tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27808397
Tiểu thuyết
10.12.2011
Ngọc Giao
Mưa thu

Đôi tình nhân lại giận nhau. Linh lầm lỳ đi tìm chỗ thoát sầu ở gia đình các bạn, dầu cách xa hàng chục dặm sông đò, đồi núi. Oanh lại nằm trùm chăn khóc hay ra bờ ao ngồi cả ngày xem tăm cá để âm thầm hối hận đã làm anh đau khổ, chỉ vì quá yêu anh. Đi cho đến ngày nào sầu đã đánh tan vào hũ rượu, Linh lại quay về, hôn mắt lệ người yêu, để rồi lại nhập đoàn kịch lưu động, đeo giáo cùn gươm rỉ, râu ria, mũ mãng, một bầy nghệ sĩ lang thang lếch thếch, xuôi đông chán lại ngược đoài. Hàng tháng, Linh được món tiền trợ cấp của cấp trên, họ chia sẻ nhau chút ít để mua diêm thuốc, mua rượu lậu mà uống kín. Phải uống kín. Họ mỗi ngày một thêm gầy yếu, nhưng vẫn cứ đi. Một đoàn xuống đồng, lên núi, mắt vàng da sạm, giầy há không lấy gì vá víu, áo rách chỉ nhất manh, họ đi suốt năm suốt tháng như một đoàn tu sĩ.


Cho đến hôm nay, họ xuôi nẻo Cầu Xim để về đất Thắng. Đất Thắng còn xa lắm, phải cách bốn lần đò và mười lăm dặm đường đồi trụi đá sắc nữa mới tới. Từ hạ sang thu, miền này ngút cháy dưới ánh mặt trời.


Tốp trên phải dừng chân ở quán nước bên hàng thông cổ thụ, đợi liên lạc cùng tốp hậu. Bình Uy, Chu Quý bao giờ cũng dẫn đầu, dụng ý bỏ xa các tốp sau để đánh chén vụng với nhau, không bị trùm Tích cảnh cáo và báo cáo.


Bọn Linh, Oanh, Thảo đến nơi, thấy anh em đang hò bún riêu, đậu phụ. Hoạt ngắm Oanh, nheo cặp mắt toét:


- Có chuyện gì mà mặt bà Oanh lại chảy ra thế. Quanh đây toàn rừng thông, mà gỗ thông hay bén lửa, coi chừng kẻo hỏa diệm sơn trong bà bốc lửa ra đốt cháy rừng thì anh em chúng tôi chết oan.


Mọi người cười rộ. Oanh đưa mắt lườm, Hoạt duỗi thẳng chân ra bóp.


Đoàn kịch lưu động Bông Lau còn một bạn già chưa nhập ngũ. Đó là kép Trương. Ở cái thời phong trào yếu ớt của tân kịch đang cố lấn át tuồng cổ, chèo và cải lương, kép Trương đã là một kiện tướng bơi theo làn sóng mới, nghĩa là đã đội mũ lệch, múa ba toong, sắm vai cậu Tú Tân đi du học về, đào mỏ vợ… Múa may trên sân khấu mới, làm nổi vai trò canh tân kịch Việt; phù họa một cách cụ thể với Nguyễn Văn Vĩnh tiên sinh giữa lúc tiên sinh dịch những vở  kịch Người biển lận, Bệnh tưởng… của Molie ra quốc ngữ với mục đích truyền bá văn hóa Âu Tây, kép Trương quả đã đứng vào hàng tiền tuyến.


Sân khấu Nhà Hát Lớn đã là một chỗ tốt cho Trương thí nghiệm, tung hoành và nổi tiếng. Do thế Trương càng say mê kịch, say mê đến quên cả ngưỡng cửa học đường và giáo lý hà khắc của một gia đình tồn cổ, trong đó những người anh em huyết mạch đang chúi kính ngày đêm vào núi sách. Bà mẹ già rất giận đứa con trác táng, nhưng hễ thấy đứa con hư dẫn bộ mặt xanh xao hốc hác lẻn cửa sau về nằm đắp chăn ngủ bù những đêm trắng khói men, bà cụ  rưng rưng nước mắt và lại run tay bưng bát thuốc bổ lên kề vào miệng con bệnh thoi thóp thở: "Uống đi cho lại sức khỏe mà học hành kịp anh mày, kịp em mày; chúng nó sắp đỗ đốc tờ, phán sự đến nơi rồi đấy. Thua anh, thua em nhục lắm, thằng Trương ạ!".


Lòng mẹ như bát thuốc đắng cay. Trương đã ngóc đầu lên, run tay đỡ bát, không uống sâm nhung quế phụ, mà uống vào tâm can nung nấu những giọt lệ mẹ già.


