tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28950089
Lý luận phê bình văn học
10.11.2008
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học Hegel (31)

Chương thứ hai


TÍNH TƯỢNG TRƯNG


CỦA CÁI TRÁC TUYỆT


 


Sự sáng rõ của cái tinh thần tìm thấy hình thức thích hợp với chính mình, không có mọi tính bí ẩn làm thành mục đích chính của nghệ thuật tượng trưng chỉ có thể đạt được bằng cách ý nghĩa lúc đầu xuất hiện ở trong ý thức một mình, tách rời khỏi cái thế giới có tính hiện tượng. Sở dĩ những người Cảnh giáo cổ đại không có nghệ thuật là vì họ thực hiện sự thống nhất trực tiếp giữa hình thức với nội dung ; còn cái mâu thuẫn này (tóm lại ở chỗ ý nghĩa và cái thế giới của các hiện tượng tách rời khỏi nhau mặc dầu hai yếu tố này vẫn đòi hỏi một liên hệ trực tiếp ở giữa chúng) đã làm nảy sinh tính tượng trưng quái đản của người Ấn Độ và ngay cả ở Ai Cập vẫn còn thiếu sự thừa nhận tự do và lộ liễu nội cảm hay cái ý nghĩa thoát khỏi cái vẻ bên ngoài và thoát khỏi hiện tượng. Kết quả tình trạng này đã sản sinh ra tính bí ẩn và tối tăm của chủ nghĩa tượng trưng Ai Cập.


Chúng ta cần phải tìm ở trong cái trác tuyệt sự phân chia đầu tiên và rõ ràng giữa “cái tồn tại tự mình và cho mình” với hiện tại cảm quan tức là với cái tính đơn nhất có tính chất kinh nghiệm của các đối tượng bên ngoài. Trác tuyệt là cái nâng yếu tố tuyệt đối lên cao hơn tồn tại trực tiếp và, do đó, thực hiện được cái tự do tượng trưng, ít nhất là làm cơ sở cho yếu tố tinh thần. Cái ý nghĩa được nâng cao như vậy hiện nay vẫn chưa được quan niệm một cách đầy đủ xem như tính tinh thần cụ thể. Nó được khảo sát với tính cách một cái bên trong tồn tại ở bản thân mình và dựa trên bản thân mình, cái này về bản chất không thể nào tìm thấy sự thể hiện chân chính ở trong các biểu hiện hữu hạn.


Căng đưa ra một sự phân biệt rất thú vị giữa cái trác tuyệt với cái đẹp và điều ông nói ở trong phần một quyển “Phê phán năng lực phán đoán” bắt đầu từ mục 20 vẫn còn giữ tính chất thú vị của nó mặc dầu nó dài dòng và lấy cơ sở là việc qui mọi đặc trưng về yếu tố chủ thể: về các năng khiếu của tình cảm, sức mạnh của tưởng tượng, lí trí… Việc qui này theo nguyên lí chung của nó chỉ được xem là đúng trong quan hệ sau đây: như Căng nói, cái trác tuyệt không phải ở trong bất kỳ đối tượng nào của tự nhiên mà chỉ ở trong tâm hồn chúng ta mà thôi, bởi vì chúng ta nhận thức ở trong bản thân mình tính ưu việt của mình đối với cái tự nhiên và, do đó, cả đối với cái tự nhiên ở bên ngoài chúng ta nữa. Theo tinh thần này, Căng nói cái trác tuyệt theo nghĩa đen không thể nằm trong bất kỳ hình thức cảm quan nào mà chỉ liên quan tới những ý niệm của lí trí của chúng ta mà thôi. Các ý niệm này mặc dầu không thể có một sự thể hiện thích hợp, nhưng chính do tình trạng không thích hợp này của nó trong cách thể hiện cảm quan cho nên nó trở thành sinh động và được thức tỉnh ở trong tâm hồ (“Phê phán khả năng phán đoán” xuất bản lần thứ ba năm 1799 trang 77). Cái trác tuyệt nói chung là một cố gắng để thể hiện cái vô hạn nhưng cố gắng này không tìm thấy ở trong cái thế giới các hiện tượng một đối tượng có vẻ thích hợp với mục đích này. Cái vô hạn chính bởi vì người ta rút nó ra từ toàn bộ “thế giới khách quan ở trong sự tồn tại cho mình” xem như một ý nghĩa vô hình, không có hình dáng ch nên vẫn không thể dùng lời mà diễn đạt tính vô hạn của nó và không thể dùng cái hữu hạn mà biểu hiện nó.


Cái nội dung mới mà ở đây ý nghĩa có được tóm lại là: ý nghĩa, - đối lập lại toàn bộ thế giới hiện tượng – đó là đấng Duy nhất có tính bản chất ở trong bản thân mình, và cái này tự nó chỉ tồn tại với tính cách tư duy thuần túy và chỉ đối với tư duy thuần túy mà thôi. Bản chất này không còn có thể tìm thấy hình thức của mình ở trong một cái gì bên ngoài như trước và, do đó, tính tượng trưng thực sự của nó biến mất. Nhưng nếu như chúng ta muốn đấng Duy nhất này ở trong bản thân có được một biểu hiện tri giác được thì người ta chỉ có thể làm điều đó bằng cách quan niệm đấng Duy nhất là cái bản chất cái sáng tạo mọi vật, ở đấy chúng ta tìm thấy sự phát hiện của nó và hiện tượng nhờ đó đấng Duy nhất có những quan hệ tích cực với các vật này. Nhưng đặc trưng này cũng nói lên rằng cái bản chất được nâng cao khỏi các hiện tượng đơn nhất với tính cách hiện tượng cũng như khỏi toàn bộ của chúng, nhờ đó quan hệ khẳng định biến thành quan hệ phủ định ở trong một quá trình phát triển triệt để hơn. Quan hệ phủ định tóm lại là cái duy nhất này cần được tước bỏ mọi cái gì là cá biệt và vì vậy mà không hợp với bản chất và biến mất ở trong bản chất.


