tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30522812
10.12.2011
Hà Minh Đức
Nguyễn Đình Thi - Chim phượng bay từ núi (6)

Những tư tưởng soi rọi trong thơ anh đến với từng cuộc đời trong nhiều cảnh ngộ khác nhau. Nó là ngọn lửa sưởi ấm niềm tin trong những lúc khó khăn, là tia nắng để tìm ra lối đi, là lời động viên mọi người hướng về phía trước. Đó là một buổi chiều của người em gái trên bến nước “Dưới trời chim én dập dìu. Trăm nghìn ước mơ đập cánh”, là ánh sáng vĩnh viễn của con người và tạo vật trong không gian và thời gian “Đốm lửa nhỏ vẫn cháy dưới ngôi sao đầu tiên lấp lánh hiện lên”, là mùa gieo hạt không ngừng nghỉ của cách mạng giữa mùa gió lớn:


Và nắm tay cách mạng vẫn đang gieo đang gieo


không ngừng


Những hạt thóc vàng rào rào bay


Qua mỗi hiện tượng bình dị hàng ngày, Nguyễn Đình Thi đều muốn khơi động đến chiều sâu của cuộc sống. Trên dòng trôi chảy của thời gian qua năm tháng, anh chú ý đến hiện tại và cả những cái gì thuộc về vĩnh viễn. Anh tìm hiểu những mặt tương đồng và tương phản của hiện tượng. Đến với thơ từ triết học và chính luận, nên trong tư duy thi ca của tác giả có một mạch triết lý: Chất triết lý trong thơ Nguyễn Đình Thi thể hiện trong ý thức chủ động khai thác các mối quan hệ của con người trong cuộc sống. Viết về đề tài chiến đấu tác giả ít triết lý vì bản thân cái lớn lao của con người trong đấu tranh là triết lý lớn, triết lý của hành động. Nguyễn Đình Thi thường khai thác ý nghĩa triết học trong thơ từ những quan hệ bình dị, quen thuộc của đời sống hàng ngày trong lao động và xây dựng hạnh phúc. Ở đây thơ anh bộc lộ kín đáo chủ nghĩa nhân đạo trong cách suy nghĩ về cuộc đời:


Hỡi người sắp đi xa, người có muốn đem theo gì


nữa không?


Tôi chỉ mong được một vài ánh mắt nhìn quyến luyến


Người có muốn gửi lại gì không?


Chút nắng ấm cho người tôi yêu thương.


Tác giả tìm tứ và phát hiện thêm những mối liên hệ có thể ít được quan tâm đầy đủ trong cuộc sống. Người đàn bà trẻ đẹp đang chăm sóc đứa trẻ nhỏ, người chiến sỹ giúp đỡ bà cụ già trên đường đi… họ là những điểm tựa cho những con người nhỏ tuổi và già nua. Nguyễn Đình Thi muốn nói đến mặt thứ hai của mối quan hệ. Đứa trẻ nhỏ và bà cụ già, những con người tưởng như là không có sức mạnh và luôn cần được che chở lại chính cũng là nơi dựa cho những người đang còn sức lực trên. Cái khó nhất của triết lý trong thơ là triết lý về sự sống hàng ngày. Có thể rồi chẳng phát hiện được gì mới mẻ, có thể rồi tác giả lại quan trọng hóa, lý tưởng hóa những sự việc vốn bình dị, mộc mạc. Trong thơ, không phải bao giờ Nguyễn Đình Thi cũng tạo được hiệu quả. Có những bài thơ của anh viết còn khó hiểu. Cái ánh biếc của một cánh chim đã góp phần dắt dẫn đường đi cho người chiến sỹ giữa khung cảnh chiến trường là biểu tượng cho một tín niệm và chân lý xã hội? Con chim, ánh biếc là một hình ảnh dẫn đường cho hôm qua:


Đốm biếc lại bay lên phía trước


Cứ như thế bay rồi đợi


Con chim bay đợi chiếc xuồng có người


và cho mai sau “Từ đấy đã bao tháng này. Con chim ánh biếc phía trước tôi vẫn bay”. Câu hỏi của trang sách bên đèn trong đêm về ý nghĩa của thời gian không tìm được lời giải đáp thỏa đáng và có phần mơ hồ xa xôi:


Năm tháng vẫn qua đi  – Tất cả qua đi


Sẽ còn lại gì?


- Nụ cười của em


Hoa nhỏ vàng hoe nghiêng xuống tỏa thơm


Tự nhiên là không thể đòi hỏi mọi chuyện trong thơ phải thật cụ thể, song mọi liên tưởng phải có hướng xác định. Thơ Nguyễn Đình Thi không nhiều, nhưng có nhiều bài hay. Thơ ông có phong cách độc đáo. Nói về thơ mình trong một lần chuyện trò Nguyễn Đình Thi khiêm tốn tự nhận xét: “Cả đời thơ tôi làm được khoảng 100 bài. Có hai bài hay, mười bài khá. Thế thôi”. Chuẩn mực của nhà thơ về một bài thơ hay là như thế nào. Chắc chắn là không dễ. Số lượng bài hay và khá trong thơ Nguyễn Đình Thi có thể được nhân lên nhiều lần hơn. Mỗi bài thơ của Nguyễn Đình Thi mang một vẻ riêng trong cấu tạo nội dung cũng như hình thức. Nghệ thuật cấu tạo về ngôn từ của bài thơ đi sát với nội dung ý tưởng. Ông chống lại mọi khuôn sáo ước lệ. Những bài thơ không vần và cuộc tranh luận về thơ của Nguyễn Đình Thi ở Việt Bắc đã nói lên thực tế đó. Nhưng còn hơn thế nữa ông thể hiện bản lĩnh của mình một cách chủ động trong suốt cuộc đời thơ. Ông chủ động trong việc tổ chức tứ thơ, sử dụng linh hoạt và tinh tế hệ thống ngôn từ. Người đọc cũng dễ nhận thấy là ở những bài thơ gắn liền với đời sống của dân tộc, thì hệ thống hình ảnh và ngôn từ độc đáo và sáng tạo; mặt khác ở những sáng tác mà hình tượng thơ mang nhiều tính chất tượng trưng và ước lệ thì những hình ảnh và ngôn từ lại có phần nghèo nàn và có xu hướng lặp lại. Trong thơ, Nguyễn Đình Thi ít chịu ảnh hưởng rõ rệt của một phong cách thơ khác. Cũng có thể tìm thấy ít nhiều cách nghĩ và thể hiện của Aragông và Êluya trong thơ. Và riêng ở những bài thơ mang màu sắc triết lý thì có thể Nguyễn Đình Thi chịu ảnh hưởng Tago. Có chút gì đấy như nỗi niềm sâu kín thiêng liêng khi tác giả đi sâu vào một tình cảm, một khát vọng thầm lắng và thiết tha, anh không rơi vào sự bí ẩn của tôn giáo không xa rời những liên tưởng quen thuộc trong đời và trong thơ.


Người chiến sỹ, Bài thơ Hắc Hải, Dòng sông trong xanh chủ yếu là những tập thơ của cuộc đời. Từ Tia nắng đặc biệt với Sóng reo Nguyễn Đình Thi trở về với mình. Đã đến lúc có thể nhìn lại chính mình qua một chặng đường dài. Nhớ, nhớ, quên, quên, cái gì đã đến và cái gì đã quên, như mơ hồ, như quên lãng rồi lại sớm nhận ra nhưng tự bên trong là những dấu ấn xót xa. Vui buồn của một đời người sao không gây ấn tượng gì đặc biệt? Nhất là những năm tháng đẹp, sinh sôi trưởng thành của mùa xuân, mùa hạ còn lại những kỷ niệm gì?


Đã có mưa xuân đời tôi không nhỉ


Và đã có không cả một mùa hè


Tôi chỉ nhớ đã đi nhiều mê mải


Năm tháng đêm ngày theo một ánh xa.


(Mùa thu vàng)


Tự mình đánh giá và phán xét, tự mình thu xếp lúc cuối đời. Đó là điều mà mỗi người mong mốn. Có bao nhiêu niềm vui và chuyện buồn, tự mình không dễ hiểu hết, và cũng mong đừng ai soi mói. Nguyễn Đình Thi muốn có sự minh bạch thanh thản trong tâm tư:


Tôi sợ các thứ quạ bay đến


Tôi không muốn ai nhìn vào đời tôi


Gió dữ thổi không ngừng


Tôi đi mãi vẫn lạ


Cái đẹp làm cho mọi vật không cùng


 


Tôi đã có


Những ngày ánh sáng


Lắm nỗi gieo neo


Và lạnh


 


Chiều đến chân trời


Tất cả mênh mông rực rỡ


Tôi là ai nhỉ


Một chút trắng hồng dạo dạt sóng.


(Sen biếc)


Câu hỏi “Tôi là ai nhỉ” đã được nhiều nhà thơ trong phong trào Thơ mới tự vấn. Mỗi người sẽ có cách trả lời cho mình. Và mai sau ở những thế hệ tiếp theo cũng vẫn có những câu hỏi và trả lời của hậu thế. Nguyễn Đình Thi đã chân thành tự phê phán. Cái gia tài mà ông tự kiểm kê lúc cuối đời thật ngậm ngùi. Của cải ư? Đó là chuyện phù du nhiều khi đè nặng kiếp người. Giá trị tinh thần một đời đeo đuổi ư? Làm sao mà định giá được trước những biến thiên của cuộc sống. Nguyễn Du đã từng than thở:


Bất tri tam bách dư niên hậu


Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.


Nguyễn Du đã lo quá xa với mốc thời gian ba trăm năm. Trong cuộc đời hôm nay mọi người quên lãng nhanh hơn, các chuẩn mực nghệ thuật và thi ca cũng đổi thay nhiều theo năm tháng. Người nghệ sỹ không dễ tự đánh giá mình:


Vâng tôi vẫn hai tay trần và túi rỗng


Không có được gì đắt giá tặng ông


Tôi còn vướng mấy câu thơ vô tích sự


Loay hoay mãi chưa xong


(Giữa đường)


Có một chút gì như tự trào nhưng chủ yếu vẫn là lòng chân thành biết khiêm tốn để tự đánh giá mình:


Tôi không nói được mình đã trải đời


Không nói được mình đã hiểu người


Không dám nói mình đã biết yêu


Không dám nói mình đã biết sống.


Mỗi bước mùa xuân đến


Kia dịu dàng trên cỏ non


Cái tổ ong hồn tôi cuống quít rộn ràng


(Tóc bạc)


Những câu thơ vẫn còn chan chứa tình cảm yêu đời. Tóc đã bạc rồi nhưng đấy chưa phải là dấu hiệu của kết thúc. Thơ Nguyễn Đình Thi cho dù có buồn, có phần nào chán nản nhưng cái gốc vẫn là lòng yêu đời, là cảm hứng tin cậy và nồng hậu với tương lai. Như thế vẫn chưa đủ, đã đến thời điểm cái tôi cần muốn nói, muốn bộc lộ và tự phê phán chân thực mạnh mẽ hơn.


Những câu thơ tự thú nặng nề, và ít nhiều mang tính tự trào như một số nhà thơ xưa nhưng không khép lại như một nỗi ân hận không thể được giải thoát. Cái thời điểm “Rồi hôm nào bỗng gió bay. Cái bóng ngoài kia đến đợi. Anh giật mình đứng dậy. Đến giờ rồi hôm nay” đã thực sự gây xúc động về một cuộc chia tay vĩnh viễn. Nhà thơ đã đến và gần sáu thập kỷ đã đóng góp, sáng tạo với tư chất một tài năng thi ca, một nhân cách văn hóa và khi ra đi với lời tự bạch cho mình và cũng là cho cuộc đời:


Trên tay cốc nhỏ không đầy


Uống chúc bạn bè ở lại


Anh chắt đời anh chắt mãi


Chút ngọt bùi, chút đắng cay


Người tôi còn nhiều bùn tanh


Mặt tôi nhuốm xanh nhuốm đỏ


Tay tôi vướng nhiều đồ bỏ


Nhiều dây nhợ tự buộc mình


Thôi xin tha cho mọi lỗi lầm


Quên cho những dối lừa khoác lác


Tôi biết tôi đã nhiều lần ác


Và ngu dại còn nhiều lần hơn…


Tất cả mọi ràng buộc chật hẹp, định kiến khắt khe và trò giả dối trong đời nhiều năm đã chi phối đến trang viết đã được nhà thơ gửi lại trần thế, để đi về cõi xa nhẹ nhàng thanh thoát. Thơ ca đã giúp cho Nguyễn Đình Thi một nẻo đường nhỏ giải thoát.


Nghệ thuật thơ Nguyễn Đình Thi là nghệ thuật của thơ tự do. Không dựa vào cứu cánh của thơ cách luật vào vần điệu, quy ước mà chủ yếu hình thức nghệ thuật của bài thơ tự do được tạo nên từ những yếu tố bên trong, cảm xúc, nhịp điệu, ngôn từ. Bài thơ phải có nhạc, không phải chất nhạc của thơ cách luật theo các thể lục bát, thất ngôn… mà là chất nhạc riêng của từng nhà thơ, từng bài thơ. Có thể nói mỗi bài thơ có một hình thức sáng tạo riêng và mỗi câu thơ cũng có vị trí và tiếng nói riêng. Hoàng Cát nhận xét: “Từng câu thơ Nguyễn Đình Thi thường biến ảo bất kỳ. Nó dài ngắn ra sao, ngắt câu như thế nào và xuống dòng ở đâu… là hoàn toàn do cái hơi mạch bên trong của tứ thơ, của hồn thơ chứ nó không cố định, không cứng nhắc gò ép vào bất cứ một thể thơ truyền thống nào” . Với sáng tác có tính chính luận Nguyễn Đình Thi đã vận dụng tư duy sắc sảo, mạnh mẽ, phóng khoáng:


Không sao chịu nổi


Lật hết đi


Thử xoay ngược lại


Xem thành cái gì


Cái ác của kẻ mạnh thành cái hèn của kẻ mạnh


Cái hèn của kẻ yếu thành cái ác của kẻ yếu


Cái tham của kẻ thừa thành cái thèm của kẻ thừa


Cái thèm của kẻ thiếu thành cái tham của kẻ thiếu


Nếu chỉ thế thì mọi việc chẳng thay đổi gì. Tình thế đã xấu lại có thể xấu thêm. Vấn đề quan trọng là phải cải tạo, đổi thay cơ bản theo hướng tốt: Ra khỏi bóng đêm/ Đi tới buổi sáng/ Không có bóc lột ăn hiếp/ Mỗi dân tộc cần đến mỗi dân tộc/ Mỗi con người cần đến mỗi con người. Thưa bạn. Tôi nghĩ cách mạng là như vậy/ Nhưng đó không phải chuyện một lúc (Cách mạng).


Phổ biến trong thơ Nguyễn Đình Thi là loại trữ tình cách mạng trầm sâu, ít bộc lộ nhưng không hề có sự ràng buộc hạn chế nào. Nguyễn Đình Thi đã kết hợp sâu sắc giữa sự chắt lọc về câu chữ với lời nói tự nhiên, bình dị, thông thường. Thơ Nguyễn Đình Thi thường kiệm chữ, người viết kín đáo kiến trúc câu thơ như không có dấu vết gì rõ rệt của bàn tay thi nhân và chỉ tạo nên những lời nói thông thường nhưng thực sự đã đổi thay trong khả năng liên kết với các từ ngữ khác để tạo nên những giá trị mới. Tác giả viết: “Người làm thơ chọn chữ và tiếng không chỉ vì ý nghĩa của nó cái nghĩa thế nào là thế ấy, đóng lại trong một khung sắt. Điều kỳ diệu của thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ, ngoài cái công dụng gọi tên sự vật bỗng tự phá tung, mở rộng ra, gọi đến chung quanh nó, những cảm xúc, những hình ảnh không ngờ tỏa ra xung quanh một vùng ánh sáng động đậy. Sức mạnh của câu thơ là ở sức gợi ấy” .


Trong dòng hòa nhập với cuộc đời Nguyễn Đình Thi là người hiện diện, gánh vác và hòa nhập với cộng đồng. Cái tôi ở từng thể loại cũng bộc lộ những sắc thái khác nhau.


Thơ chấp nhận sự có mặt của nhà thơ như thế nào? Nguyễn Đình Thi không đến từ phong trào thơ mới với cái tôi bộc lộ có bản sắc và nhiều khi ồn ào, riêng biệt. Nguyễn Đình Thi có mặt tự buổi đầu của thơ ca cách mạng đang tạo dựng cái riêng cho mỗi tác giả. Nguyễn Đình Thi cũng tránh được tiếng nói của một cái tôi buổi đầu nặng về ý chí, bộc trực nhưng đơn giản. Nhà thơ Đỗ Minh Tuấn nhận xét: “Thơ Nguyễn Đình Thi xuất hiện như một quãng lặng trong sự chuyển tiếp giữa hai nền thơ, hai chương bản giao hưởng mà giai điệu chính là cái tôi và cái ta. Cùng với thời gian quãng lặng ấy ngân dài, hòa trong một bè trầm tao nhã của thơ ca cách mạng, ở đó người đọc tiếp xúc với một phía khác của người cách mạng, một thái độ khiêm nhường trước con người và trời đất, một cửa sổ mở ra cõi tịch của thiền sư. Thái độ trữ tình ấy là một tinh thần nhân văn cố gắng vươn tới cõi im lặng sâu thẳm của vũ trụ, nó đối trọng với cái ồn ào lên gân và tinh thần duy lý, duy ý chí” .


Nhà thơ Thanh Thảo ca ngợi tập Sóng reo tập thơ cuối của Nguyễn Đình Thi. Sóng reo nhưng dường như không có tiếng. Trong bài viết kỷ niệm năm năm ngày mất của Nguyễn Đình Thi: Sóng reo – thanh và vô thanh, Thanh Thảo đã chú ý đến tính vô thanh của tập thơ: “Cái đáng ngại với một nhà thơ nhiều khi lại là thơ của mình. Đáng ngại nhất là khi đối diện với thơ của mình ở những “phút 89” của cuộc đời. Không thể nói khác, không cả lẩn tránh, không phải những bữa tiệc ngôn từ. Chỉ còn những khoảng trắng, những khoảng trống, những khoảng lặng và chính ở đó hình ảnh trung thực của nhà thơ chợt đẹp lên trước thơ mình, bởi thơ mình như đứa trẻ cô đơn chạy trần truồng dưới cơn mưa nặng hạt. Tôi đọc tập Sóng reo, mừng cho tác giả, mừng cho thơ”… Sóng reo đã được tặng giải thưởng đặc biệt của Hội nhà văn Việt Nam năm 2004. Từ tập thơ đầu Người chiến sỹ (1950) cho đến Sóng reo (2001) – gần năm mươi năm thơ Nguyễn Đình Thi vẫn gây xúc động, chinh phục người đọc với giọng điệu trữ tình, giàu bản sắc, và hiện đại.


 


CHƯƠNG BỐN


TÁC PHẨM KỊCH CỦA NGUYỄN ĐÌNH THI


Trong quá trình sáng tác của một nhà văn việc vận dụng thể loại văn học tùy thuộc vào tài năng và nội lực sáng tạo của người viết và một phần ở điều kiện khách quan. Có người trong suốt cuộc đời viết chỉ viết một loại như thơ với Tố Hữu, Huy Cận, Tế Hanh, nghiên cứu, phê bình với Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan… Nguyễn Đình Thi là người viết nhiều loại: nhạc, thơ, tiểu thuyết, lý luận phê bình và kịch và ở thể loại nào cũng có thành tựu cao. Không phải ngẫu hứng hoặc chạy theo thể nghiệm mà là nhu cầu nội tại của sáng tạo, của một nhà văn có nhiều tài năng. Không thể có sự sắp xếp trên những chặng đường dài, thời điểm nào cho thơ, thời điểm nào cho kịch… Đến với nhạc, với thơ trong tuổi trẻ nhiều mơ ước là điều quen thuộc và hợp lý của nhiều người viết. Thơ là thể loại được xem là ưu trội trong suốt nhiều thời kỳ từ Người chiến sỹ (1956), Bài ca Hắc Hải (1959), Dòng sông trong xanh (1974), Tia nắng (1983), Trong cát bụi (1992) đến Sóng reo (2002), Nguyễn Đình Thi xem “làm thơ là tự lấy mình ra làm cây đàn”. Cây đàn thơ của Nguyễn Đình Thi đã đóng góp cho thơ ca thời kỳ hiện đại nhiều bài thơ hay giá trị. Bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, hòa nhập với đời sống chiến trường với tư cách là nhà văn chiến sỹ, người chiến binh, và chúng ta đã có một Nguyễn Đình Thi của văn xuôi. Và như một sắp xếp có tính tiền định chăng, Nguyễn Đình Thi đã dành phần lớn thời gian khi tuổi đã cao cho kịch. Nói như Huy Cận là phải ở tuổi năm mươi Nguyễn Đình Thi mới sáng tạo được những vở kịch giàu trải nghiệm đến như thế, kịch Nguyễn Đình Thi như mang ý nghĩa đúc kết về hai bình diện, những suy nghĩ của người viết qua nhiều chặng đường và bình diện đúc kết những điển hình không trải ra ở bề rộng mà lắng đọng ở chiều sâu, ở những xung đột bi kịch của nhiều số phận, nhiều cảnh đời qua nhiều thời kỳ lịch sử, xưa cũng như nay: Kịch là phần đóng góp nổi bật của Nguyễn Đình Thi. Với văn xuôi nhà văn thông minh và tài hoa này đã có những đóng góp riêng qua một cách nhìn mới về cuộc sống, qua khả năng phát hiện động lực của mỗi nhân vật đang theo đuổi để làm tròn trách nhiệm của mình. Nhưng dù sao cũng chưa phải là những bức tranh hoàn thiện khi vốn sống về cuộc đời cũ trong Vỡ bờ còn có chỗ bất cập, không đồng đều. Những tác phẩm như Xung kích, Vào lửa, Mặt trận trên cao ghi nhận sự hiện diện của người viết ở tuyến lửa và miêu tả được khoảnh khắc quý hiếm của cuộc sống chiến đấu của dân tộc nhưng cần có thêm sự lắng đọng, kết tinh của hiện thực với thời gian. Nhà văn Tô Hoài tác giả văn xuôi có hạng, người cộng sự lâu năm của Nguyễn Đình Thi đã nhận xét “Trong khối lượng sáng tác phong phú các thể loại của Nguyễn Đình Thi tôi chú trọng khu vực sáng tác kịch bản sân khấu. Ở mỗi vở kịch đều mang triết lý của một nhân vật lịch sử, một truyền thống hay huyền thoại, tất cả đều có tình người và tình huống xã hội của một tư tưởng một triết lý . Nguyễn Quang Sáng cũng nhận xét: “Nhạc của anh tôi có nghe. Diệt phát xít, Người Hà Nội nghe từ nhỏ. Bây giờ lâu lâu nghe lại vẫn thấy hay và nhớ một thời sôi nổi những ngày đầu đi theo cách mạng giải phóng dân tộc. Văn và thơ anh tôi cũng được đọc, anh đã để lại trong tôi những câu văn và thơ đằm thắm và ngọt ngào. Nhưng ấn tượng sâu sắc nhất của anh đối với tôi lại là kịch” .


Nguyễn Đình Thi đến với kịch sớm, từ vở Con nai đen (1961). Nhưng rồi có thể duyên đầu không suôn sẻ nên phải mười lăm năm sau ông mới trở lại với Hoa và Ngần (1975). Hoa và Ngần không có những xung đột kịch căng thẳng mà là chuyện đời thường, gần gũi của hậu phương trong những năm chống Mỹ. Nguyễn Đình Thi chú ý đến những cảnh ngộ bình dị của từng số phận luôn đổi thay trước thời cuộc và người phụ nữ phải chịu đựng nhiều đau khổ, thiệt thòi. Hoa và Ngần chú ý đến cả hai bình diện của đời sống trong chiến tranh, phẩm chất anh hùng của các nhân vật được biểu hiện qua chuyện đời thường và một mặt là những nỗ lực vượt lên thử thách trong chiến tranh. Hoa và Ngần mang dáng dấp của một chuyện kể bằng sân khấu. Một chuỗi những sự kiện lần lượt diễn ra tiếp nối nhau đan xen với hoạt động của các nhân vật. Phía sau các tình huống là những suy nghĩ và tình cảm nhân ái của tác giả. Hoa và Ngần chưa gây ấn tượng đặc biệt về kịch của Nguyễn Đình Thi. Từ những năm 80 trở đi khi tác giả sắp bước vào tuổi 50, tuổi chín của sức sáng tạo, Nguyễn Đình Thi đã viết dồn dập tám vở kịch tiếp theo trong khoảng năm năm: Giấc mơ (1983), Rừng trúc (1978), Nguyễn Trãi ở Đông Quan (1979), Người đàn bà hóa đá (1980), Cái bóng trên tường (1983), Trương Chi (1983), Hòn Cuội (1983-1986). Năm, sáu năm viết tám vở kịch, nhiều vở có giá trị và gây ấn tượng sâu sắc. Về phía chủ quan người viết đã tích tụ lắng sâu suy nghĩ và giải tỏa qua trang viết; Về phía khách quan đây là thời điểm thuận lợi của thời kỳ đổi mới. Trong các sáng tác trên có thể Rừng trúc (1979) và Nguyễn Trãi ở Đông Quan (1979) đến sớm nên không tránh khỏi sự áp đặt nặng nề và đánh giá không sát đúng với giá trị của tác phẩm. Không khí của thời kỳ tiền đổi mới đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả phát huy sức sáng tạo. Chiến tranh đã kết thúc, đất nước thống nhất. Nhiều vấn đề xã hội được đặt ra, phong phú, phức tạp. Ở thời điểm này cũng được mùa kịch với nhiều tác phẩm có giá trị của thời kỳ đổi mới như Nhân danh công lý của Doãn Hoàng Giang, Tôi và chúng ta của Lưu Quang Vũ, Mùa hè ở biển của Xuân Trình. Nguyễn Đình Thi tập trung vào đề tài lịch sử mà ông luôn trân trọng và muốn được thể hiện qua sáng tác. Ngay từ thời kỳ tiền khởi nghĩa Nguyễn Đình Thi đã viết Sức sống của dân tộc Việt Nam trong ca dao và cổ tích (1944) và trong bài hát Người Hà Nội cũng chứa đựng cảm hứng lịch sử sâu sắc. Nhưng rồi cũng phải chờ đợi vào một thời gian thích hợp để có thể viết về lịch sử. Lôi cuốn theo đề tài chiến tranh cách mạng trong những năm kháng chiến chống Pháp và sau hòa bình lập lại tác giả mới có điều kiện viết Vỡ bờ tập 1 (1962). Tác giả chuẩn bị cho Vỡ bờ tập 2 thì chiến tranh chống Mỹ ập đến. Nguyễn Đình Thi phải dừng lại việc viết Vỡ bờ để tập trung vào đề tài thời sự hơn với Vào lửa (1966) và Mặt trận trên cao (1967). Vỡ bờ tập 2 được xuất bản năm 1970.


Trở lại với vở kịch Con nai đen (1961) tác phẩm gây nhiều dư luận và có những ý kiến khắt khe với tác phẩm về chính trị. Con nai đen ra đời trong thời điểm không thuận lợi khi cuộc đấu tranh chống Nhân văn giai phẩm vừa kết thúc, không khí văn chương còn nặng nề, chưa tạo được sự tin cậy với giới lãnh đạo. Thời kỳ này người ta thường nhắc đến vụ việc “bốn con” trong bốn truyện Con nai đen của Nguyễn Đình Thi. Con chó xấu xí của Kim Lân, Văn ngan tướng công của Vũ Tú Nam và Chuyện về con hổ nhỏ trong rừng của nhà văn Nguyên Hồng. Bốn con vật này đều không bình thường và bị nghi kỵ là những hình tượng bóng gió nói xấu cán bộ của nhà nước. Viết về chuyện cỏ cây, loài vật hay là chuyện lịch sử đều phải xem xét cẩn thận tránh tình rạng liên tưởng có tính chất biểu tượng hai mặt. Một cán bộ lãnh đạo trong một bài viết đã chỉ ra “chủ đề tư tưởng sáng rõ một biểu hiện của tính Đảng”. Chủ đề tư tưởng sáng rõ chắc chắn là một nguyên tắc cần thiết cho tác phẩm nghệ thuật. Tuy nhiên đó là điều kiện cần nhưng chưa đủ và có thể chưa phải là chủ yếu để tác phẩm có tính Đảng. Vấn đề quan trọng là nội dung tư tưởng phải thể hiện được tầm cao, tính chiến đấu và sức hấp dẫn của tư tưởng của Đảng. Một mặt trong văn học thường có những khoảng mờ tạo thêm những liên tưởng cần thiết ở người đọc, tác phẩm do đó thêm phong phú. Con nai đen cũng như các con vật trong các tác phẩm kể trên đều bị nghi oan là biểu tượng hai mặt. Sự thực không phải thế và một thời gian sau cũng được hiểu đúng và giải oan.


Con nai đen của Nguyễn Đình Thi được ghi chú: Kịch thần thoại phỏng theo một truyện cổ nước Ý. Nguyễn Đình Thi tâm sự “Con nai đen vốn tên là Vua nai của Ý. Con nai đen của tôi có những điểm khác. Tôi đã cùng Phạm Văn Khoa xem vở kịch rồi viết Con nai đen (có pho tượng biết cười, có chuyện hồn, xác. Tôi thêm ông lão hát rong và một số nhân vật, ông lão hát rong trong nguyên bản là phù thủy. Cũng trong nguyên bản đoạn pho tượng biết nói rất giỏi. Cô gái trách ông Vua “Anh thấu hiểu lẽ đời sao anh lại bày trò thế!”. Câu này là hơn tác phẩm của mình. So sánh thật giả đã phát hiện nguyên hình cái xấu. Đây là cuộc đấu tranh phức tạp giữa thiện và ác” .


So sánh giữa Vua hươu của Carlo Gozzi và Con nai đen của Nguyễn Đình Thi, nhà nghiên cứu Phạm Vĩnh Cư ghi nhận những sáng tạo của Nguyễn Đình Thi. Vua hươu có nhiều yếu tố hài, Con nai đen trang nghiêm và theo đuổi mục tiêu nghệ thuật khác “Xét về tổng thể Con nai đen của Nguyễn Đình Thi có thể được định nghĩa như kịch trữ tình anh hùng về bản chất loại hình khác xa truyện cổ tích cho sân khấu” của Gozzi đã làm nguyên mẫu cho nó” và chỗ mạnh của ngòi bút Nguyễn Đình Thi là “chất trữ tình bao trùm và thẩm thấu tất cả cảm hứng sử thi anh hùng gắn chặt với đề tài yêu nước và chiến đấu bảo vệ đất nước, sự tôn vĩnh lãng mạn tình yêu nam nữ, sự khẳng định quan hệ thân thiết đồng chất giữa con người với thiên nhiên, cảm hứng về dân tộc như một giá trị tối cao và bất tử và chỉ ở đây, con người mới tìm thấy ý nghĩa cho cuộc sống của mình” .


Nguyễn Đình Thi vốn là nhà triết học. Mặc dù viết tiểu thuyết, làm thơ nhưng ở ông trang tư duy nghệ thuật vẫn nhạy cảm với các vấn đề xã hội và đạo lý có ý nghĩa triết học. Nguyễn Đình Thi qua Con nai đen đã đề xuất cuộc đấu tranh không thu hẹp trong phạm vi quan hệ của một số cá nhân cho dù là có quyền lực của triều chính. Theo tác giả cho biết Con nai đen đề cập cuộc đấu tranh giữa cái thiện và ác, chính trực và gian tà. Cuộc đấu tranh không diễn ra đơn giản, thuận chiều mà lẫn lộn phức tạp. Cái ác đội lốt cái thiện, kẻ gian tà khoác bộ áo chính trực. Nguyễn Đình Thi vẫn tiếp tục sử dụng những yếu tố pháp thuật trong Vua hươu để tạo những đổi thay cho các nhân vật. Khi cái ác mang lốt cái thiện thì mọi việc trở nên lẫn lộn, gây đau khổ mất mát cho các nhân vật lương thiện. Nguyễn Đình Thi đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của nhân dân như hòn đá thử vàng để phân biệt đúng sai. Đó là Ông lão hát rong, Con nai đen, cô gái Quế Nga và một bên kia là Quận công và con gái với những âm mưu độc ác. Chính tên Quận công miệng hát những câu quái gở “Mèo mẹ ăn thịt mèo con, ông già thèm bế gái non – Con chó đi hai chân chổng ngược. Này cô nàng ta bắt cô nàng” đã tạo nên nhiều đau khổ cho mọi người. Nhà vua đã bị hồn Quận công nhập vào và biến thành một nhà vua độc ác, xa nhân dân; và chính nhân dân đã giúp nhà vua tỉnh ngộ. Chuyện xảy ra khi nhà vua vừa hoàn thành nhiệm vụ cứu nước, được tôn vinh. Nhưng rồi trong hoàn cảnh mới nhà vua đã biến chất do xa rời nhân dân và bị kẻ xấu chi phối lợi dụng. Vở kịch Con nai đen đã tạo nên những liên hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống nhất là trong hoàn cảnh cuộc kháng chiến chống Pháp vừa kết thúc; nhiều người có quyền lực dễ biến chất trong cảnh sống giàu có phồn vinh. Vở kịch bị quy kết là biểu tượng hai mặt và quá trình diễn biến đổi thay của các nhân vật quá phức tạp. Thực ra tất cả đều có trong nguyên mẫu. Quyền nghĩ là của người đọc nhưng mọi liên tưởng phải hợp lý, suy diễn phải có căn cứ. Tính biểu tượng nhiều mặt vẫn là hiện tượng bình thường và quen thuộc trong văn học. Nó có thể tạo nên sự mở rộng phong phú hơn trong tiếp nhận và tất nhiên là mọi dụng ý xấu và lộ liễu đều không thuộc về những tác phẩm văn học chân chính.


Trở về với nguồn đề tài lịch sử của dân tộc sau gần hai thập kỷ và tác giả đã có những thành công rất đáng ghi nhận. Trên dòng lịch sử của một đất nước kiên cường có hàng ngàn năm lịch sử vẻ vang chống ngoại xâm, Nguyễn Đình Thi đã chọn những thời điểm đặc biệt, những nhân vật kiệt xuất, những tình huống giàu ý nghĩa xã hội để viết Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Rừng trúc… Hoàn cảnh và nhân vật lịch sử đều cụ thể gần gũi cần được nghiên cứu sâu sắc. Nguyễn Đình Thi qua Nguyễn Trãi đã đặt vấn đề vị trí, tài năng và số phận của người tri thức dưới chế độ phong kiến. Nguyễn Trãi nhà thơ lớn của dân tộc đã được Hội đồng Hòa bình thế giới tôn vinh là danh nhân văn hóa thế giới. Nữ nhà văn Pháp Yveline Feray trong cuốn tiểu thuyết Vạn xuân (Dix mille printemps) với hàng ngàn trang sách đã ca ngợi Nguyễn Trãi, nhân vật kiệt xuất của mọi thời đại.


“Độc giả sẽ kinh ngạc trước tài năng đa dạng của kẻ sỹ Việt Nam này vì ông ta vừa là một thi hào, một nhà viết văn cừ khôi, vừa là một chiến lược gia có tầm mắt viễn thấu, một nhà ngoại giao tài tình, một nhạc sỹ lịch lãm, một nhà địa lý thông thái, một nhà sư phạm tuyệt vời. Lúc ấy độc giả sẽ hiểu được rằng tấm thảm kịch của Nguyễn Trãi là tấm thảm kịch của một vĩ nhân sống trong một xã hội quá ư bé nhỏ”.


Tầm vóc, vị trí, tài năng Nguyễn Trãi là thế, Nguyễn Đình Thi sẽ miêu tả Nguyễn Trãi ở đỉnh cao và bình diện xã hội nào? Nhà chiến lược có tầm vóc, nhà thơ lớn, người tri thức lui về ẩn dật, người cô đơn nén chịu những thảm kịch. Nguyễn Đình Thi đã chọn thời điểm lịch sử mà nhân vật bộc lộ nhiều tâm trạng: Tình cảm yêu nước sâu sắc, lòng căm thù giặc, kẻ đang vây hãm mình. Tình yêu những người lao động bình dị, như những điểm sáng gần gũi, rồi bộ mặt ích kỷ của một số kẻ sĩ…


Có một Nguyễn Trãi yêu nước sừng sững giữ vững bản lĩnh kiên cường trước kẻ thù.


Trương Phụ: Ta biết trong lòng mày không chịu quy phục Thiên triều. Ta muốn chém đầu mày.


Nguyễn Trãi: Thưa vâng, đó là quyền trong tay ngài.


Trương Phụ: Mày thật không sợ chết sao?


Nguyễn Trãi: Thưa ngài có cái chết đáng sợ, có cái chết không đáng sợ. Cái chết này không đáng sợ.


… Trương Phụ: Mày không phải như những tên Kỳ tên Đại. Nhưng mày chớ kiêu ngạo. Mày có được chút hiểu biết về lễ nghĩa liêm sỉ cũng là nhờ sự giáo hóa của Kinh truyện thánh hiền Trung Quốc. Ta muốn chém đầu mày nhưng vâng theo chiếu chỉ khoan hồng của Hoàng đế, xét mày còn trẻ, còn có thể uốn nắn ta cho mày tạm sống để mày nhìn thấy sự nghiệp của Thánh triều ta…” . Đông Quan dưới ách xâm lược của kẻ thù đang rơi vào cảnh điêu tàn, chém giết, dòng sông đầy xác người trôi dạt.


Một Nguyễn Trãi ưu tư trước cuộc đời và trong cảnh ngộ này càng nhận rõ “Duy một lòng người cực hiểm thay!”.


“Nhìn cho thấu một con người thật không dễ chút nào, thời buổi này người ta hay có nhiều bộ mặt. Dùng con mắt nào mà nhìn bây giờ? Có khi càng học hỏi khôn ngoan thì hai con mắt mờ lại tối mờ đi” .


Có một Nguyễn Trãi với bạn bè cùng chí hướng như Lê Cảnh Tuân, Vũ Mộng Nguyên, Trần Nguyên Hãn. Nguyễn Trãi trước sau tâm niệm và giãi bày “Thưa ông tôi chỉ mong có phương nào cứu được dân, lấy lại được nước” . Nhưng rồi mỗi người trước vận nước ở thế cùng đã không giữ được bản lĩnh, người thì muốn ở ẩn, người thì sẵn sàng liều chết để giữ tiếng thơm.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi. Chuyên luận, trò chuyện và ghi chép của Hà Minh Đức. NXB Văn học 12-2011.


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
"Đừng xúi trẻ con ăn cứt gà". Từ chuyện đời ở Myanmar, nghĩ về giáo dục lớp trẻ ở Việt Nam - Triệu Xuân 21.11.2019
Đốt lò hương cũ (kỳ cuối): Chới sách/ Hồi ức về Lê Văn Trương/ Tam Lang Vũ Đình Chí/ Nhà thơ Nguyễn Bính - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (12): Vũ Đình Long - Chủ nhà in, NXB Tân Dân/ NHớ về Lan Khai - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (11): Chiêu niệm Vũ Trọng Phụng - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (10): Hoa gạo ven sông/ Lỗi tình - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ 9: Trong phòng triển lãm/ Những đêm sương/ Một đêm trăng đỏ/ Hà Thành hoa lệ/ Chết - Ngọc Giao 19.11.2019
Đi chợ côn trùng Tây Bắc - Đỗ Quang Tuấn Hoàng 08.11.2019
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
xem thêm »