Trương cố lưu thân trên căn gác tối tòa nhà cổ phố Hàng Đường chừng một tháng. Căn gác tối ấy là cái kho chứa hàng tích trữ. Trương nằm co ro giữa những bao tải miến, măng, đường, mật, bột, xà phòng… để nghe tiếng chuột đuổi nhau với gián sạo sục khắp sàn gỗ mọt. Trương có cảm tưởng chúng đuổi nhau, cắn nghiến nhau ở chính trong tủy xương mình đang bị hành hạ vì nha phiến. Trương đã bị phù dung đánh gục mất rồi! Nghiến răng, gài chặt cửa, người con hư cố hoàn lương, ôm bụng chịu cho cơn ma túy vật từ giường xuống mặt sàn, từ mặt sàn đánh thốc lên núi cao đường, miến, có hôm những bao tải ấy ném tung con bệnh xuống dưới sàn. Mặt gã thanh niên sưng tím, toát dương lạnh rợi rồi lại nóng như than đỏ, thân thể rã rời tê liệt. Dưới nhà, mùi thuốc bắc thơm ngon vẫn ngày đêm ngào ngạt cả mấy gian nhà tối như hũ nút, trong đó, ở góc tường này, ở góc tường kia, le lói cặp kính của mấy anh em Trương đang soi từng câu chữ trong sách mà học sa sả. Và tiếng chầy nện ruột cối đá xanh mòn thình thịch như nện vào những khớp xương rức buốt của bệnh nhân trên gác. Bà cụ giã ruốc gà, ruốc lợn cho con ăn cơm Tám, rồi tráng miệng bằng miếng cao nhà nấu lấy.


Trương vẫn nghiến răng chịu nhục hình. Đã hơn một tháng rồi, hơn một tháng con bệnh nửa sống nửa chết kia tưởng chừng mặt trời đã nổ, mặt trăng đã rụng.


Một tài tử kịch bạn Trương, thiên hạ quen gọi là Bửu Chới. Tối ấy Bửu Chới đến, huýt năm tiếng sáo hiệu riêng của "đảng", rồi chĩa súng cao su bắn lên lá huyết thư: "Đang sửa soạn tập vở kịch vĩ đại của Tương Huyền, nhan đề “Kim Sinh”. Đã dành vai chính cho ngươi. Mau vượt ngục mà đến ngay hội quán nhận vở liền, kẻo nhỡ - B.C.".


Ấy thế rồi, giữa Thăng Long thành năm 1929, một đêm mưa gió rét đã xảy ra một vụ đào ngục phi thường. Kép kịch Trương đã thu dồn tàn lực tụt ống máng xuống dưới hè, quàng chân lên cổ chạy đi tìm các bạn sân khấu.


Sớm sau theo thường lệ, bà cụ dậy cuối canh gà hâm thuốc, lập cập bưng lên đánh thức con. Nhưng chỉ còn một đống chăn lạnh lẽo, bà cụ âm thầm khóc, bưng thuốc xuống đổ vào siêu, hy vọng chờ tối con về hâm lại. Người con không về nữa, thuốc bốc men chua, bếp tàn than lạnh.


Trương lại tắm khói men vào bộ hài cốt đang bị dão lỏng trong hơn một tháng trời bị hành hình. Trương lại hóa thiêu thân, bay lên lửa đèn kịch thuật. Tên Trương, và tên vở kịch được kết thành ánh sáng đèn ngũ sắc chăng suốt dọc cầu Hoàn Kiếm, suốt chiều cao Nhà hát Lớn, chân dung Trương được phơi trên những tấm hoạt họa to như tấm phản ngự trên vai lũ trẻ vác đi các phố, dán kín khắp các mặt tường từ đại lộ đến phố buôn, đến hang cùng ngõ cụt. Và người ta còn dán ngay trước cửa hàng măng miến của người mẹ già mắt đang  ứa lệ xót xa con.


Cứ thế con thiêu thân nghệ thuật ấy đã hỏa táng tuổi trẻ vào vạc dầu men khói. Rồi thì tiệc vui có ai say được mãi, đứa con hoang lại mệt mỏi thu tàn lực ôm ống máng leo lên căn gác tối, gục mái tóc bù vào tay mẹ, tự giam mình. Bà mẹ lại lập cập bưng thuốc lên con uống, rồi một hôm bà cầm tay con khẽ bàn về chuyện gia thất. Trương ngoan ngoãn vâng lời, và lạ thay, ngay sau đấy Trương vụt trở nên một người chồng, một người cha tốt.


Cuộc chạy loạn thúc đẩy gia đình Trương dạt lên miền Bắc, hết đông lại đến tây, tiêu hao dần tiền bạc, Trương xoay xở mãi vẫn chưa định xong một phương kế sinh nhai.


Trương vừa bỏ một làng vùng núi, dắt díu nhau đến ở nhờ ngôi nhà nát giáp mặt đường to và nối kề bãi chợ. Bàn bạc với vợ ba ngày, nghĩ ngợi ba ngày, Trương dựng quán. Cũng chè đỗ đen, chè bà cốt, bún riêu. Thế còn xoàng lắm, Trương nhất quyết di cư cả cái hương vị quà đô thị chưa ai làm nổi, đó là bún dấm ốc cay chua. Cửa hàng Trương đã khánh thành nhằm vào ngày phiên chợ chính. Trương xoa tay xoa chân tâm niệm sẽ bán hết bay, làm thêm không kịp cung cấp cho khách ăn sành sỏi. Lũ trẻ bị bố mẹ xua cả ra ngoài bãi, nhân tiện tránh phi cơ. Và trịnh trọng Trương ngồi chờ ngóng khách đến mở hàng.


