kỷ vào gốc bàng kia! Thượng lệnh truyền xử tử thằng phản động, đã không chịu tham gia công tác lại còn nỏ miệng nói những câu lạc hậu. Mổ bụng, phơi đầu quân phản động, quân thoái hóa, để… (Cuốn Mưa thu, do NXB Trần Văn Huy xuất bản tại Hà Nội năm 1953 mà chúng tôi dựa vào để in lần này, đến đây bị xé rách và mất một đoạn dài. Mong được bạn đọc thông cảm và lượng thứ. Cũng vì đoạn văn đó mà về sau nhà văn Ngọc Giao phải chịu rất nhiều khổ luỵ. Tôi  đã nói rõ bối cảnh của sự việc này ở bài Cha tôi trong cuốn sách của nhiều tác giả, nhan đề Ngọc Giao - Một đời người, một đời văn, sắp xuất bản- Nguyễn Tuấn Khanh).


                                                                II


           Linh, Thảo, Oanh vẫn cùng đoàn kịch Bông Lau diễn ở thôn Mai Thượng. Dân chúng rất hoan nghênh, và thượng cấp chỉ huy văn hóa từ khu xa về kiểm điểm rất hài lòng về nghệ thuật, nhưng không hoàn toàn đồng ý về phương diện sáng tác của Linh, bảo rằng những kịch phẩm ấy tuy rất lôi cuốn khán giả song bất lợi cho mục đích tuyên truyền. Linh không cãi, chỉ mỉm cười. Thái độ của anh rất rõ ràng, và thái độ ấy đã tách xa anh với bạn đồng hành đồng ngũ song chẳng hề chung quan niệm và chí hướng. Anh ngoảnh mặt đi, hoặc cắm cúi làm thơ, hoặc lặng lẽ nhìn trời mỗi khi người ta cãi cọ về chính trị. Quá lắm thì anh đứng dậy, ra chỗ vắng ngồi, hay đi chơi đâu dăm bảy bữa, rồi trở về với anh em khi bầu không khí luận chiến đã nguội lạnh như vẻ mặt chán chường của Ngọ, Hoạt, Quý, Uy lúc không còn tiền mua rượu thịt.


Tiết trời rét dữ. Cứ về cữ mưa dầm gió bấc là Oanh ốm yếu luôn. Cái thai đã làm cho cơ thể của cô quá nặng nề.


Đoàn kịch vẫn luôn chuyển như vành xe rỉ trên đường bụi.


Cô lúc này tự thấy mình là một phần tử sắp rơi vào vòng sa thải, vì ốm đau và to bụng, không thể ra sân khấu đóng đôi với Linh được nữa. Ông bầu Tích tỏ ra khó chịu, và anh em có lần say, sỗ sàng trách Linh tác quái. Tác quái có nghĩa là làm hỏng hình hài một nữ tài tử của đoàn, phạm nội quy mà đoàn viên cần phải tránh.


Linh không chịu được những lời đùa bỡn có tính cách lên án đó, nên đã bàn với Thảo đành xa các bạn. Thảo đồng tình. Ngày hôm sau, Thảo rủ Oanh và Linh về nhà mình tạm nghỉ, chờ Oanh sinh đẻ, trong thời gian ấy anh sẽ có thể sáng tác thêm chăng.


Ba người bạn rời Mai Thượng vào một buổi tinh sương, giữa lúc các kịch sĩ đang nằm rúc vào nhau ngủ mệt trên giường, dưới đất, lấy phông cảnh, cánh gà làm chăn gối đắp điếm cho nhau sau một đêm bôi râu, vẽ mặt làm vương hầu, tráng sĩ, hiến vui cho bọn khán giả quê mùa.


Gió sớm lùa qua hơi sương băng giá vèo vèo quất vào da mặt. Ba người đã xa thôn Mai Thượng, lặng lẽ và chậm chạp cúi đầu đi bên bờ sông máng, nước sánh chất độc cao nguyên rót xuôi về đồng ruộng. Cô xuýt xoa so đôi vai gầy guộc, áo đơn không đủ ấm, níu chặt cánh tay Linh. Thảo đi lên trước, cản đỡ gió cho cô.


Màng sương đọng trên các khóm lá cúc tần trắng tựa những mảnh sa vương vất đó đây. Gió thổi dạt những bông lau tím phớt nghiêng nghiêng chụm vào nhau, ẻo lả như thân gái dặm trường đang dạt vào nẻo bến đời bất định.