Đây là một cách cấu tạo hình thức tự thân nó bị thủ tiêu bởi cái mà nó giải thích, thành ra sự giải thích nội dung có nghĩa là gạt bỏ ngay chính sự giải thích. Cách cấu tạo hình thức này chính là cái trác tuyệt. Như vậy chúng ta không nên quan niệm như Căng đã làm, rằng cái trác tuyệt chẳng qua chỉ ở trong trạng thái chủ thể của tâm hồn và ở trong những ý niệm chủ quan của lí tính; trái lại ta phải quan niệm cái trác tuyệt là bắt nguồn ở trong cái bản chất duy nhất tuyệt đối với tính cách cái nội dung cần được thể hiện.


Sự phân chia các hình thức nghệ thuật của cái trác tuyệt cũng có thể rút ra bằng cách chỉ xuất phát từ cái quan hệ hai mặt giữa cái bản chất với tính cách ý nghĩ đối với cái thế giới của các hiện tượng.


Cái chung ở đây, một mặt ở trong quan hệ tích cực và mặt khác ở trong quan hệ tiêu cực, tóm lại là bản chất được nâng lên khỏi những hiện tượng đặc thud trong đó nó phải tự thể hiện, mặc dầu bản chất chỉ có thể được thể hiện gắn liền với các hiện tượng mà thôi, bởi vì với tính cách bản chất và thực chất cái chung không có bất kì hình tượng nào ở trong nó và do đó không thể chiêm ngưỡng một cách cụ thể.


Chúng ta có thể thấy phương thức quan niệm thứ nhất có tính chất khẳng định ở trong nghệ thuật phiếm thần, mà chúng ta bắt gặp một phần ở Ấn Độ một phần ở trong tính tự do và huyền bí sau này của các nhà thơ Hồi giáo Ba Tư; cũng như nó xuất hiện cả ở phương Tây Thiên Chúa giáo với một trình độ sâu xa thâm trầm về tư tưởng và tình cảm.


Về mặt đặc trưng khái quát, ở giai đoạn này bản chất được quan niệm là một cái cố hữu ở trong tất cả các điều ngẫu nhiên so nó sáng tạo ra. Những điều này, vì vậy, vẫn còn chưa bị thu hẹp thành sự tô điểm đơn thuần, thành sự phục vụ việc nâng cao đấng Tuyệt đối, trái lại, vẫn được duy trì một cách khẳng định nhờ cái bản chất tồn tại ở trong chúng, mặc dầu ở đây trong mọi cái đơn nhất chúng ta chỉ nêu lên và đề cao đấng Duy nhất và yếu tố thần linh mà thôi. do đó, người nào nhìn thấy đấng Duy nhất này ở trong mọi vật, say sưa ngây ngất về nó và lao vào việc chiêm ngưỡng nó với tính cách những đối tượng cũng như tự chiêm ngưỡng mình thì người đó là một nhà thơ và là một nhà thơ có khả năng duy trì một quan hệ tích cực với các bản chất và anh ta  hoàn toàn gắn liền với nó.


Sự ca ngợi thứ hai, có tính chất phủ định đối với quyền lực và sự vĩ đại của vị Thượng đế duy nhất biểu hiện trong thơ Do Thái cổ, và ở đây là sự trác tuyệt chân chính. Nó loại trừ sự tồn tại thâm trầm tích cực của đấng Tuyệt đối trong các hiện tượng được sáng tạo và nó cho rằng cái bản chất duy nhất là ngang với gig chủ thế giới, và mặt khác, nó nêu lên mặt đối  lập: toàn bộ các tạo vật so với Thượng đế đều bị xem là không có sức mạnh và bóng chớp. Bây giờ, khi ta muốn miêu tả sức mạnh và sự khôn ngoan của đấng Duy nhất bằng những vật hữu hạn của tự nhiên và những bộ phận của con người, thì chúng ta không bắt gặp lối xuyên tạc của Ấn Độ bằng cách miêu tả nó một cách quá đáng, và không có hình thù. Trái lại tính trác tuyệt của Thượng đế được thể hiện bằng cách nêu lên rằng tất cả những cí gì tồn tại với tất cả cái vẻ rạng rỡ, hùng vĩ và vĩ đại của nó đều chỉ là những điều ngẫu nhiên, thứ yếu, và là những hình bóng thoáng qua so với bản chất vĩnh hằng của Thượng đế.


 


 


TÍNH PHIẾM THẦN CỦA NGHỆ THUẬT


 


Ngày nay khi dùng danh từ “tính phiếm thần”, chúng ta lập tức trở thành nạn nhân những hiểu lầm thô bạo. Một mặt, từ “tất cả” theo nghĩa ngày nay của chúng ta là chỉ toàn thể mọi vật trong tính đơn nhất hoàn toàn có tính chất kinh nghiệm của nó: khi nói một cái hộp chẳng hạn chúng ta chú ý đến tất cả các tính chất của nó, một hộp thuốc lá màu sắc nhất định, lớn nhỏ, hình thức, sức nặng… nhất đinh hay một ngôi nhà, một quyển sách, một động vật, một cái ghế, một cái bàn, một cái lò, một đám mây… Vì vậy, nếu như một vài nhà thần học hiện đại khẳng định rằng triết học biến tất cả thành Thượng đế, thì lời tố cáo này tỏ ra là hoàn toàn sai lầm khi ta xét điều chúng ta vừa nói về từ “tất cả”. Một quan niệm như vậy về chủ nghĩa phiếm thần chỉ có thể nảy sinh ở trong những đầu óc điên rồ và chúng ta không tìm thấy nó trong bất kỳ tôn giáo nào – dù là ở những người Irôqua hay ở người Eskimô – cùng không hề có trong bất kỳ triết học nào. “Tất cả”, - theo cái nghĩa mà người ta gọi là chủ nghĩa phiếm thần – vì vậy không phải là một cái đơn nhất này hay nọ, trái lại, “tất cả” theo cái nghĩa “vũ trụ”, tức là theo cái nghĩa một yếu tố bản chất đơn nhất song thoát khỏi tính đặc thù và cái hiện thực có tính kinh nghiệm của nó bởi vì ở đây chú ý nêu bật không phải yếu tố đơn nhất với tính cách đơn nhất mà nêu bật cái linh hồn của mọi vật, hay nói một cách thông thường hơn, nêu bật tính chân thực và tính ưu việt trong cả cái đơn nhất này nữa.