Mặt trời đã chiếu đỉnh đầu, quán Trương chưa thấy một ai ghé. Trương vẫn điềm tĩnh nhìn ra ngã ba đường, thầm nghĩ: "Mở hàng vào giờ hoàng đạo, địa điểm tốt thế này, lại có món bún ốc, bún thang đặc sản thủ đô, sạch sẽ như hàng cơm tây Hà Nội, có lý nào không đông khách?".


Trương ngồi tính toán kỹ càng, tay cầm cái phất trần như đuôi ngựa bằng giấy phe phẩy lũ ruồi nhặng cứ nhất định bám đầy liễn chè đường, rá bún tuy vợ Trương đã cẩn thận phủ kín bằng mảnh vải trắng nõn.


Chợ đã vãn người, hành khách có cái mẽ dân thành thị chẳng thấy ngược xuôi chi hết. Dân quê họp chợ chỉ ào ạt vào buổi sớm, lại về ngay vì họ sợ tàu bay.


Trương bắt đầu nóng ruột.


Người vợ từ sớm vẫn lúi húi ở bếp sau giữ lửa cho nồi nước dùng được nóng, và chờ lệnh làm bát thang đặc biệt bưng ra cho khách xơi, tin rằng họ sẽ khen tấm tắc món quà trưởng giả có một không hai ở cái đất núi rừng loạn lạc này. Chờ đợi mãi, lửa tắt dần và than cũng vạc theo, người đàn bà thò đầu ra hàng chấn song nứa tép, ngơ ngác nói: "Thế nào, ba nó?".


Người chồng lặng im một lúc lâu mới tặc lưỡi mà rằng: "Hàng mới, bao giờ chả thế. Cứ yên tâm. Lát nữa, biết đâu sẽ chẳng có một bọn ngược lên, xuôi xuống vào quét cho một chặp là nhẵn. Món ăn đặc biệt của nhà mình, đã nếm qua rồi là phải bả!".


Trương gật gù nói cứng để an ủi vợ. Song thực tình, Trương đã tự thấy lòng nao núng lắm. Lũ trẻ bị dồn ra chợ, ra bãi, đã thấy bụng kiến bò, rủ nhau về. Đứa lớn lấm lét nhìn bố, rồi rón rén mở tấm vải che, nhòm rổ bún còn nguyên. Đứa nhỏ lủi vào bếp, nhăn nhó bấm chí vào tay mẹ. Thương con, người vợ lừ mắt rồi khẽ múc cho mỗi đứa một bát chè bà cốt còn đầy ắp nồi đất lớn. Chúng ăn xong, vội chùi sạch mép lại ra ngoài quán, chia làm hai tốp, đứng rình đón khách ở ngã ba. Nắng chiều đã diu. Đồi xa tím ngắt, che khuất bóng thôn trang đây đó. Thốt nhiên hai đứa trẻ cuống quýt chạy về, ríu cả lưỡi: "Có một bọn nhiều người lắm. Họ sắp đến nơi bố ạ".


Người bố mừng thầm, phẩy mạnh ruồi. Người đàn bàn sau bếp vội đâm đầu vào đống tro tàn, phồng má thổi cho lên lửa.


Bọn khách đường xa lũ lượt gồng gánh tới nơi. Trương hắng giọng: "Xin mời các ông các bà vào xơi nước, xơi thang nóng, bún ốc chua cay đặc biệt Thủ đô!". Bọn lữ hành lẳng lặng đỗ gánh, đặt con xuống ghế, nhìn quanh quán, nhìn chủ quán, ngắm bó đũa mun đen bịt bạc, những bát chiết yêu vẽ cô tiên, những bát mẫu vẽ bát tiên quá hải:


- Ông hàng bán cho chúng tôi mỗi người một bát bánh đúc, riêu nào! Chợ chiều rồi, bán hạ giá cho đồng bào nghèo nhờ đấy!


Trương cố ngọt ngào:


- Không bán riêu, bánh đúc. Chỉ có thang thôi ạ.


Khách vùng đứng dậy, lại gánh gồng, cõng bế nhau đi. Vợ Trương chán ngán: "Thế nào ba nó?". Trương gục cằm vào đầu gối thờ ơ đáp: "Ế là thường, cứ yên tâm. Đã lâu rồi, con nó ăn kham khổ, thôi hôm nay tháo khoán, cho chúng nó ăn sướng miệng".


Người vợ buồn rầu: "Nhưng chờ tối hãy ăn. May ra có khách vào chăng. Thế là tiền đầu bất lợi, không có số buôn, chán gớm!".


Trương thấy quặn đau lòng. Anh nhức mắt nhìn bóng núi, rồi thờ thẫn rít mồi thuốc lào sòng sọc, gật gù ngâm:


Bây giờ nhà cửa ta đâu?