Gần trưa, ba người tới Khương Sơn Hạ. Vợ Thảo vẫn như thường lệ, ngồi trong quán bán hàng. Đàn con Thảo mừng thấy bố, vui gặp bác, hò reo ra đỡ ba lô, đứa nắm tay áo cô Oanh khoe mẹ đắt hàng vừa mua đôi vịt, đứa nắm tay Linh khoe nhà có rượu ngon chờ đón bác.


Vợ Thảo hân hoan đón bạn vào hàng, hỏi thăm Oanh về ngày sinh. Oanh ứa nước mắt nhìn ra đồi cước bốn mùa lá nõn màu ngọc thạch, đáp:


- Chỉ vào cuối tháng sau em ở cữ. Đời lang bạt mãi thế này, thực chưa biết ngả vào đâu.


- Anh chị tạm nghỉ với chúng tôi. Một cái quán chông chênh này cũng đủ che mưa nắng - Thảo cười rồi nói tiếp - Được cái bếp không bao giờ tắt lửa, bún riêu và chè đậu đen những khi không bán hết, chủ quán được ăn trừ bữa như cảnh vợ chồng bác Trương ở Ngã tư Ngô Xá.


Linh giọng chân thành:


- Oanh sẽ chịu khó giúp chị làm hàng, phải cố mà quên cuộc đời quận chúa, giai nhân sân khấu…


Vợ Thảo nhìn hai bàn tay Oanh nõn nà, những chiếc móng thon dài nhuộm màu hoa lựu, cô cười khanh khách cắt lời Linh:


- Thôi ạ, tay tôi đã quen với càng cua, củi sắc thế mà cũng nát ra. Bàn tay nữ nghệ sĩ đẹp thế kia thì nhất định là ngon lắm, cua nó tha hồ bắt nạt. Chị cứ an tâm tĩnh dưỡng, đến ngày sinh nở đã có tôi. Bạn đàn bà với nhau phải có bổn phận dắt díu nhau khi vượt cạn. Còn các ông thì vượt sông vượt biển cũng mặc các ông. Đến cá ông voi cũng chán không muốn nuốt các ông vào bụng nữa.


Thảo cười:


- Thế mà chúng tôi phải sợ càng cua đấy. Gái thời loạn các bà anh hùng hơn chúng tôi nhiều.


Vợ Thảo cười tiếp ý chồng:


- Chả anh hùng mà cứ mỗi ngày lại xé xác hàng năm bảy trăm cua. Các ông thử mó vào xem, các ông sẽ biết.


Đứa trẻ lớn xen vào lời mẹ:


- Mẹ cháu lại có cái tài giết vịt. Tiết canh vịt mà mẹ cháu đánh cho bố cháu nhắm tuyệt lắm. Mẹ thử trổ tài cho bác Linh xem.


Đứa bé ngắt lời anh:


- Thế mới gọi là anh hùng chứ!


- Con sẽ vào trại nhà ông Chánh trong làng trèo lên cây ngắt khế. Tỏi thì trong bếp có sẵn rồi. Chỉ còn thiếu húng Láng thôi.


Thảo cười to:


- Các con tôi thảo luận về công tác tiết canh vịt, riêu cua dữ quá. Yêu cầu biểu quyết và thông qua, nghĩa là các chú đi đun nước ngay đi, để chiều nay đãi tiệc.


Đàn con mừng vì sắp được no cơm thịt sau  khi bố đi vắng lâu ngày trở về; nếu như không có “các bác” qua đường ghé nghỉ để thay quần áo bụi bậm, ra sông máng tắm và nằm khểnh ngâm nga thi phú với bố chúng độ dăm ngày, thì mấy mẹ con chỉ được ăn chè bún ế, cơm gạo đỏ với trám xanh muối mặn.


Thấm thoắt Oanh và Linh trú ngụ ở gia đình Thảo đã gần một tháng. Ngày ngày cô ra hàng ngồi cùng vợ Thảo, lúc đông khách vào ăn thì tiếp hộ. Lúc rỗi, cô lại vá víu quần áo cho Linh hoặc phá các áo cũ khâu thành những chiếc áo xinh xắn cho đứa con sắp ra đời.