Chính điều này làm thành ý nghĩa thực sự của “chủ nghĩa phiếm thần” và chúng ta ở đây chỉ nói về chủ nghĩa phiếm thần theo ý nghĩa như vậy. Quan niệm này chủ yếu là thuộc về phương Đông. Phương Đông quan niệm nghĩa của tính thống nhất tuyệt đối của yếu tố thần linh trong mọi vật là một sự thống nhất như vậy. Với tính cách một sự thống nhất, ngay cả yếu tố thần linh của toàn thể vũ trụ cũng chỉ có thể được nhận thức do chỗ tất cả tất cả các vật cá biệt được xem như là có mặt ở trong vũ trụ đều lại biến mất một lần thứ hai. Ở đây một mặt, yếu tố thần linh tự cho mình là yếu tố cố hữu ở trong những đối tượng hết sức khác nhau và, do đó, cho mình là cái ưu tú nhất ở trong các tồn tại khác nhau và ở trong bản thân chúng; và mặt khác yếu tố thần linh xem như cái duy nhất tồn tại đồng thời lại khác đi vì nó lại nhập vào mọi vật và chính vì vậy các đối tượng và riêng biệt lại bị gạt bỏ và biến mất. Bởi vì không phải mỗi cái cá biệt đều là cái Duy nhất, trái lại đấng Duy nhất làm thành toàn bộ các sự vật cá biệt này là những cái mà khi chiêm ngưỡng thì đều biến mất vào trong cái toàn thể như vậy. Chẳng hạn nếu như cái Duy nhất là sự sống thì nó lại còn là cái chết nữa  và, chính vì vậy, nó không chỉ là sự sống. Kết quả là sự sống, mặt trời hay biển đều làm thành cái Duy nhất và cái thần linh không phải với tính cách sự sống, mặt trời hay biển.


Nhưng đồng thời, yếu tố ngẫu nhiên ở đây vẫn chưa bị thừa nhận một cách cụ thể là một cái gì phủ định và thứ yếu, xem như một yếu tố ở trong cái trác tuyệt theo nghĩa đen của từ này. Trái lại, bản chất ở bản thân mình trở thành một cái gì đặc biệt và thứ yếu bởi vì nó tạo nên đấng Duy nhất này trong tất cả tính đặc thù. Nhưng ngược lại, bởi vì cái cá biệt cũng thay đổi và hư cấu không bó hẹp bản chất bằng một sự tồn tại cụ thể mà vượt ta ngoài phạm vi mỗi đặc trưng khác, cho nên kết quả là yếu tố cá biệt biến thành cái ngẫu nhiên bị chi phối bởi cái bản chất bên trong khi vươn lên khỏi cái cá biệt.


Một phương thức quan niệm như vậy chỉ có thể tìm được cách thể hiện nghệ thuật của mình ở trong thơ mà thôi chứ không thể tìm ở trong các nghệ thuật tạo hình là những nghệ thuật đặc ra trước mắt chúng ta đấng Duy nhất cụ thể chỉ với tính cách một vật tồn tại chắc chắn và thường xuyên, trong lúc đó thì trong trường hợp này yếu tố đặc trưng và cá biệt này cần phải từ bỏ mình trước cái bản chất tồn tại ở trong những vật như vậy. Ở nơi nào chủ nghĩa phiếm thần xuất hiện dưới hình thức thuần túy thì ở đấy không tồn tại nghệ thuật tạo hình để miêu tả nó với tính cách phương diện.


 


Thơ Ấn Độ


 


Với tính cách thí dụ đầu tiên của loại thơ phiếm thần này chúng tôi có thể dẫn thơ Ấn Độ là loại thơ bên cạnh tính chất quái đản, đã phát triển rực rỡ cả về mặt này.


Như chúng ta đã biết, người Ấn Độ cho tính thần linh cao nhất là tính phổ biến và chất thống nhất tượng trưng nhất; mặc dầu tính phổ biến này sau đó chuyển thành những thần linh nhất định chẳng hạn Trimuôti, Inđra… song nó không cố định hóa cái đặc trưng này mà để cho những vị thần thấp chuyển thành những vị thần cao hơn cũng như các vị thần cao chuyển thành Brama. Ngay ở đâu thấy rõ ràng yếu tố phổ biến nói đây làm thành cái cơ sử duy nhất, trước sau như một của mọi vật, và nếu như người Ấn Độ ở trong thơ của mình biểu lộ hai xu hướng (một mặt ra sức phóng đại những nét của sự tồn tại cá biệt, để cho sự tồn tại này tỏ ra phù hợp với ý nghĩa phổ biến trong tính chất cảm quan của nó; hay ngược lại, cố gắng vứt bỏ một cách hoàn toàn phủ định, mọi đặc trưng của cái trừu tượng đơn nhất) thì mặt khác ở họ ta ta cũng bắt gặp một phương thức biểu hiện thuần túy hơn cái nghĩa phiếm thần vừa được nêu lên: phương thức này nhấn mạnh tính cố hữu của yếu tố thần linh trong những vật xuất hiện, diễn ra và biến mất.


Kể ra ở trong phương thức quan niệm này ta có thể nhìn thấy những sự giống nhau to lớn với tính thống nhất trực tiếp giữa tư duy thuần túy với yếu tố cảm quan, điều mà chúng ta đã bắt gặp cả ở những người Cảnh giáo. Song đối với những người Cảnh giáo thì cái duy nhất và cái tuyệt mĩ đã được cố định ở bản thân nó, tự thân nó là một yếu tố tự nhiên, đó là ánh sáng. Còn ở người Ấn Độ thì yếu tố duy nhất không có hình thù, thể này chỉ trở thành một quan niệm phiếm thần sau những biến đổi ở trong tính chất vô cùng đa dạng của các hiện tượng ở trong thế giới chẳng hạn người ta nói về Krisơna:


“Mặt đất, nước, lửa, không khí, không gian, tinh thần, trí tuệ, cơ sở của cá nhân: đó là tám yếu tố làm thành sức mạnh của ta. Nhưng ngươi phải thừa nhân ở ta còn có một tồn tại khác cao hơn làm cho tất cả cái thế giới trần tục có sức sống. Sự tồn tại ấy nâng đỡ thế giới: chính tự nó mà mọi vật bị hủy diệt.