Xanh xanh khói biếc, ngàn dâu mịt mù…


Lời thơ vừa tắt thì lũ trẻ lại hớt hải chạy về khẩn báo:


- Có một tốp đông, sắp đến nơi rồi, bố ạ.


Vợ Trương vội bước ra khỏi quán, nheo mắt nhìn về phía con đường đồi trụi lượn quanh co. Trong bụi đường vẩn bốc, quả nhiên có một đoàn người đang hăm hở đi tới.


- Thầy nó ra coi, đám này có lẽ là khách tỉnh. Đàn ông áo tây, quần soóc. Có đàn bà nữa, áo dài xanh.


Vợ Trương ré nhanh chân vào bếp, lại phồng mồm thổi lửa. Lũ trẻ xun xoe. Đứa lớn kê lại chiếc ghế dài cho vững chãi. Đứa bé xách điếu cầy ra. Đứa nhỡ thì phụng phịu, lo khách sộp vào ăn hết, anh em sẽ hết phần. Thấy vợ con tíu tít Trương không thể nén lòng mừng, cũng xỏ guốc bước ra hiên, giơ một tay lên ngang trán, nheo con mắt kèm nhèm ngó nẻo đường vương bụi đỏ. Bỗng mặt Trương biến sắc. Anh vừa cố phóng nhỡn tiền nhận diện kẻ đầu đàn sắp tới thì thốt kêu một tiếng:


- Chết tôi rồi!


Người vợ kinh hoảng bỏ bếp chạy ngay ra, nhìn vẻ mặt hốt hoảng của chồng:


- Sao? Hả cậu?


Không kịp đáp, Trương luống cuống nhẩy bổ vào nhà, lập cập văng cả guốc. Vợ Trương kinh ngạc, vào theo:


- Cái gì hả cậu? Làm sao mà cứ như cướp ngày vào khảo của thế kia?


Người chồng lủi vào căn buồng xép liền sau bếp, kéo nhanh mảnh phên che khuôn cửa sổ, thu hình trong bóng tối, nói chõ ra:


- Lũ ông mãnh kệch cỡm lại kéo đại đội qua đây. Chúng mà biết cửa hàng mình thì chúng vào phá cho kỳ hết. Mợ ngồi ngoài ấy, các quan ôn có qua thì cũng cứ gật qua loa, chớ mời mọc mà khổ đấy. Có hỏi tôi thì bảo tôi lên Đình Nẻo chơi với bác Thảo đã ba bốn hôm rồi.


Vợ Trương "sào" một tiếng:


- Tưởng gì, có thế mà cũng cuống quít lên, làm như gặp cướp.


Trương cáu kỉnh, quát vọng ra, nhưng rất khẽ:


- Chứ không à. Lũ ông mãnh còn hơn cướp, hơn thần dịch. Chúng nó mà tóm được mặt tôi là cứ hết làm ăn.


Người đàn bà chỉ bật cười, cho là chồng bực bội sinh nghĩ quẩn, chứ lấy nhau đã ba bốn đầu con, còn lạ gì chồng có nết hiếu hữu, sẻ áo nhường cơm cho bạn, đang ủ rũ mà hồ thấy bạn là lại khệ nệ bưng hết hũ lớn hũ bé, hò con quạt nước, dặn vợ giết gà, tưởng như không có bạn thì… chết mất.


Đoàn lữ khách đã hăm hở tới. Tiếng lè nhè của Bình Uy:


- Tửu quán đây rồi. Quán dựng trên bãi cước, nhìn ra khắp ngả đường, đẹp quá. Chủ quán hẳn là tay địa lý danh sư, nếu không là nghệ sĩ. Vào đây nghỉ đã, bớ ba quân!


Chu Quý đứng lại, quay về phía hậu tập giơ hai tay lên làm hiệu, như mỗi khi tiền đạo cần ra lệnh nghỉ. Bình Uy bỗng thét lên:


- Ủa, tưởng quán ai, té ra quán Trương trưởng huynh và Trương hiền tẩu.


Rồi khom lưng, vòng tay xá:


- Lũ chúng em xin bái kiến. Chẳng hay huynh trưởng chúng em đâu?


Người đàn bà đon đả theo thói quen tiếp bạn chồng:


- Xin rước các bác vào xơi nước. Cậu cháu… cậu cháu…


Lũ trẻ toan tiếp lời mẹ, nhưng sực nhớ lời cha dặn, lại ú ớ và ngơ ngác nhìn các bác.


Mấy tốp sau vừa tới, đều mừng rỡ.


- Bác Trương ở đây à? Hai bác dọn hàng đã lâu chưa? Bác trai đâu ạ?


Họ hỏi dồn dập, vui vẻ như anh em một nhà gặp nhau ở nơi đất lạ khiến người đàn bà cảm động, suýt quên lời chồng dặn, đáp ngượng ngùng:


- Thưa các bác, cậu cháu... nghe đâu... lên gần Nhã Nam thăm bác Thảo, chưa về.


Hoạt vỗ đùi la:


- Trời hại chúng ta! Ông anh cả mà ở nhà thì cứ là đại yến. Trời hại Hoạt này rồi!


Bình Uy, Chu Quý và cả bọn cùng kêu, duy có Linh, Thảo chỉ mỉm cười, trong khi Oanh đang vừa bóp chân vừa ngửi mùi thơm là lạ ở bếp bay ra gió. Bình Uy cười như một con gà trống lên cơn suyễn:


- Ông anh đi vắng thì bà chị cứ cho chúng đệ đánh chén, lúc này bà chị là chủ quán, chúng đệ xin giữ bổn phận khách ăn hàng, nghĩa là sẽ xin chu tất.


Vợ Trương khẽ đáp:


- Được trông thấy các bác ở nơi phương xa đất lạ này là quý, chứ cái ăn cái uống kể gì đâu.


Kép Tích bỗng đứng lên, ranh mãnh nháy anh em, đi quanh nhà một lượt  như con mèo đánh hơi, nghe ngóng, rồi trở về ngồi xuống ghế, ghé tai Linh bảo nhỏ:


- Ngờ lắm nhé! Tôi tin rằng lão Trương lẩn tránh lũ chúng mình đấy thôi. Có lẽ lão trốn ở trong buồng.


Linh điềm đạm:


- Bạn già chúng ta nghe chừng mệt mỏi lắm rồi. Khi xưa sung sướng, giờ đây lều tranh vách đất tả tơi, vợ con nặng gánh nên buộc lòng tạm bỏ cuộc đời lãng tử, tôi biết rằng anh ấy rất đau lòng.


Hoạt đoán được câu chuyện của hai người về Trương, cũng nói xen vào sau làn khói thuốc lào:


- Tuy vậy, tôi có một diệu kế "điệu hổ ly sơn". Xưa, Trương Tử Phòng dùng tiếng địch làm tan rã lòng quân Sở. Bây giờ, anh Linh cứ hò "Phú Yên" lên, đó là một bài Trương vẫn hò và vẫn khóc vì xúc cảm, ắt là anh bạn già dù gan bằng sắt cũng phải mềm và sẽ bò ra như con dế bị trẻ con đổ đầy nước vào hang đất.


Tích mỉm cười, vỗ đùi Hoạt:


- Diệu kế chi diệu kế! Nhưng mà ác quá, sao chẳng để bạn già tạm nghỉ với gia đình trong cơn lốc mịt mù này.


Hoạt cười ha hả và thấp giọng:


- Nào đã đến lúc làm Trương Lương, Phạm Lãi, xa cát bụi được đâu. Đời còn có ta, còn phải dùng ta. Nào, thi hành độc kế mau đi, rồi ta sẽ khao quân bằng chầu rượu lớn suốt đêm nay cho hả lòng thèm khát. Hoạt cần nói trước rằng, nếu quả Trương ẩn náu đâu đây, sẽ phải chui ra tức khắc. Hoạt xin cược cả cái đầu này đó.


Linh không phản đối trò chơi thú vị kia, bèn hãm giọng ngụm chè tươi, rồi gõ đũa vào thành chõng mà hát. Hát rằng:


Mẹ già ở tấm lều tranh,


Đói no con chẳng biết, rách lành con không hay...


Mẹ ơi, ra đi công vụ nẹng nề,


Nửa thương thê tử, nửa sầu từ thân…


Giọng Linh trầm trầm, lê thê, quyện vào bóng đổ nương chiều, não nuột như tiếng vượn khóc trăng, rừng phong lá rụng, sông mưa sóng vỗ… Các bạn đều cúi đầu im lặng. Lũ trẻ ngây ngô nhìn những mớ tóc bù, kinh sợ. Vợ Trương, đã thấm sầu muộn nhiều vì thơ phú của chồng, cũng lặng lẽ nhìn xuống đất.


Trong khi đó, kẻ nghệ sĩ già quả đã trúng kế Hoạt, đang gục đầu vào chồng gối chăn rách nát sau tấm vách mà lệ chan hòa. Giọng Linh càng vi vút như ngàn thông lộng gió, rót nguồn thương nỗi thảm vào tâm can uất nghẹn của người bạn già lúc nào cũng âm thầm đau xót mẹ già hiện giờ đang mắc trong khói lửa đô thành xa ngút.


Bởi vậy cho nên con vợ tui nó mới biểu tui rằng:


Yêng ơi, yêng ở làm chi đó,


Cho vua quan sưu thuế nặng nề?


Gánh vác sơn lại giang sơn, đầu a… con, đầu con, đầu vợ, đầu nặng đầu nhẹ, đứa thơ đứa bé, đứa bế đứa bồng, đứa lên một đứa lên ba, đứa lên năm đứa lên bảy, teo biểu mày quảy, mày không quảy, để phần tao quảy, quảy… quảy… về đất Phú Sơn nẹng nề…


Có tiếng nấc ở đâu đây, Hoạt lại ranh mãnh nháy anh em, nhưng vẫn giữ bộ mặt đăm chiêu của một thứ quân sư đang hành kế dụ địch ra khỏi ải.


Gió chiều ớn lạnh từ đồi cao đổ xuống, cuốn vào mênh mông cái giọng hát muôn thu hờn oán của người dân đất Chàm:


Kìa dẫy núi bốn bề,


Nhành mai chớm trở.


Ta về xứ ta, biết bao là về tới… tới quê nhà…


Hết hòn Trả, ta qua hòn Vảy,


Hết hòn Vảy lại tới hòn Hành.


Tấc dạ cam đành, dắt con cùng vợ,


Biết khi nao hết cái nợ dương trần!


Cái nợ lần lần, tay bồng tay bế, tay vịn chân trèo, ta về xứ ta…


Biết bao mới về tới… tới quê nhà!


Lời hò vừa dứt, mọi người đều ngẩng cả lên. Chao ôi, anh bạn nghệ sĩ nén sầu nén khổ, trốn đời trốn bạn kia đã xuất hiện lù lù, đứng trơ trơ chết đứng, mắt còn hoen ướt.


Hoạt, Ngọ, Binh Uy, Chu Quý nhảy chồm lên, bá lấy cổ Trương mà thét:


- Quả nhiên tướng Sở chết nhủn vì tiếng địch của chúng ta. Mau, mau, cho uống rượu!


Trương bắt tay các bạn, thở dài:


- Trăm đường không tránh khỏi... ma! Ta cũng không biết trận ác phong nào lại cuốn lũ quỷ âm chúng mày đến ám ảnh báo chướng, không cho người ta an phận nữa.


Vợ Trương mừng thầm vì thấy chồng được vui với bạn. Đã lâu rồi, Trương buồn bã, chẳng cười chẳng nói năng chi, chỉ chép miệng lắc đầu nhìn lũ trẻ gầy còm, yếu đuối. Trương thôi cả rượu, sợ cả cái sâu men, một mình mình uống, một mình mình say. Người vợ hiền nhìn mái tóc chồng bạc sớm, kề bên những mái đầu xanh thơ dại, chỉ còn biết ngoảnh vội đi nén lòng thương mà thôi. Mỗi khi ở chợ về, người vợ lại vui vẻ đưa chồng một túm cà phê bọc hình củ ấu như túm mắm tôm. Trương cảm động, trịnh trọng mở va li lấy cốc, phin và đường ra bầy trước mặt, rồi loay hoay làm cái công việc của con người đã quen chơi với cái chất "độc dược" kích thích thần kinh tạng phủ này để trắng đêm trằn trọc hay mộng mị. "Sông hồ lần lữa thôn dâu. Giọt rồng xuân điểm ngày thâu chìm chìm". Trương bó gối đăm chiêu nhìn giọt nước đen nhờ nhờ rỏ xuống lòng cốc rạn, não nùng ngâm câu thơ đó, nhưng đến lúc nhắp môi nếm thử, thì cảm hứng và cảm giác bị ngay cái chất nước nhờ nhờ như nước gạo rang kia đánh mất luôn. Trương căn dặn vợ đừng chiều mình mà mua cà phê nữa, để lại đành lòng uống nước chè tươi đặc. Thế mà người vợ vẫn cố xoay xỏa mua bằng được một món quà quý hiếm khác, giúi vào tay chồng, âu yếm bảo: "Thứ này tất là cậu bằng lòng nhé". Trương dụi mắt, mừng như bắt được vàng: hai điếu "Phi líp" nằm trắng nõn trên trang sách nát. Thế là Trương lại trịnh trọng vào phòng kín gài cửa, trịnh trọng đánh diêm châm thuốc hút, đuổi hết bọn trẻ ra đường chơi. Khói vào hết tâm can tỳ phế, không lọt được một tý ra ngoài. Nhưng rồi Trương  bảo vợ không nên chiều mình như thế nữa, bởi vì hai điếu thuốc lá quý hiếm kia trị giá bằng bữa gạo, hay lạng thịt phần con. Người đàn bà càng não ruột thương chồng. Song Trương chỉ gượng cười, an ủi vợ: "Quá nửa đời, mình hưởng thụ chán rồi. Bây giờ tại trời,vận nước, phải chia cái khổ cùng thiên hạ".


Từ nãy vợ Trương đã thu hàng, đóng liếp. Và hai mâm rượu, thịt, bún, được bầy ra. Oanh giúp chủ nhân một tay, nếm thức ăn từ dưới bếp nên vành son tô giờ đã nhợt. Họ theo tuổi tác chia nhau mâm trên, mâm dưới. Rượu được ba tuần, Hoạt, Ngọ, Binh Uy thấy hồi sức, bắt đầu lên tiếng, bàn về nghệ thuật, cãi lý nhân sinh. Chu Quý thì cứ lừ lừ, tuồng như đang nghiền ngẫm một chuyện gì quan trọng về sân khấu. Thốt nhiên, Quý vỗ đùi Hoạt nói thầm:


- Ta sực nhớ ra rồi. Đây là Ngã tư Ngô Xá, vậy ở mé thôn kia, ta quen lão Chánh. Chốc nữa vào bắt liên lạc với lão, thể nào lão cũng đãi ta như thượng khách, nghĩa là sẽ thết ta cái chất "vân du du...".


Mắt Hoạt vụt sáng lên khi nghĩ đến ngọn lửa đèn dị ảo.


Linh và Thảo ngồi cạnh Trương, từ nãy chưa hé miệng. Ngắm nhìn mái nát tường xiêu, con trẻ một đàn ríu rít, Linh động lòng thương bạn và bùi ngùi nghĩ tới cảnh nhà nheo nhóc ở bên kia bến sông Hồ. Bất giác, men nồng đắng đót, Linh đặt chén rượu xuống thành mâm. Trương nắm bàn tay Linh, Thảo, nỗi nghẹn ngào xúc cảm thốt gửi vào lời thơ tâm sự u sầu:


Quê người lạnh thấu buồng gan,


Đăm đăm đôi mắt một phương trời sầu,


Bây giờ nhà cũ ta đâu,


Mẹ già phơ phất mái đầu như sương.


Trương cúi xuống. Một lát, anh nâng cốc rượu đầy Linh vừa rót tiếp, cầm trên tay, nhìn các bạn rồi uống một hơi. Linh, Thảo biết rằng Trương đã uống cả nước mắt mình vừa rơi hòa với rượu.


Đêm ấy, những kẻ lưu đãng thức thâu canh gối đầu lên bụng nhau, gác đùi lên ngực nhau ngủ vùi trong men bốc.


Mờ sáng, Trương đã dậy, khoác tấm chăn dạ lên vai, ôm điếu cầy và nhìn hoa đèn nở trên đầu bấc cạn khô dầu. Chung quanh, bọn kịch sĩ nằm ngổn ngang như quang cảnh một trạm tản cư, chỗ này ngáy, chỗ kia nói sảng. Trương ngao ngán ngẫm nghĩ đến cuộc phiêu lưu không hạn định của những con người trai tráng, có kẻ đành ném sách bỏ học đường, có kẻ trút vội vỏ ngoài một công chức phong lưu, một công tử đồn điền, một thương gia cự phách để gửi mình vào hoàn cảnh mới, dắt díu nhau đi lang thang lếch thếch, vui với miếng cơm manh áo ngoài thiên hạ.


Trương lặng lẽ nhìn đàn con đang rúc vào đùi, cánh tay "các bác" mà ngủ ly bì, và nhìn xuống bếp, vợ Trương đang đun bếp làm hàng, lửa phần phật run theo gió lùa từ ngoài bãi cỏ qua chân vách thủng. Trương khẽ vọng xuống, bảo vợ làm ít hàng đi, kẻo lại ế nhiều thì hết vốn, hôm qua ngày phiên còn chẳng ma nào vào quán nữa là hôm nay không có phiên chợ nào họp ở quanh miền.


Sương giá tan vào nắng ấm. Mọi người trong đoàn kịch đều đã tỉnh giấc. Họ rửa mặt, uống nước, điểm lại người để lên đường. Còn thiếu Binh Uy, Chu Quý và Hoạt.


Ngọ thừa biết ba con quỷ ấy đêm qua ngủ trong làng, say khói tại nhà một cường hào thất thế hay một ông chủ tịch theo thời nào đó. Không sao, họ cứ khởi hành. Sự thiếu mặt một vài kẻ bứt bỏ đoàn đã trở nên một việc rất thường rồi. Cái phường kịch chuyên đi lưu diễn tuy có nghiêm, nhưng người ta vẫn dễ tha thứ cho nhau sau một canh rượu chè tháo khoán. Tích, trưởng phường, vỗ nhẹ vai Trương bảo:


- Đại ca nghĩ thế nào? Cùng trẩy cho vui chứ! Hay là vướng bận thê nhi?


Trương cúi đầu, một lát rồi mới đáp:


- Các ngươi cứ lên đường. Chuyến này thì nhất định là ta xin nghỉ. Đi mãi rồi rách cả giầy, tơi cả áo. Dừng lại  một tý với đàn con, cho chúng có người cha mà gọi khi có máy bay nhào tới. Các ngươi khá quên ta đi nhá, đứng có hú hồn gọi vía kẻ tìm an ổn trong gia đình. Thôi, đi đi cho rảnh, để ta thử ngồi nhập định trên nệm cỏ xem sao.


Tích không nài. Phường kịch bái biệt vợ chồng Trương, bước ra ngoài nắng sớm. Ngọ liếc mắt qua khoang cửa sổ, thấy Trương vẫn ngồi xếp bằng trên ổ rơm, đầu gục xuống. Ngọ ghé vào song tre nói nhỏ:


- Tối nay diễn ở đình Mai Thượng, cách đây ngót mười cây đấy nhá! Nếu gió có xuôi về, nhận thấy hơi hướm và lời thơ của anh em thì khá chống gậy đến tìm nhau uống rượu.


Rồi mọi người lên đường. Một quãng, Ngọ cười lớn bảo Linh, Oanh, Thảo:


- Dặn lại một câu thế là lão Trương chết điếng rồi. Đố lão gan lỳ được đấy, và đoan với các bác rằng chỉ vào khoảng mặt trời lặn chiều nay là lão Trương sẽ tìm đến ôm lấy chúng mình. Con thiêu thân ấy còn một cánh thì vẫn còn lao vào lửa cho tròn duyên nghiệp.


Ngọ thích chí cất tiếng cười vang. Linh, Thảo lặng lẽ nhìn mặt đường xẻ đứt sâu thăm thẳm, để cùng vụt nhớ đến gia đình cách biệt, đàn con đang nơm nớp sợ phong ba như bầy gà con sẩy cánh mẹ  khi bóng diều hâu in xuống nền sân nắng. Tiếng cười của anh bạn trai tơ vô tư lự đang hài lòng về cái trò nghịch ác khiến Linh, Thảo quặn se lòng.


Đến ngã ba đường, mọi người đã thấy Chu Quý, Binh Uy, Hoạt ngồi đợi. Ba kẻ cùng có vẻ lơ mơ, ma lực phù dung còn chưa rời xương tuỷ họ. Mệt mỏi, họ đứng lên nhập bọn, lê mạnh gót làm bụi đường bay lên trong nắng dịu.


Đúng ngọ, đoàn kịch đến làng Mai Thượng. Nhờ tài ngoại giao khôn khéo của anh trùm Tích, nhân viên hành chính làng này giết lợn đãi đoàn nghệ sĩ sẵn mang cái uy tín là được Trung ương phái đi phục vụ nhân dân.


Rượu thịt no say, đoàn kịch ra đình phân công dựng sân khấu, viết quảng cáo, vẽ tranhh dán khắp chợ, khắp làng quanh miền đó. Đèn đất, đèn măng sông sáng rực ba gian đình rộng trên ngọn đồi cao, chung quanh cây cổ thụ um tùm, ruộng nương bát ngát.


Tối ấy, diễn vở kịch thơ giá trị của Linh, nhan đề "Bên kia quan ải". Nhân vật, chỉ có bốn người. Cốt chuyện: một người cha bất đắc chí buồn thương non sông đất nước bị dày xéo, đã một thời bôn ba hải ngoại, rút cuộc, chí không thành danh không đạt, lại trở về ngôi vườn cũ, mở trường dạy lũ đầu xanh, bên ngoài tuy ê a dăm chữ thánh hiền, nhưng bên trong hun đúc cả một trời giông tố. Người con trai cũng thuộc hạng thiếu niên bi phẫn, thường bỏ gia đình hết Bắc lại vô Kinh đô Huế, ngao du khắp chốn, bị ông thân tưởng lầm là phóng đãng, mê say chốn lầu hoa, song thực tình thì chàng ta đi kết nạp anh tài, mưu đại sự. Đến nỗi bị cha ghét bỏ, vợ con than khóc, chàng thanh niên đành lặng lẽ với cảnh cô đơn trong bóng tối gia đình, ôm kinh sách, nghe sấm sét ở bên ngoài sông núi. Bỗng giáp đêm trừ tịch, một kẻ giang hồ già từ hải ngoại về đất cũ nói lời khích lệ, hun sôi bầu tâm huyết gã thư sinh. Chàng ta bèn trốn bỏ vợ trẻ cha già, cùng ông già cách mạng vượt biên thùy giữa tiếng pháo giao thừa vang đất nước...


Trong phòng hóa trang, Hoạt đang ngồi cho họa sĩ Can dán râu, bôi phấn, biến thành một ông đồ già thường than tiếc cánh chim bằng vướng lối, tủi bình sinh không vượt quá mái nhà xiêu. Ngọ sắm vai lão khách viễn phương, bụi đường dài trắng gót hải hồ, sẽ vỗ vai kẻ thư sinh uất hận mà cảm khái:


Rằng ta lưu lạc giang hồ


Chèo khua biển gió bốn bờ là đâu.


Nghiến răng bẻ gẫy xe trâu,


Một tay xóa hết lòng đau mọi nhà.


Bao giờ ta lại với ta,


Nước trong gạo trắng lụa là cùng chung.


Dang tay khóa kín chữ đồng,


Cái vui bốn cõi một lòng cùng chung.


Và Linh, ngồi ở góc phòng, tựa đầu vào cột đình gẫy mọt, mặc cho họa sĩ Chù tô đẫm đôi mày, kẻ dài đuôi mắt, để chốc nữa ra sân khấu, sẽ ngậm ngùi:


Mái tóc buông xuôi dòng khói lạnh,


Bóng người ly phụ thoảng đêm xuân.


Minh châu đôi hạt gài bên gối,


Đợi đến bao giờ gởi cố nhân.


(còn tiếp)


Nguồn: Mưa thu. Tuyển tập truyện dài của Ngọc Giao. Nguyễn Tuấn khanh tuyển chọn. NXB văn học sắp xuất bản


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đất thức - Trương Thị Thương Huyền 25.06.2019
Ma rừng - Phùng Phương Quý 25.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 24.06.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 22.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.06.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
xem thêm »