Sống trong gia đình Thảo, cô mới biết đồng tiền kiếm được thực khó khăn. Vợ Thảo ngày nào cũng vậy, đều đều như cái máy, dậy từ gà gáy lần thứ nhất để xé cua, cời gạch, rồi thì giã, lọc, rồi thì nướng quả dọc chua, gạn mẻ, xào mầu mỡ. Xong nồi riêu ngon ngọt lại lo đến nồi chè đỗ, lọ kẹo, que đóm nỏ, hũ chè tươi. Người đàn bà ấy từ thuở còn con gái đã quen mùi phú quý đến khi lấy chồng đã quen buôn nghìn bán vạn, gánh vác việc nhà chồng, quần quật cả ngày, làm nhanh, sạch sẽ, ngăn nắp, không hề dám gắt chồng mắng con. Và khi hàng ế cũng như lúc hàng đắt, người đàn bà ấy không hề xao nhãng mâm cơm đãi bạn, cần có rượu ngon, món nhắm, chẳng đợi chồng phải bảo.


Oanh xưa nay vốn quen mùi hương phấn thời bình ở các tỉnh thành, cô chỉ mỉm một nụ cười, rướn đôi mày liễu, đưa một ngón tay ra hiệu là đã có kẻ dâng tiền cho cô sài phá. Mới ngoài hai mươi tuổi, cô đã lang bạt từ Cao Mên đến Sài Gòn, lục tỉnh, bước qua năm bảy dịp cầu tình duyên. Dịp trước gẫy dịp sau lại nối, cô coi là thường sự cầm cố cái nhan sắc lộng lẫy của mình cho cái sòng đời đen đỏ, chẳng quan trọng gì hơn việc gởi tạm một bộ áo, chiếc đồng hồ cho nhà Vạn Bảo. “Ái tình chỉ là một cuộc giết thời giờ”, cô đã quen cười lớn, nói thẳng vào mặt những kẻ sắp muốn tự tử vì cô. Nhưng rồi người con gái dày dạn ấy đã hiểu ý nghĩa tình yêu kể từ khi gặp Linh trên kịch trường mà tài trí, phong độ của anh đã chế ngự và buộc chặt cánh con chim én đong đưa ấy. Con chim trời đã cam chịu qua mấy năm nay nằm hót những tiếng buồn rầu, tha thiết trong tay áo rộng của người tình nghệ sĩ. Bởi thế mà Linh nghiến răng lìa bỏ gia đình, coi thân thế nhẹ như cánh lá bay theo tình, theo gió. Và chính vì thế mà cô cũng đành bỏ mẹ già và đứa con tám tuổi ở Thái Bình quê cũ, say đắm theo Linh và đoàn kịch kéo nhau lên phía Bắc trước ngày Hà Nội khói lửa. Yêu nhau vì nghệ thuật, bây giờ lại vì nghệ thuật mà đôi lứa ấy khổ vì nhau. Anh cam đành, không than thở. Nhưng cô, từ khi thai nghén đâm ra hay đau ốm, thành ra bẳn tính, luôn luôn day dứt bạn tình, tuy vợ chồng Thảo đã cố dàn hòa, an ủi.


Ít ngày nay sống bên vợ Thảo, Oanh đã được cảm hóa dần dần. Trước đây cô còn ngại rét, vẫn trùm chăn kín trong khi vợ Thảo đã lẹp kẹp guốc mòn ra giếng khơi múc nước, đãi gạo, giã cua. Rồi lại suốt ngày vợ Thảo ngồi còng lưng phẩy ruồi, chào khách, châm đóm và bưng điếu, chiều từ anh chàng công tác qua đường đến bác lái thuốc lào, lái lợn, để ngửa tay nhặt năm hào, một đồng tiền bát nước chè, bát bún.


Oanh không đành ngủ sớm dậy trưa, cũng cố tung chăn dậy cùng vợ Thảo nhóm bếp xé cua, cời gạch cua, vừa làm vừa sưởi ấm. Mỗi lần ngón tay nuột nà của cô bị càng cua cắp nghiến, cô lại xuýt xoa rồi cười khanh khách, trong khi ấy thì nước mắt cô đã ứa ra. Vợ Thảo nắm tay Oanh, gỡ bẻ càng cua, xoa xuýt thổi, bảo cô lên nhà nằm nghỉ, kẻo sắp đến ngày ở cữ, nên tĩnh dưỡng. Cô khóc nấc lên, chua xót đáp:


- Cua cắp thịt không đau. Em chỉ đau lòng vì yêu thương anh chị, nhất là thương chị, đã từ bao lâu rồi, bàn tay chị nứt mãi ra vì cua cắp, gai đâm, vậy mà lúc nào chị cũng vui vẻ lo cho chồng con, bạn bè ấm no.


Vợ Thảo khẽ thở dài. Khuôn mặt người đàn bà đảm đang, tần tảo sớm già trước tuổi ấy bỗng như se lại bên ánh lửa.