“Ta là khởi nguyên và là kết thúc của tất cả cái thế giới chốc lát. Ở trên ta không có cái gì nữa. Tất cả mọi vật đều gắn liền vào ta như những viên ngọc gắn liền vào sợi dây chúng được xâu vào. Ta là mùi vị của chất lỏng, ta là ánh sáng mặt trời và mặt trăng. Ta là lời huyền bí trong các thánh thi, ta là tinh thần cường tráng ở trong những người đàn ông, là cái hương trong trẻo của đất, là ánh sáng trong ngọn lửa, là sự sống trong mọi sinh vật, là sự ăn năn ở trong những người hối lỗi. Ta là sức sống ở trong cái gì sống, là ánh sáng trong cái gì chiếu sáng. Tất cả những vật tồn tại thực sự, hữu hình hay huyền bí đều do ta mà có, chúng ở trong ta chứ không phải ta ở trong chúng. Điều ảo tưởng gây nên bởi ba đặc tính này lừa dối thế giới vì thế giới không biết ta: ta là im lìm bất biến; nhưng đồng thời cái ảo tưởng có tính chất thần linh là “Maya” là một ảo tưởng do ta mà ra. Vượt qua nó thì khó khăn, nhưng những ai theo ta thì sẽ khắc phục được nó (Bơhagavat Gita, chương VII, khổ V-XIV).


Ở đây, một thể thống nhất có tính bản chất như vậy đã tìm thấy một sự biểu hiện khá kinh ngạc nhất cả về cái mặt yếu tố cố hữu đối với các vật tồn tại cũng như về mặt tất yếu phải vươn lên khỏi những vật cá biệt.


Cũng vậy, Krisơna nói về mình rằng Người là cái ưu tú nhất trong tất cả mọi tồn tại khác nhau (chương X, khổ XXI và tiếp). “Trong số các tinh tú, ta là mặt trời chiếu sáng; trong số các tinh tòa, ta là mặt trời, trong số các thánh thư ta là kinh Vệ đà, trong số các giác quan ta là giác quan sâu xa nhất; trong số các đỉnh núi ta là đỉnh núi Mêru; trong số các súc vật ta là con sư tử; trong số các chữ cái ta là chữ “A” trong số các mùa ta là mùa xuân đầy hoa”.


Nhưng lối liệt kê các sự vật ưu tú nhất như vậy cũng như những thay đổi đơn thuần về hình thức ở đấy nội dung duy nhất xuất hiện, dù cho trí tưởng tượng có đa dạng đến đâu, nói chung vẫn hết sức đơn điệu và trống rỗng, chán ngấy, dù cho lúc đầu ta thấy xuất hiện ở đây một hư cấu vô cùng phong phú.


 


Thơ Hồi giáo.


 


Chủ nghĩa phiếm thần phương Đông dưới hình thức cao hơn dù mang tính chất tự do có tính chủ thể hơn, được phát triển ở trong thế giới Hồi giáo, nhất là ở người Ba Tư.


Ở đây chúng ta bắt gặp một trường hợp độc đáo chủ yếu lệ thuộc vào thơ với tính cách chủ thể.


Khao khát muồn tìm thấy yếu tố thần linh ở trong mọi vật và thực tế nhận ra nó, nhà thơ từ bỏ cái tôi của chính mình và bản thân mình, đồng thời thừa nhận tính cố hữu của yếu tố thần linh ở trong cái thế giới bên trong của mình đã được giải phóng và được mở rộng như vậy. Điều này đã làm nảy sinh trong anh ta một niềm vui thâm trầm, một hạnh phúc tự do, cảnh hoan lạc ngây ngất tiêu biểu cho con người phương Đông là con người từ bỏ cái riêng của mình để hoàn toàn vùi mình vào đấng Tuyệt đối và cái vĩnh viễn, để tìm và cảm thấy ở trong mọi hình tượng sự tồn tại của yếu tố thần linh. Tình cảm thấm nhuần yếu tố thần linh và tình trạng say sưa hoan lạc như vậy là gần gũi với chủ nghĩa thần bí. Về mặt này, trước hết ta phải khen Gialolitdin Rumi là nhà thơ mà Ruckec đã dịch những bài thơ ưu tú nhất: nhờ chỗ làm chủ một cách tuyệt diệu ngôn ngữ mình Rucket đã sử dụng hết sức khéo léo và tự do các từ  và các vần chẳng kém gì các nhà thơ Ba Tư vẫn làm. Tình yêu Thượng đế là đấng mà con người đống nhất hóa “cái tôi” của mình với Người bằng cách hoàn toàn vứt bỏ chính mình, chỉ nhìn thấy có Thượng đế trong mọi nơi của thế giới qui tất cả về Thượng đế và gắn liền tất cả với Người, ở đây tình yêu này đối với Thượng đế làm thành một trung tâm mở rộng về tất cả mọi hướng mà đạt đến những lĩnh vực xa xôi nhất.


Không những thế, như chúng tôi sẽ chứng minh điều đó, nếu như ở trong cái trác tuyệt theo nghĩa đen, các đối tượng ưu tú nhất và các hình tượng đẹp đẽ nhất chẳng qua chỉ được dùng để tô điểm cho Thượng đế và làm nổi bật cái uy nghi và vĩ đại của đấng Duy nhất bởi vì chúng được nêu ra trước mắt chúng ta chỉ là để ca ngợi Người là vị chúa tể của mọi tạo vật, thì trái lạo ở trong chủ nghĩa phiếm thần, tính chất cố hữu của yếu tố thần linh ở trong các sự vật đã nâng cao yếu tố trần tục, sự tồn tại tự nhiên và con người lên trình độ một đại lượng độc lập. Cuộc sống riêng của tinh thần trong các hiện tượng của tự nhiên và trong các quan hệ của con người đã làm cho con người và tự nhiên trở thành sinh động, có tinh thần và đến lượt nó làm thành quan hệ độc đáo chủ yếu của tình cảm chủ thể và của tinh thần nhà thơ đối với đối tượng được ca ngợi. Tràn ngập cái tình cảm vĩ đại làm cho nó có sức sống, tâm hồn là yên tĩnh ở bản thân mình, là độc lập, tự do, tự chủ rộng rãi và to lớn. Và bằng cách thống nhất hóa một cách khẳng định với bản thân, tâm hồn thâm nhập vào linh hồn các sự vật, hình dung rằng linh hồn các sự vật cũng ở trong một tình trạng thống nhất như vậy với chúng, và đồng nhất hóa các đối tượng của tự nhiên và với vẻ hùng vĩ của chúng, với cái gì đáng yêu và đáng ca ngợi, bằng cách tạo nên một mối liên hệ thâm trầm vui tươi hạnh phúc nhất với chúng.


Kể ra, tính nội tâm lãng mạn ở phương Tây cũng tình cảm cũng biểu lộ một sự đồng nhất hóa như vậy, nhất là ở miền bắc, nó khổ sở hơn, thiếu tự do hơn, thấm nhuần nỗi u hoài da diết hơn hay vẫn phong bế, có tính chủ thể hơn ở trong bản thân và vì vậy mà trở thành ích kỉ và đa cảm. Tình trạng nội tâm bị bóp nghẹt rầu rĩ như vậy đặc biệt biểu lộ trong những bài dân ca của các dân tộc mông muội. Trái lại, những dân tộc phương Đông và nhất là người Ba Tư Hồi giáo chỉ biết đến cái nội tâm tự do, hạnh phúc; họ công khai và vui vẻ trao tất cả sự tồn tại của họ cho Thượng đế cũng như cho tất cả những cái gì đáng ca ngợi, và trong cái thái độ quên mình như vậy họ đã đạt được cái bản chất tự do và họ đã giữ được bản chất ấy cả đối với thế giới xung quanh.


Chúng ta thấy ràng nhiệt tình bốc cháy đã làm nảy sinh một sự phong phú vô tận những hình tượng rực rỡ và lộng lẫy biểu lộ niềm vui, cái đẹp và hạnh phúc, những tình cảm tìm cách mở rộng đi đến giới hạn của sự hoan lạc. Nếu như con người phương Đông đau khổ và bất hạnh thì anh ta cho điều đó là một phán xử không thể thay đổi của vận mệnh và vẫn cảm thấy hoàn toàn tin chắc vào mình, không cảm thấy thất vọng, và không rơi vào tình trạng đa cảm cũng như không rơi vào nỗi ủ dột rầu rĩ. Trong những bài thơ của Haphidơ chúng ta tìm thấy nhiều lời than phiền và trách móc về người yêu v.v… nhưng hạnh phúc trong nỗi buồn, ta cũng vẫn vô tư như trong hạnh phúc. Chẳng hạn một lần tác giả nói: “Cảm ơn về chỗ sự có mặt của bạn làm cho ta vui tươi, hãy đốt ngọn nến trong nỗi buồn và hãy vui chơi đi”. Ngọn nến dạy cho ta cười, và dạy cho ta khóc, nó biết cười với ánh sáng rực rỡ và tươi vui qua ngọn lửa, mặc dầu, đồng thời nó tan đi ở trong những giọt nước mắt nóng bỏng; trong khi cháy nó tỏa ra xung quanh nó ánh sáng tươi vui.


Tính chất chung của tất cả loại thơ này là như thế. Chúng tôi xin dẫn một vài hình ảnh chuyên môn hơn. Người Ba Tư thường thường sử dụng hình tượng những bông hoa và những viên ngọc, chủ yếu là dùng hình tượng những bông hồng. Chẳng hạn, chúng ta bắt gặp ở Haphidơ việc nói về sự sống của bông hoa hồng và tình yêu của chim họa mi.


“Hỡi bông hoa hồng kiêu hãnh về sắc đẹp của mình, hãy nói một lời với con chim họa mi yêu thương đi”.


Tác giả nói về con chim họa mi của tâm hồn mình. Trái lại trong những bài thơ của chúng ta về hoa hồng, chim họa mi, rượu, thì chúng ta làm điều đó khác hẳn, có ý nghĩa nôm na hơn nhiều: hoa hồng chỉ dùng để trang sức “mang một vòng hoa hồng”… hay chúng ta cảm thấykhi nghe tiếnh chim họa mi hót chúng ta uống rượu và nói rằng chim họa mi làm ta thoát khỏi mọi ưu tư. Trái lại với người Ba Tư thì hoa hồng không phải là một trang sức đơn thuần của ngôn ngữ,  không phải một hình tượng, không phải một tượng trưng: bản thân nó được xem là có tâm hồn, là người vợ chưa cưới yêu quí và tâm hồn nhà thơ vùi sâu vào tâm hồn của hoa hồng.


Người ta cũng bắt gặp cái tính phiếm thần rực rỡ như vậy ở cả trong thơ Ba Tư hiện đại. Ông Phôn Hamme chẳng hạn, gần đây kể lại về một nhà thơ mà vua Ba Tư năm 1819 đã gởi cho hoàng đế Franxơ cùng với các tặng phẩm khác. Nó chứa đựng ba nghìn khổ thơ hai câu miêu tả những kỳ công của vị vua Ba Tư đã lấy tên mình đặt cho nhà thơ triều thần.


Gơt cũng vậy, đối lập với những bài thơ ủ dột hơn thời niên thiếu với cái tình cảm tập trung vào lúc đứng tuổi hình như cũng bị lôi cuốn bởi cái vẻ vui tươi vô tư lự rộng lớn ấy. Ngay cả vào lúc tuổi già, thấm nhuần hơi thở củ phương Đông, trong khi vẫn giữ tất cả dòng máu sôi nổi nên thơ, tác giả tỏ ra ngập tràn hạnh phúc vô bờ, chuyển sang cái trạng thái tự do về tình cảm, trạng thái này biểu lộ trong việc bút chiến có tính chất vô tư kì diệu nhất. Những bài hát làm thành tác phẩm “Đi văng([1])phương Đông phương Tây” không thuộc về loại trò chơi, hay những tác phẩm thế tục vô nghĩa mà xuất phát từ tự do chan chứa tình cảm của tác giả. Chính nhờ nhà thơ cũng gọi như vậy trong một ca khúc gửi Dulâycơ.


“Những viên ngọc nên thơ mà tình yêu của em gửi tới ta, đã bị ném trên bờ biển hoang vu của cuộc đời. Em hãy nhặt nó lên với những ngón tay thon thon đeo những chiếc nhẫn vàng”.


Nhà thơ bảo người yêu hãy nhặt lấy:


“Em hãy nhặt lấy đưa lên cổ, đưa lên ngực em! Đó là những giọt mưa của thần Ala đã chín mùi ở trong một chiếc vỏ sò kín đáo.”


Để viết những câu thơ như vậy cần phải có một tinh thần rộng rãi phi thường, tin chắc vào mình, xuyên qua tất cả những cơn bão tố của cuộc đời, trình độ sâu sắc và trẻ trung của tình cảm. Nhà thơ cần phải bao hàm ở bản thân mình.


“Cả một thế giới đầy những ấn tượng về cuộc sống, những ấn tượng này dồi dào và căng thẳng đã báo trước tình yêu của con họa mi, cái ca khúc làm tâm hồn phấn chấn”.


 


Tính thần bí Thiên Chúa giáo.


 


Thể duy nhất có tính phiếm thần, được nhấn mạnh đối với chủ thể là kẻ cảm thấy mình ở trong cái thể duy nhất ấy với thần linh và thần linh đối với cái ý thức chủ thể làm sản sinh tính thần bí dưới cái hình thức chủ quan của nó mà ta  thấy ở trong thế giới Thiên Chúa giáo. Với tính cách thí dụ tôi chỉ dẫn Angêlut Xilêgiut là người có một thái độ táo bạo nhất và với một trực giác và một tình cảm sâu sắc, cũng như với một sức mạnh kì diệu của sự miêu tả thần bí đã nêu lên tư tưởng vè sự tồn tại có tính bản chất ở trong các sự vật cũng như về sự kết hợp của Thượng đế với trạng thái cụ thể của con người. Trái lại, chủ nghĩa phiếm thần đặc biệt phương Đông nhấn mạnh nhiều hơn về chỗ chỉ có một  bản chất duy nhất  ở trong mọi hiện tượng và chủ thể từ bỏ mình để nhờ vậy đạt được một nhận thức vô cùng rộng rãi, và nhờ chỗ hoàn toàn thoát khỏi cái hữu hạn mà tìm được hạnh phúc bằng cách tan biến vào tất cả những gì ưu tú nhất và đẹp đẽ nhất.


 


 


NGHỆ THUẬT CỦA CÁI TRÁC TUYỆT


Chỉ có cái bản chất duy nhất chân thực, được quan niệm như là ý nghĩa thực sự của tất cả vũ trụ. Và nó chỉ được thừa nhận là bản chất khi nó thoát ra khỏi sự có mặt và khỏi hiện thực ở trong những hiện tượng thay đổi và trở về bản thân với tính cách một sự sống thuần túy ở bên trong và sức mạnh bản chất, và do đó bằng cách cấp cho mình một tính độc lập so với tất cả cái thế giới hữu hạn chỉ có quan niệm như vậy thì bản chất của Thượng đế xem như một bản chất thuần túy tinh thần và không có hình ảnh, đối lập với cái thế giới và tự nhiên mới hoàn toàn được giải phóng khỏi cái thế giới cảm quan và tự nhiên và thoát khỏi sự tồn tại ở trong cái hữu hạn. Mặt khác, cái bản chất tuyệt đối vẫn thuộc về cái thế giới của những hiện tượng, mà nó thoát ra khỏi để phản ánh vào trong bản thân mình. Quan hệ này bây giờ có cái tính chất phủ định mà trên đây chúng tối đã nêu lên: tất cả thế giới mặc dầu các hiện tượng của nó là đầy đủ, mạnh mẽ và hùng vĩ song chỉ được thừa nhận một cách phủ định ở trong bản thân so với cái bản chất xem như một vật do Thượng đế tạo ra, phục tùng quyền lực của Thượng đế và phục tùng Thượng đế.


Thế giới được quan niệm như một sự phát hiện ra Thượng đế và Thượng đế chỉ do lòng bác ái của mình đã cho phép tạo vật tồn tại cho nó và truyền cho nó tính vững chắc, mặc dầu tạo vật không có quyền tồn tại và tự khẳng định đối với bản thân mình. Song cái tồn tại vững chắc của tồn của yếu tố hữu hạn là không có bản chất. So với Thượng đế thì tạo vật là một cái gì chốc lát và bất lực, thành ra lòng nhân từ của đấng Sáng tạo đồng thời còn biểu hiện cả công lí của Người nữa, cái này thực tế biểu lộ sự bất lực ở trong những cái gì bản thân tiêu cực và sở dĩ thế là vì bản chất làm thành cái duy nhất có quyền lực. Cái quan hệ này (khi nghệ thuật lấy nó làm hệ chủ yếu của nghệ thuật cả về mặt nội dung cũng như về mặt hình thức) làm nảy sinh nghệ thuật của cái trác tuyệt theo nghĩa đen.


Ta cần phải phân biệt giữa cái đẹp giữa cái lí tưởng và cái trác tuyệt. Ở trong lí tưởng, yếu tố bên trong thấm nhuần cái hiện thực bên ngoài, nó là nội dung bên trong của hiện thực bên ngoài. Kết quả là cả hai mặt ăn khớp với nhau và chính vì vậy mà thâm nhập vào nhau. Trái lại ở trong cái trác tuyệt thì sự tồn tại bên ngoài (ở đây bản chất trở thành một đối tượng được chiêm ngưỡng lại bị hạ thấp so với bản chất) và sự hạ thấp nó xuống trình độ một cái gì phụ thuộc là phương thức duy nhất (tự bản thân Người là không có hình dáng và về bản chất tích cực của Người là không thể biểu hiện bằng một cái gì trần tục và hữu hạn) lại có thể biểu hiện được bằng nghệ thuật một cách trực quan. Cái trác tuyệt giả thiết một tính độc lập như vậy về ý nghĩa, so với nó thì yếu tố bên ngoài chỉ làm thành một cái gì phụ thuộc, bởi vì yếu tố bên trong không có mặt ở đấy mà vượt xa ra ngoài phạm vi của yếu tố bên ngoài. Kết quả là đối tượng được miểu tả đó là sự thoát li và sự tồn tại của yếu tố bên trong ở ngoài phạm vi của cái bên ngoài chứ không phải là cái gì khác trở thành đối tượng miêu tả.


Ở trong tượng trưng thì hình tượng là cái chủ yếu. Hình tượng cần phải có nghĩa tuy nó không có khả năng nói lên hoàn toàn cái nghĩ ấy. Bây giờ ý nghĩa, với tính cách ý nghĩa, trong cách hiểu rõ ràng của nó, lại đối lập lại hình ảnh tượng trưng này với cái nội dung không rõ ràng của nó. Tác phẩm nghệ thuật lúc này trở thành sự bộc lộ bản chất thực sự với tính cách ý nghĩa của mọi vật. Nhưng một bản chất như vậy lại xác lập tính không ăn khớp nhau giữa hình tượng và cái ý nghĩa đã tồn tại từ trước ở ngay trong bản thân tượng trưng với tính cách ý nghĩa của chính thần linh biểu lộ ở trên thế giới vượt ra ngoài phạm vi của cái thế giới này. Cái bản chất nói đây, do đó, có được tính trác tuyệt ở trong tác phẩm nghệ thuật là cái trước sau chỉ biểu hiện ý nghĩa này thôi đã rõ ràng ở bản thân mình và vì mình. Nếu như một nghệ thuật tượng trưng có thể gọi là một nghệ thuật thiêng liêng bởi vì nó lấy yếu tố thần linh làm thành nội dung của các tác phẩm của nó, thì nghệ thuật của cái trác tuyệt được gọi là nghệ thuật thiêng liêng thực sự, thiêng cao nhất bởi vì nó chỉ ca ngợi Thượng đế mà thôi.


Nội dung ở đây xét về ý nghĩa chủ yếu của nó vẫn còn hạn chế hơn là ở trong tượng trưng theo nghĩa đen (là nghệ thuật chỉ dừng lại ở cố gắng vươn tới  tinh thần) và quan hệ qua lại giữa tinh thần với thế giới. Nó xuất hiện đối với chúng ta ở trong những qui mô rộng rãi của việc biến tinh thần thành những cấu tạo của tự nhiên và biến tự nhiên thành một cái gì nhắc ta nhớ đến tinh thần.


Chúng ta tìm thấy loại nghệ thuật của sự trác tuyệt này trong đặc trưng đầu tiên của nó chủ yếu ở trong thế giới quan Do Thái cổ và ở trong thơ thiêng liêng của dân tộc này. Ở nơi nào không thể nào vẽ lên một hình tượng Thượng đế ít nhiều làm người a thỏa mãn thì ở đấy không thể xuất hiện nghệ thuật tạo hình mà chỉ nảy sinh thi ca của những biểu tượng được biểu hiện bằng ngôn ngữ.


Nếu khảo sát  trình độ này kỹ hơn ta có thể xác lập những quan điểm chung dưới đây.


 


Thượng đế xem như đấng sáng tạo và làm chủ thế giới.


 


Ở trong cái nội dung khái quát nhất của thi ca này là Thượng đế với tính cách người làm chủ cái thế giới phục vụ mình, Thượng đế không nhập thân vào cái thế giới bên ngoài, mà lại thoát li khỏi sự tồn tại trần tục để nhập vào bản thân mình trong tính duy nhất cô độc của mình. Vì vậy, cái mà ở trong nghệ thuật tượng trưng theo nghĩa đen vẫn còn hợp nhất làm một thì ở đây lại tách ra thành hai mặt: thành sự tồn tại trừu tượng vì mình của Thượng đế và sự tồn tại cụ thể của thế giới.


Bản thân Thượng đế với tính cách một tồn tại vì mình thuần túy như vậy của một bản chất duy nhất là không có hình tượng ở bản thân mình và, nếu xét ở trong tính trừu tượng như vậy thì không thể nào nêu lên cho người ta chiêm ngưỡng. Ở giai đoạn này, hư cấu không thể nắm được cái nội dung có tính thần linh trong bản chất của nó, bởi vì nội dung này không cho phép nghệ thuật miêu tả nó bằng một hình tượng thích hợp. Cái nội dung duy nhất còn lại, vì vậy, là quan hệ của Thượng đế với cái thế giới do Thượng đế tạo ra.


Thượng đế là đấng sáng tạo ra vũ trụ. Đó là cách biểu hiện chín mùi nhất cái trác tuyệt. Thực vật, bây giờ lần đầu tiên các biểu tượng về sự sinh sản, về cái nguồn gốc thuần túy tự nhiên của sự vật bắt nguồn từ Thượng đế, đã nhường chỗ cho tư tưởng về một sáng tạo và một hoạt động có tính tinh thần. “Chúa nói: ánh sáng hãy xuất hiện! và thế là có ánh sáng” – đó là cái câu chuyện của kinh thánh đã được Lôngin dẫn xem như là thí dụ nỗi bật của cái trác tuyệt. Chúa, cái bản chất duy nhất bộc lộ ra biến thành hiện tượng. Song phương thức sáng tạo lại hết sức thuần túy, không có cơ thể, là một biểu hiện thanh thoát: một lời nói, một biểu hiện của tư tưởng với tính cách một tinh thần thực tế, theo lệnh của nó, tất cả đều xuất hiện trực tiếp trong thái độ vâng lời câm lặng.


Song Thượng đế không chuyển vào cái thế giới mình đã tạo ra với tính cách nhập vào hiện thực của mình. Trái lại, Thượng đế vẫn phong bế ở bản thân bên cạnh thế giới. Song điều này vẫn không làm nảy sinh một tình trạng nhị nguyên vững chắc bởi vì cái được tạo ra đó là sáng tạo của Người, ở trước mặt Người, nó chẳng có tính độc lập nào hết; trái lại nói chung chỉ tồn tại để chứng mình sự sáng suốt, lòng nhân từ và lòng công bằng của Người. Đấng Duy nhất là chúa tể đối với mọi vật, và các đối tượng của tự nhiên không làm thành sự tồn tại tại của Người mà làm thành những điều ngẫu nhiên bát lực chỉ có thể cho thấy cái bóng dáng của bản chất mà thôi chứ không phải là hiện tượng thực tế của bản chất. Cái trác tuyệt xét về mặt thần linh tóm lại là như vậy.


Cái thế giới hữu hạn bị tước bỏ yếu tố thần linh.


 


Bởi vì một mặt, vị Thượng đế duy nhất đã tách ra khỏi các hiện tượng của thế giới và được cố định hóa trong sự tồn tại cho mình, trái lại mặt khác người ta định nghĩa tất cả những gì có một tồn tại bên ngoài đều là hữu hạn và được cấp một địa vị thấp hèn, cho nên sự tồn tại của các đối tượng của tự nhiên cũng như của những con người lúc này lại mang một ý nghĩa mới: chúng nêu lên sự biểu hiện của thần linh chỉ để càng nhấn mạnh tính hữu hạn của chúng mà thôi.


Bây giờ lần đầu tiên tự nhiên và hình dáng con người xuất hiện trước mắt chúng ta và mang tính chất nôm na. những người Hy Lạp kể lại rằng khi các vị anh hùng tham dự cuộc viễn chinh của những người Acgô đi qua eo biển Helexpon chật hẹp trong chiếc tàu của họ, thì những vách đá từ trước đến giờ như những lưỡi kéo chạm vào nhau một cách ầm ĩ rồi lại tách ra, đột nhiên mắc cứng vào đất và vĩnh viễn từ nay im lìm bất động. Ở trong thơ thiêng liêng của cái trác tuyệt cũng xảy ra một điều tương tự đối với cái hữu hạn: so sánh nó với sự tồn tại cô hạn, thế giới hữu hạn bị đông cứng lại ở trong cái đặc trưng có tính trí tuệ của nó, trong lúc đó thì ở trong nghệ thuật tượng trưng, không có cái gì có thể tìm thấy chỗ của mình bởi vì cái hữu hạn hoàn toàn biến thành yếu tố thần linh cũng hệt như yếu tố thần linh vượt ta ngoài phạm vi của mình và có một tồn tại hữu hạn. Chẳng hạn, khi chúng ta đi từ những trường ca Ấn Độ cổ đại sang kinh Cựu ước, lập tức chúng ta cảm thấy mình ở trên một miếng đất khác hẳn, ỏ đấy dù cho các tình huống, các biến cố, các hành vi và các tính cách tiêu biểu cho nó có xa lạ với chúng ta đến đâu đi nữa và dù cho chúng có khác các hiện tượng của chúng ta đến đâu đi nữa, chúng ta vẫn cảm thấy chúng gần gũi và quen thuộc. Chúng ta đã rời khởi cái thế giới say sưa và rối rắm để bước vào những hoàn cảnh khác và nhìn thấy trước mặt mình những hình tượng chúng ta cho là hoàn toàn tự nhiên. Những tính cách cổ xưa của nó được phác họa rõ nét và phù hợp với sự chân thực ở trong đặc trưng của mình và chúng ta hoàn toàn có thể hiểu được.


Trong các quan niệm này là quan niệm hiểu được sự diễn biến tự nhiên của sự vật và nêu lên được những qui luật của tự nhiên, lần đầu tiên xảy ra một điều kỳ diệu. Đối với thế giới quan Ấn Độ cái gì cũng là mầu nhiệm hết. Ở nơi mà mối liên hệ hợp lí của các biến cố và các sự vật không ngừng bị vi phạm, ở nơi mà mọi cái đều không đứng nguyên một chỗ và không giữ hình dáng của nó thì không thể có điều mầu nhiệm, bời vì điều mầu nhiệm giả thiết phải có một sự kế tiếp nhau của các biến cố phù hợp với những đòi hỏi của lí tính, cũng như một nhận thức rõ rằng người ta gọi điều mầu nhiệm chỉ là một điều vi phạm gây nên cho sự can thiệp của một sức mạnh tối cao phá vỡ mối liên hệ bình thường này. Song điều mầu nhiện không phải là biểu hiện thực sự loại biệt của cái trác tuyệt bởi vì sự diễn biến bình thường các hiện tượng của tự nhiên cũng được tạo ra bởi ý chí của thần linh và sự phục tùng của tự nhiên và cái ý chí ấy cũng diễn ra chẳng khác gì việc vi phạm sự diễn biến thông thường.


Do đó, cần phải tìm ở chỗ cái trác tuyệt theo nghĩa đen tất cả cái thế giới được sáng tạo ra đều là hữu hạn, chật hẹp, không có chỗ dựa ở bản thân nó. Vì lí do ấy nó chỉ có thể xem nó là một điều cấp cho Thượng đế để đề cao và ca ngợi Thượng đế.


(Còn tiếp)


Nguồn: Mỹ học. Phan Ngọc dịch. NXB Văn học, 1999.







([1]) Divan là một bộ sưu tập thơ, thuộc nhiều loại khác nhau.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 22.08.2019
Về Roger Garaudy với chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến - Phương Lựu 18.08.2019
Saint John Perse - Roger Garaudy 18.08.2019
Một dẫn luận về chủ nghĩa siêu hiện đại - Phạm Tấn Xuân Cao 17.08.2019
Phương thức huyền thoại trong sáng tác văn học - Phùng Văn Tửu 17.08.2019
Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka - Trương Đăng Dung 17.08.2019
Nguyễn Thành Long và "một cuộc sống khác" - Vương Trí Nhàn 11.08.2019
Nguyễn Công Hoan và thể tiểu thuyết - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Điểm lại quan niệm về hồi ký và các hồi ký đã in trong khoảng 1990-2000 - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Nguyễn Công Hoan và cuốn hồi ký "Đời viết văn của tôi" - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
xem thêm »