Mọi khi ngày phiên chợ, vợ Thảo phải nhờ Linh trông hộ cửa hàng, nếu ông chồng không mắc bận ngao du, để cắp thúng đi chợ cách xa vài cây số. Oanh tình nguyện xin đi chợ mua các thứ về làm hàng và làm cơm bữa. Vợ Thảo không nghe, bảo:


- Bà to bụng và yếu ớt đi sao nổi năm bảy cây số cả đi lẫn về. Đường lại xẻ nhiều, hố sâu nước vũng như ao, nhỡ sẩy chân thì khốn. Thôi để mặc tôi.


Nhưng cô cứ đòi đi, đỡ đần cho bạn. Thảo liền đề nghị:


- Nếu thế thì anh Linh đi phò tá. Lũ trẻ cho đi hộ vệ, để lúc về chúng nó thay phiên nhau xách bị.


Anh đang soạn dở vở kịch thơ lịch sử, đành phải xếp bản thảo, bỏ bút, mặc áo đội mũ đi chợ với cô. Cô chụp nón, xách bị, nhẩm lại những món cần mua mà vợ Thảo căn dặn. Đi được ba bước, Oanh vội quay lại hỏi:


- Mật, cua, kẹo bột, kẹo lam, cá, cà chua… rồi gì nữa, đến chợ thì có lẽ em quên hết.


Rồi đập yêu vào cánh tay Linh:


- Tại có anh Linh đi cạnh làm em lú lẫn.


Vợ Thảo cả cười:


- Còn món bầu dục đem về chần cho các ông ấy đánh chén. Nhớ mua chuối tiêu và dặn cô hàng bún mai xếp bớt đi, vì không phải ngày phiên chợ.


Oanh lim dim mắt, nhẩm lại, rồi lại ngập ngừng:


- Khó nhớ quá. Nhiều món thế. Anh Linh nhớ hộ em, hay biên vào sổ tay kia.


Vợ chồng Thảo cùng cười. Thảo nói:


- Ấy thế mà học vở kịch thì chỉ thoáng một đêm là bà ấy thuộc vanh vách hàng mấy trăm câu thơ của ông ấy. Thuộc đến nỗi ra sân khấu bà ấy lại nhắc thầm cho chính tác giả và các vai khác nữa.


Oanh cười, hai hàng răng đều như ngọc loáng trong nắng ấm phơn phớt ửng trên làn môi nhẫy mọng tuy cô không tô son điểm phấn như những ngày đi làm kịch :


- Thế mới gọi là khôn nhà  dại chợ, phải không anh chị?


Linh chế giễu:


- Cô ấy chẳng dại đâu. Chốc nữa đến chợ, thấy mùi chả chó lại sà ngay vào làm năm bảy gắp. Quận chúa Huyền Cơ của tôi chỉ thích chả chó chấm mắm tôm chanh thôi ạ.


Vợ Thảo cãi hộ Oanh:


- Nếu không biết thưởng thức hương vị chả chó thì biết sao được cái hay của thơ anh để thuộc lòng tất cả các tác phẩm anh đã viết.


Cô cười:


- Đúng thế. Mà có phần hương vị chả chó còn ngon hơn thơ anh đấy. Yêu thơ anh tôi cứ gầy võ mãi đi, chứ yêu hương vị chả chó rồi tôi sẽ béo.


- Vậy thì hoan hô chả chó.


Linh vẫy lũ trẻ con:


- Nào, xuống chợ mau, các cháu. Đường xa ngày ngắn, tán mãi, đến nơi thì vãn hết chợ rồi!


Oanh, Linh và bọn trẻ đi được lúc lâu, Thảo quay vào đọc tập bản thảo của Linh. Thơ Linh dạo này đã nhiễm màu đại chúng, nhưng đôi khi cái nước sơn phong kiến tư sản cũ vẫn lộ ra qua những sắc thái dị kỳ rung lên bằng nhạc điệu.


Thảo cao hứng cất giọng ngâm. Vừa lúc đó, Thảo nghe có tiếng một cụ già nói ngoài hàng:


- Hai bác dọn quán ở đây à? May quá, mỏi chân vào quán nghỉ, gặp ngay người quen định gặp. Già không vào quán thì lại mất công tìm hỏi ở trong làng. Bác trai đâu?


(còn tiếp)


Nguồn: Mưa thu. Tuyển tập truyện dài của Ngọc Giao. Nguyễn Tuấn Khanh tuyển chọn. NXB Văn học sắp xuất bản


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 23.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »