tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30257152
Tiểu thuyết
03.01.2012
Ngọc Giao
Mưa thu

   III. Oanh đã đẻ. Như ý cả hai người mong muốn, cô con gái đã ra đời. Cô thường bảo: “Em sẽ tìm trong đôi mắt con gái chúng ta hình bóng những ngày đầu của tình yêu. Tình yêu chỉ có những ngày đầu là đáng kể, còn thì…”. Và Linh đã xen vào: “Ừ, mình nói phải. Đứa con đầu lòng anh chỉ thích con gái. Chúng mình sẽ soi vào đôi mắt trong trẻo đen lánh của con. Nó sẽ nhiều tình cảm, nó sẽ dịu dàng như mẹ nó, tuy thực ra thì mẹ nó cũng không lấy gì làm dịu dàng cho lắm. Chứ đẻ con trai thật là vô vị. Bé sẽ nghịch ầm ĩ cả nhà, không cho anh viết. Lớn lên thì làm giặc, đập cả bút nghiên của bố”. Oanh cười: “Trai thời loạn phải thế. Cứ như bố thì chỉ hại áo cơm của vợ.”


Ấy thế, đôi vợ chồng non già nhân ngãi ấy đã thì thầm bàn tán nhiều về đứa con trong bụng. Họ mong ngóng, sốt ruột mãi chưa có em bé ẵm. Mặc dầu, sự thực, Oanh đã có con gái lớn chừng tám tuổi vất bỏ ở quê. Còn Linh thì cũng cứ làm ra thèm khát một cách ngây thơ thành thực, cô con gái xinh đẹp như anh tả trong thi phẩm để cả ngày hôn, ẵm, mặc dầu sự thực, ở cái bến Hồ ngút lửa kia, ba đứa trẻ trai gái một đàn đang đói cơm rách áo, chui bờ rúc bụi, nheo nhóc vì không bố.


Cô gái hoa mộng, kết quả của mối duyên giai nhân tài tử đã ra đời sau một cơn kêu la dữ dội của người mẹ gầy còm, tại một ngôi nhà nát tạm dùng làm nhà hộ sinh miền Yên Thế. Vợ Thảo đã đóng cửa hàng, tay ôm thúng áo quần, tã lót, tay dìu Oanh nhăn nhó lê bước một trên con đường ba cây số đắp ụ và xẻ rãnh để tới nhà hộ sinh. Lúc đó trời xẩm tối, gió se lạnh, trăng thượng tuần treo như nửa vành gương vỡ khuất trong sương.


Linh, Thảo bị vời lên phủ, chưa về kịp. Bởi vì, cả hai cùng say rượu sau khi rời quán nhậu. Nửa đêm, về tới nhà, được tin Oanh sinh con gái, Linh trợn mắt gieo mình xuống chõng, thở dài một tiếng, như là mọi khi nghe vợ anh lại vừa sản xuất thêm một đứa con nữa ở bến Hồ.


Linh có cảm tưởng đứng trước một bài tính vô cùng khó khăn. Giải quyết làm sao? Lấy gì nuôi đứa trẻ khi không có một đồng bạc rách. Ném nó cho ai, trong khi cả cái vòm trời đất tối tăm địa ngục này có lẽ chẳng còn nhà đạo đức nào dám nghĩ tới việc lập một cô nhi viện. Mọi người cùng lang thang tay bế tay bồng, coi cái việc chửa đẻ là tai họa, ngay cả những người trước kia hằng năm vẫn vào chùa Hương cầu tự, xoa bụng Phật.


- Khổ lắm, Thảo ôi!


Linh kêu to một tiếng, ôm mặt gục xuống chồng bản thảo. Anh nghĩ đến số kiếp của đàn con anh đang xanh xao nhem nhuốc núp sau lưng ông bà nội chúng ở cái làng xơ xác nọ bên sông. Anh nghĩ đến số kiếp đứa con đỏ hỏn trên cánh tay gầy guộc của Oanh ẩn trong gian đình tối ẩm, đầy chuột bọ hứng mưa đón gió giữa cánh đồng, bao quanh những rừng cùng núi. Chao ôi, đứa trẻ tội tình kia, rồi đây chắc chắn sẽ gây cho anh bao nhiêu điều phiền não.


Anh thở rộn. Một ý nghĩ tàn nhẫn vụt hiện trong đầu: “Giá nó chết đi! Ừ, nếu không có giọt máu ấy thì cũng không sao cả, lại càng nhẹ nợ. Mình với Oanh, còn gần nhau được ngày nào, lại tênh tênh dắt nhau đi xuôi ngược đông đoài, kiếm ăn ngoài thiên hạ. Vợ chồng Thảo xử quá hậu với mình, trước kia ở tỉnh phong lưu cũng như bây giờ lưu lạc ra đây nghèo túng. Mình đã không biết lấy gì đáp tạ, lại còn gieo vạ thêm đứa con đỏ nữa, thực là vô lý.” Anh vùng dậy, ra phía sau nhà, leo lên giữa đỉnh đồi, trông về phía Oanh nằm đẻ ở mé rừng thông lờ mờ in bóng dưới sương trăng, khẽ thốt :


- Vô lý quá! Trời ôi, sao lại còn thêm một chướng ngại vật này cho thêm khổ. Giá nó chết đi! Giá nó chết đi!


Linh chớp mắt. Trong đêm tối, mặt anh hằn nét dữ tợn như một kẻ sắp giết người. Quyết định, anh bước xuống đồi. Anh bước rất nhanh, vội vã, sợ rằng ý nghĩ ghê gớm ấy nguội mất chăng. Bỗng anh vấp ngã. Anh cáu kỉnh, vùng trở dậy, gỡ sợi dây leo quấn chặt giầy.


Xuống dưới đường, ngang qua bờ ruộng, sợ Thảo trông thấy gọi về, hay đi theo “thăm mặt cháu” anh sẽ không thể thi hành độc kế.


Hai tay nắm chặt, anh đâm đầu chạy chứ không còn là bước nữa. Mấy lần suýt lao mình xuống hố xẻ hình thước thợ sâu đầy nước. Chạy lên hết chặng đường ngược dốc, anh hoa mắt ù tai, ôm ngực thở, đầu gối rã rời, lao đao bước, tưởng chừng không còn sức. Anh đứng lại, ngồi xẹp xuống bãi cỏ may bên đường, le lói phía sau ánh lửa của túp lều ai mới dựng, mái rạ sẫm vàng trong bóng tối.


Mắt anh mở trừng trừng, nhận ra một bóng người đang đi tới, tiếng guốc khua lách cách trên mặt đường đá rắn, vọng vào tịch mịch trời đêm. Anh hổn hển:


- Ai?... Chị Thảo đấy phải không?


Vợ Thảo thở phào một tiếng:


- Anh làm tôi giật nảy mình. Sao lại ngồi đây thế?


Linh đứng lên, phủi đũng quần. Vợ Thảo nhanh nhảu nói:


- Cô Kiều lớn lên sẽ thành hoa hậu. Trông hay quá mất thôi. Nhờ trời sinh voi sinh cỏ, chị ấy sinh cháu cũng dễ dàng mau chóng. Thực tình tôi đã sợ… lỡ ra gặp khó khăn thì ở đây, đành khoanh tay chịu. Anh vào mà ẵm một tí. Chị ấy đang mong ngóng. Tôi về sửa soạn đem các thứ vào nấu nướng chị ăn lấy sữa cho cháu bú!


Vợ Thảo bước vội xuống con đường dốc gồ ghề. Tiếng guốc đã mất ở phía xa, Linh còn đứng trơ trơ, băn khoăn, ngơ ngác với ý nghĩ hung bạo dường như đã dịu dần trong óc.


Anh lùi lũi bước đi. Lát sau anh rẽ vào ngôi đình nát. Ông lão trước kia làm thủ từ đình bây giờ được người ta cho ở đấy trông coi mấy gian giải vũ, bên tả dùng tạm làm trường học và mấy gian bên hữu dùng làm nhà hộ sinh. Ông lão đang quét lá đánh gọn vào một đống ở góc tường, cạnh đó có pho tượng gãy, đầu gục vào con chó đá lúc nào cũng ngóc mõm sủa trời. Thấy Linh, ông ta dừng chổi hỏi:


- Ông đến thăm bà ấy vừa mới đẻ phải không?


Linh chưa kịp đáp, lão đã trỏ vào cánh phên, vọng ra tiếng hài nhi o oe khóc.


- Bà nhà ta mau mắn, sinh chóng quá. Cô đỡ ở trên phủ chưa kịp đến thì bà đã đòi lên bàn đẻ, tôi đành phải làm thay cô đỡ vậy. Nhờ trời, không khó khăn gì cả, mẹ tròn con vuông ông ạ. Ông vào xem mặt cô gái quý…


Lão hé cánh liếp để Linh vào. Một mùi hôi tanh nồng nặc khiến anh choáng váng. Anh đưa mắt nhìn trong ánh sáng lờ mờ giữa đêm. Gian phòng có ba chiếc giường con, Oanh đang nằm thiêm thiếp ở chiếc giường phía trong cùng, đứa trẻ bọc kín mình bằng chiếc sơ mi cũ phá ra làm khăn lót, nằm bên cạnh mẹ.


Anh thấy lòng đau xót, cúi xuống hôn vào trán Oanh. Cô hé mắt, nhìn anh, khẽ đặt bàn tay lên mép chăn dạ mỏng cho anh nắm. Giọng cô yếu ớt:


- Ngoài đường lạnh lắm hả mình? Trời tối, mình vội vã đến đây với em, chắc là mệt lắm? Đã ăn uống gì chưa?...


Cô giơ tay lên vuốt tóc, xoa má anh nghẹn ngào nước mắt:


- Anh ơi!...


Cô cắn chặt môi nén tiếng nấc, nhắm nghiền mắt lại. Da mặt cô xanh xao một cách khác thường. Anh bùi ngùi, thương cảm:


- Mình cứ nằm tĩnh dưỡng vài ngày. Anh sẽ tìm cách xin việc làm để lấy tiền giúp đỡ anh chị Thảo. Mình cứ yên tâm tạm ở với anh chị ấy, nuôi con cho nó cứng cáp lên rồi sẽ liệu sau. Biết thế nào mà lo trước. Đừng khóc nữa. Đàn bà khi sinh nở không nên khóc lóc, nghĩ ngợi nhiều. Chỉ cần nhớ một điều là lúc nào anh cũng yêu mình, yêu con.


Cô mở mắt, mỉm nụ cười nhợt nhạt, nắm chặt tay anh:


- Em trông cậy ở anh. Anh nhìn xem con có giống bố tí nào không?


Linh bật que diêm, nhìn qua hài nhi đỏ hỏn.


- Giống lắm, và xinh lắm. Giống mẹ nhiều hơn bố… để rồi lại hồng nhan bạc mệnh…


Oanh không bằng lòng, gắt khẽ:


- Anh! Đừng nói gở. Con còn trứng nước.


Linh cười gượng:


- Chỉ có gái hồng nhan mới được lưu truyền hậu thế. Không hồng nhan thì Tây Thi vẫn chỉ là cô gái quê giặt lụa, cô Kiều chỉ an phận làm máy đẻ cho anh học trò nghèo, và cô Oanh không hồng nhan thì cũng đã là cô hàng tạp hóa hay giỏi lắm là bà phán bà tham, chứ biết thơ văn kịch cỡm là gì nữa.


Cô bấm tay anh:


- Chỉ vì thơ văn kịch cỡm mà em mới biết mùi nằm đình nằm điếm thế này. Thật là vinh dự lớn. Bây giờ anh đặt tên con đi, để rồi mai lên Phủ khai sinh cho con chứ.


Linh chẳng nghĩ ngợi gì, chặc lưỡi:


- Thì gọi ngay là Kiều Hoa.


Cô lầm bẩm:


- Kiều Hoa! Cũng được. Nhân tiện nhớ đến nhan đề một tác phẩm mình ưng nhất. Nhưng hiềm nỗi Kiều Hoa trong kịch là một gái điên dại vì nước vì nhà, vì tình nữa. Em ngại rằng con ta…


- Em vẽ, kiêng khem cho phiền phức. Điên được như Kiều Hoa thì bao nhiêu con gái trong thiên hạ đều là kỳ nữ hết. Chẳng hạn như bây giờ chúng mình chẳng điên dại là gì. Không điên dại, sao có thể sinh ra giọt máu này! Không điên dại thì ta mỗi người ở một phương đã từ lâu…


Có tiếng động ngoài cánh liếp, và tiếng guốc giẵm thềm rêu. Vợ Thảo đã cùng một đứa gái gánh cả nồi niêu, củi gạo, chăn chiếu đến.


Oanh kêu thảng thốt:


- Trời ơi, chị… chị khó nhọc vì em. Em biết lấy gì tạ lại công ơn của chị.


Linh đỡ cây đèn dầu ở tay vợ Thảo, anh cảm động vô cùng.


- Đêm tối rét mướt thế này, chị còn lặn lội. Chị nghĩ đến chúng tôi nhiều quá.


Vợ Thảo tươi cười:


- Có gì mà ơn huệ, có gì mà vất vả. Tôi vẫn thường bảo chị Oanh là bọn đàn bà chúng tôi có trải qua cái nợ mang nặng đẻ đau mới càng biết thương nhau. Không loạn lạc, vị tất chị em mình đã được giúp đỡ, phiền lụy nhau thế này.


Vừa nói vợ Thảo vừa tháo chăn bông đắp lên mình Oanh và cười bảo:


- Chăn ấm, bà chớ ngủ say gác bẹp cả con gái quý nhá!


Rồi cô cùng đứa gái đặt lên chiếc khay con niêu nước mắm chưng, bát thịt rim, trứng luộc, và liễn cơm ủ nóng.


- Nào, chị ăn đi cho lại sức. Còn cháu bé thì tôi đã sắc nước cam thảo pha đường phèn đổ vào chai vú cao su đây rồi. Con bé này tôi cho nó ở liền đây trông nom, thổi nấu. Mọi việc, tôi đã dặn kỹ nó rồi. Nó sạch sẽ, tỉnh ngủ, chị có thể tin cậy được.


Oanh rớm nước mắt:


- Chị thương em, em tin tưởng rằng tình mẹ con cũng chưa được thế này.


Cô chạnh niềm sầu tủi khóc nấc lên. Vợ Thảo ngồi bên, cầm tay cô an ủi:


- Khóc mãi rồi toét mắt, lông quặm đấy. Ông ấy chê cho thì dại dột. Có phải không anh? Đàn ông các ông bạc bẽo thì không ai theo kịp. Cứ suy ông Thảo nhà tôi thì đủ rõ. Mỗi lần tôi có mang là y như ông ấy thở dài sườn sượt. Đến ngày nằm cữ thì ông ấy xách va ly đi chơi xa hàng tháng. Chờ cho con gắm gỏi rồi mới bò về nhìn mặt. Ông ấy bảo sợ đàn bà đẻ, sợ mùi hộ sinh, không thích trẻ con đỏ hỏn, nhất là đi khai sinh cho con ngoài đốc lý.


Oanh lau nước mắt:


- Các ông ấy thực giống nhau. Anh Linh cũng vậy, anh ấy rất buồn phiền từ khi em thai nghén, em biết lắm…


Vợ Thảo đã xới cơm ra bát, rồi đỡ cô ngồi dậy:


- Đẻ xong nằm thẳng nửa ngày thế là đủ lắm rồi, miễn đừng cựa mạnh. Chị xơi hết liễn cơm này, mai tha hồ tốt sữa.


Bỗng bà lão quét dọn nhà hộ sinh, tức là mụ đỡ thường thay cô đỡ trẻ tuổi tân thời tuy ăn lương mà ít khi đến đỡ đẻ vì còn bận công tác riêng trên phủ bộ, bà lão rón rén  bước vào, xoa tay chào Linh, chào vợ Thảo, rồi kể công cắt rốn, tắm rửa sạch sẽ cho đứa trẻ. Linh hiểu thầm mụ muốn vòi tiền, và cũng nghĩ rằng bổn phận mình cần biếu mụ, nhưng anh sờ các túi, không có một đồng nào hết. Vợ Thảo biết ý Linh, liền móc túi lấy ra hai chục đưa mụ đỡ:


- Ban chiều tôi đã biếu cụ rồi, bây giờ ông Linh đây lại thưởng riêng cụ số tiền này nữa để cụ mua trầu cau, diêm thuốc.


Đêm ấy, vợ Thảo đã ngồi chịu rét chờ trời sáng bên mẹ con Oanh, như đêm nọ Thảo đã cùng Oanh và Linh chia cái khổ thức thâu canh sương gió ở ngôi đền hoang, chia cơm với bọn người hành khất.  


 


 


IV


 


Oanh đã khỏe mạnh, ẵm Kiều Hoa về quán đồi thông, ở cùng gia đình Thảo. Đứa bé phổng phao, bụ bẫm, ngủ ngoan hiền trong tiếng hát ru buồn rượi của Oanh.


Thảo và Linh ít có mặt ở nhà. Linh không lưu ý gì đến sự sinh hoạt và lưu động của đoàn kịch Bông Lau nữa. Anh chỉ rủ Thảo đi tìm các cơ quan báo chí để xin viết kiếm tiền. Một vài tờ báo đã đăng thơ của Linh, tiểu thuyết của Thảo, nhưng chỗ trả được ít nhiều, chỗ xin ủng hộ. Rút cục, mòn giầy rách áo, mà đôi bạn hàn sĩ ấy vẫn chẳng được món tiền nào về đỡ vợ. Hai người lại rủ nhau về quán nằm nghe mưa gió, nghe con khóc, chán nản, rồi lại rủ nhau đi.


Thấm thoát Kiều Hoa đã biết bò, càng lớn càng kháu khỉnh. Oanh tìm nguồn an ủi ở Kiều Hoa, tạm nguôi nỗi sầu mẹ con lạc lõng nơi đất khách. Linh cũng tạm nguôi gia cảnh bến Hồ, những ngày không đi lưu đãng vặt lại ở nhà bế ẵm Kiều Hoa, và viết kịch. Bản thảo ngày một dày, chất kín nửa phần chiếc ba lô bụi rách.


Vợ Thảo vẫn hết lòng nuôi bạn không hề than thở về sự hết tiền, hàng ế, cả một nhà mươi miệng ăn trông cả vào bát nước, liễn chè.


Đoàn kịch Bông Lau lại vòng về diễn ở làng Lệ Mật. Lũ trẻ cấp báo tin cho bố, sau khi đọc cáo bạch ở chợ Cao. Linh thờ ơ nói:


- Các anh ấy vẫn chơi vở của tôi, thế mà không cần biết tác giả có còn ưng thuận để các anh ấy diễn. Ấy là chưa muốn nói rằng kẻ cặm cụi viết những kịch phẩm kia hiện đang sống ở cảnh tình bi đát. Nhưng thôi, mình chẳng cần lên tiếng làm gì. Bọn nghệ sĩ vốn bừa bãi và ích kỷ, mặc dầu họ vẫn chửi các nhà xuất bản là muỗi đói lạm dụng văn phẩm họ…- Anh cười chua chát, nói tiếp -  Tôi biết rằng các anh ấy đã có vốn liếng dồi dào, nghĩa là có hết vở của tôi đủ diễn quanh năm các chốn. Oanh chửa đẻ, các anh ấy dãn ra, đồng thời dãn chính cả tôi, vì xét rằng tôi không còn ích lợi gì cho họ nữa. Họ tưởng có mươi vở của tôi đã quá đủ rồi. Họ tưởng tài năng của họ đã xuất sắc lắm rồi. Mai anh tới nơi họ diễn sẽ thấy một vài cô do thượng cấp gửi về thay Oanh. Họ luyện cho các cô ấy chơi giống Oanh như hệt, và anh sẽ thấy có người ngâm thơ cũng giống tôi, có phần hay hơn nữa, theo lời tuyên truyền của họ. Cho nên anh đừng ngạc nhiên khi thấy đồn ở Chợ Cồn, Đống Năm, Đồng Quan, các gánh hát cải lương thường có chuyện xung đột, kèn cựa nhau vì đào kép.


Hôm sau, tại một ngôi chùa, đoàn nghệ sĩ phiêu lưu ấy công diễn vở “Trông về quan ải” của Linh. Thiên hạ vốn mộ tài của kịch sĩ này, rủ nhau lên chùa như ngày hội thượng nguyên thời chưa loạn.


Quán nhà Thảo cách chùa Thông ngót bốn cây số, nên nhờ buổi diễn kịch cũng thêm đông khách. Trai gái hàng tỉnh tản cư lâu ngày mới có dịp giải sầu đất khách, đi coi hát chật đường đất núi, như ngày đình chiến người ta lượn giỡn ở quanh hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội.


- Đoàn Bông Lau có tài tử Hoàng Linh ngâm thơ thì phải biết, không thể nào chê được.


Một cô tóc uốn, đội ca lô, áo cánh trắng viền đăng ten, quần đen, tay lồng vòng ngọc thạch làm ra sành sỏi:


- Tôi đã xem Hoàng Linh đóng trong Lệ Chi viên ở Nhà hát Lớn, đẹp trai hơn Lê Thánh Tôn đời xưa ấy.


Cô khác giễu:


- Mày trông thấy Lê Thánh Tôn rồi à, nếu vậy kiếp trước mày là Thị Lộ. Thị Lộ cho cụ Nguyễn Trãi mọc sừng. Mày sẽ ế chồng, vì không ai dám lấy con rắn ba đời báo oán.


- Eo ôi, loài xà tinh hiện ban ngày, chúng bay ôi!


Các cô cùng các cậu kêu rú cả lên, vừa xô đẩy cô nàng tóc uốn. Tiếng rú đùa nghịch ấy làm cho bé Kiều Hoa đang ngủ giật nảy mình khóc thét trong tay Oanh nằm ở trong giường. Cạnh Oanh, Linh đang ngồi viết.


Hai người nhìn nhau, khó chịu. Oanh vỗ ru con ngủ. Vợ Thảo ngoảnh vào hỏi  to, cốt cho bọn trai gái kia nghe thấy:


- Cháu bé giật mình khóc đấy à, chị Oanh? Chị ôm chặt cháu vào lòng, kẻo trẻ con mà giật mình như vậy là hại lắm.


- Thưa chị vâng, cháu còn bé quá, chưa quen tiếng động.


Vợ Thảo mỉm cười:


- Phải ngỗ nghịch, bạo dạn, ăn to nói lớn thì mới phải là gái thời loạn chứ!


Vợ Thảo nói vậy, tưởng các cô nữ binh kia hiểu ý, nhưng họ vẫn cười đùa ầm ỹ, rồi lại quay về câu chuyện kịch.


- Mày thích Hoàng Linh ngâm thơ mặc kệ mày, chúng tao thì cho là đồ cổ. Màn ảnh thì Cá Gáp, Te Lo, còn sân khấu thì phải là vọng cổ Kim Chung, Huỳnh Thái.


- Đồng ý với con ranh. Chúng mình phải xin với các anh ấy cho công tác miền Đông Nam xem Huỳnh Thái và uống cà phê các quán Thủ đô cho hả dạ. Chứ sống mãi miền núi đất mọi rợ này ngấy lắm rồi.


- Hãy nghe tạm Hoàng Linh ngâm thơ đêm nay đã. Vợ anh chàng Hoàng Linh là Kim Oanh ngâm thơ và đóng trò cũng tuyệt. Nghe đâu là vợ chồng thì phải.


- Vợ chồng quái quỷ gì. Tao mà định chài thằng cha ấy thì dễ như chơi.


- Thôi xin cô, để cho vợ chồng người ta yên ổn. Thấy nói Kim Oanh to bụng với anh chàng ấy, chả biết tối nay có còn ra sân khấu nữa không.


Câu chuyện ồn ào về sân khấu của mấy cô gái mũ ca lô, lưng đeo súng khiến Linh từ nãy chau mày bỏ bút. Còn Oanh thì vẫn bình thản nhắm mắt, sát má vào má con vờ như ngủ không lưu ý gì đến câu chuyện bên ngoài đang vô tình bàn tán về mình.


Từ ngày có Kiều Hoa, Oanh không còn tính gắt gỏng, chanh chua, day dứt như trước nữa. Cô nghĩ tới con. Cô chỉ còn cái vui bám víu vào con. Ánh đèn sân khâu tắt lạnh trong tâm tưởng, không còn làm cho cô nhớ tiếc một bóng hình. Tình cảm của cô lúc này chỉ có thể gởi vào con, vào Linh, vào vợ chồng Thảo và đàn con Thảo. Nếu còn nước mắt, cô chỉ khóc những đêm tàn ru Kiều Hoa mà chạnh niềm thương nhớ mẹ già và đứa con lạc lõng phương xa, giọt máu còn sót lại của mối tình duyên ngang trái đã chết rồi. Thực ra vợ Thảo đã cảm hóa cô bằng cách cư xử có lễ độ với chồng, hòa nhã với con, rộng rãi với các bạn văn đã được chồng trọng đãi vì tài vì đức. Luôn luôn cô tự nhủ phải rèn luyện đức hạnh như vợ Thảo. Nửa kiếp người, cô đã cậy tài kiêu sắc mà tự đưa thân vào cầu đoạn trường, mệnh bạc, ong chiều bướm sớm, khiến cô tủi thẹn mỗi lần ôn chuyện cũ, hoặc nghe ai nhắc tới chút tài hoa là cô đã rùng mình.


Các cô gái tỉnh đã ăn uống no nê và thôi bàn chuyện kịch, đeo túi dết xuống đường tới chùa Thông xem kịch mà họ tưởng còn có Oanh, Linh diễn.


Linh đứng dậy, ra ngoài quán nhìn thiên hạ đi xem kịch, rồi ngoảnh lại chợt nghe con khóc đói, tiếng Oanh ời ợi dỗ con ở trong buồng, lòng anh đau như cắt. Anh thở dài vụt nghĩ đến thiên truyện ngắn “Đời tư Lã Bố” Thảo viết đã lâu, tả cuộc đời anh kép riễu làm trò cho thiên hạ giữa lúc bố ở nhà tắt thở vì không tiền, không gạo.


“Mình cũng vậy, có hơn gì anh kép ấy”. Anh chua xót nghe những tiếng nói cười, những bước chân rộn rã khua bụi đường.


Chợt một người đi xe đạp đến, thấy Linh, người đó vội kêu lên:


- Cậu ôi, tôi đạp suýt chết từ sáng sớm, hai lần xe nổ lốp mới tới được đây.


Anh giật mình, nhận ra người đầy tớ cũ của nhà. Linh bàng hoàng hỏi vội:


- Có tin dữ phải không? Nói mau đi!


Người đầy tớ ngồi xuống ghế, nhìn vợ Thảo, nhìn vào bên trong, hổn hển đáp:


- Cụ bà hấp hối từ đêm qua. Tôi chắc sớm nay cụ khó mà chờ cậu thêm được nữa.


Anh đứng lặng người, nước mắt ứa rơi xuống má. “Thảm chưa, cơ sự đến thế này à? Tại mình, chắc chắn tại mình…”. Anh đưa mắt nhìn vào giường trong, đoán rằng Oanh đã biết và đang khóc vì cuộc chia ly mà lâu rồi Oanh đoán thế nào cũng đến. Anh thảng thốt ngồi xuống ghế, tỳ khuỷ tay lên thành chõng ôm lấy mặt. Tên người nhà bưng bát nước chè tươi vợ Thảo mời, rồi nói tiếp:


- Cụ ông nhất định không cho con đi gọi cậu. Nhưng mợ cả phải van lạy mãi, cụ mới cho phép con lên đây. Mợ dặn cậu về ngay, may ra còn kịp. Cụ bà uống mấy thìa sâm vẫn thoi thóp thở. Mợ cả thuê người hàng xóm chiếc xe đạp này, bảo để cậu về cho nhanh, con đi chân về sau vậy.


Tai Linh ù hẳn, không còn nghe gì nữa. Thảo vừa đi dạy học về - người ta mới cho anh công tác ấy – thấy vậy, vội đỡ anh vào nhà trong. Anh đứng sững trước mặt Oanh. Không như anh tưởng, cô vẫn ngồi yên lặng ẵm con, mắt không ướt lệ, nhìn trân trân ra ngoài cửa sổ phơ phất mấy cành lau khô.


Một lát, cô buồn bã nói:


- Cụ bà thất lộc, anh nên về ngay kẻo gia đình mong đợi. Em xấu số, tiếc không được ẵm con theo anh, về khóc mẹ chịu tang - rồi cô không thể nén, nức lên - Nhưng dù chẳng được góp phận dâu con, em cũng xin bà nắm khăn trắng. Anh cứ yên lòng về cư tang ít tháng, em xin nguyện hàng ngày ra đỉnh đồi hướng về phương ấy thắp hương cầu vong hồn mẹ tha thứ cho em. Anh Linh ơi, trăm sự dở dang, chỉ vì số kiếp em tất cả…


Anh cắn chặt môi, trong khi vợ Thảo đỡ Kiều Hoa ở tay Oanh, ẵm ra sau nhà đứng sụt sùi. Người đầy tớ đứng sau anh, khẽ giục:


- Tôi lạy cậu, câu lên xe đạp xuôi ngay, kẻo ở nhà đang bối rối. Mợ cả và các em khóc than nheo nhóc lắm cậu ơi…


Thảo cầm tay Linh thương cảm:


- Anh nên can đảm, đừng bịn rịn làm gì nữa. Anh phải về chịu tang cụ bà ngay đi cho gia đình đỡ thảm. Ở trường hợp này, anh không thể mềm yếu thế. Chị và cháu ở đây đã có chúng tôi săn sóc. Anh phải về, phải nghe vợ chồng tôi, nếu anh còn coi chúng tôi là bạn.


Vợ Thảo lau nước mắt, vội buộc vàng hương vào sau xe đạp:


- Gọi là có nén hương thơm xin gửi anh thay mặt chị Oanh, chúng tôi và các cháu thắp trước linh cữu cụ.


Rồi không quên đưa Linh mấy chục bạc:


- Anh cầm chút ít đề phòng dọc đường uống nước, chữa xe. Vài tháng gia đình đã nguôi rồi, anh lại lên với Kiều Hoa. Anh cứ yên trí rằng mọi sự ở đây sẽ không có gì thay đổi, và những người thân yêu của anh lúc nào cũng trung thành đón đợi…


Oanh đứng dậy, nén cơn thổn thức, xếp mấy manh quần áo cũ bỏ vào ba lô, tự đeo lên lưng người yêu, dắt anh ra bậc gạch trước quán, nhìn vào mắt anh, siết chặt tay anh:


- Anh về, anh về… em xin nguyện cả một đời em vẫn là của anh, của con anh…


Anh cúi hôn Kiều Hoa, rỏ nước mắt xuống làn má mịn hồng của con, rồi dắt xe đạp xuống đường.


Trên thềm quán, vợ chồng Thảo và Oanh im lặng giơ tay vẫy. Anh lao đao cố đạp, cố đạp lên con đường dốc rồi băng băng vút xuống đoạn đường lòng võng khuất sau đồi.


 


V


 


Hai tháng sau, Linh vội vã tìm lên chốn cũ. Anh đã kinh hoàng vì quán gió, người yêu có còn đâu. Này đây vách đất tả tơi, mái gianh đen cháy, cây đa cổ thụ dưới thềm cũng bị gẫy rời cả cành lá.


Linh còn đang ngơ ngác, bỗng người thợ cạo trước kia vẫn hàng ngày ngồi ở gốc đa, từ chân đồi đi đến. Người thợ cạo nhìn anh bằng đôi mắt lờ đờ ốm yếu, bác không thể nhận ra  ngay vì hình dạng anh đổi thay nhiều: mình gầy, mắt trũng, râu ria tua tủa, nhưng rồi người thợ cạo bỗng kêu lên khi nhận rõ chiếc ba lô vá víu mà bác ta thường để ý.


- Ông Linh đấy ư? Ông về quê lên chậm quá…


Linh hồi hộp sợ:


- Sao lại thế này? Ông nói mau cho tôi biết.


Người thợ cạo chậm chạp đặt hòm và ghế xuống gốc đa, chậm rãi:


- Hôm ấy phiên chợ. Chợ bị bắn đạn lửa, rồi tàu bay lại liệng về đây bắn phá rất lâu. Cả nhà bà hàng nước đây bò được cả ra tăng xê dưới chân đồi. Hàng quán, hòm xiểng bốc cháy ngun ngút. May không ai bị vùi trong lửa. Ghê gớm quá ông ơi! Gia đình bà hàng nước đã lếch thếch một đoàn tán lạc đi đâu cả, tôi cũng không còn hồn vía mà hỏi nữa. Hôm ấy tôi cuống cả chân tay, cứ đành ôm chặt lấy gốc cây này chờ chết. Thế mà đạn đốt trụi nửa thân cây ở trên cao, tôi vẫn sống yên lành dưới gốc. Thực là phúc đức nhà tôi ông ạ.


Nói rồi, bác ta cúi nhặt ghế và hòm, lùi lũi rẽ ngang bờ ruộng, ngược lên bờ sông máng.


Ruột Linh như lửa cháy, cơ hồ đến điên cuồng. Nước mắt ứa ra, Linh rên trong cuống họng:


- Có ngờ đâu mới ít ngày xa cách mà mẹ con Oanh, vợ chồng con cái Thảo đã sẩy đàn tan nghé, bơ vơ, điêu đứng thế này.


Linh tê tái, ngồi bệt xuống đống đất cháy đen. Lúc đó, cụ từ già còng lưng quảy hai vò nước ở dưới giếng nặng nhọc và rờ rẫm leo những bậc gạch lên đền. Linh bước theo, vái lạy:


- Cụ vẫn bình an.


Cụ từ vẫn cúi đầu lần đầu gậy, tay giữ dây quang cho khỏi sóng nước ra ngoài, run giọng đáp:


- Vâng, tôi nhờ trời phật may chưa chết.


Cụ đặt gánh xuống bậc thềm, thở phì phào rồi nhìn sững Linh, thốt nhận ra người quen cũ, vì anh vẫn thường đem giấy mực lên đền ngồi viết để tránh sự ồn ào trong quán Thảo.


- Ông… ông Linh đấy ư? Chao ôi, hôm nọ ông không ở đây mà nghe đạn. Hàng quán cháy cả rồi. Người thoát cả, đã bồng bế nhau đi ráo cả, còn trơ lão ở xó đền heo hút tối tăm này.


Anh nắm cánh tay khô của ông già cô độc:


- Thưa cụ, gia đình ông bà Thảo dọn đi có lên nhờ cụ dặn dò gì cháu không?


Cụ Từ chép miệng:


- Ông Thảo có dặn tôi rằng nếu ông đến hỏi thì bảo gia đình ông ấy dọn sang làng Cước cách đây chừng hai mươi cây số ở bên kia sông Lãnh. Ông cứ đến đấy tìm sẽ gặp.


Anh toan đứng dậy thì cụ già cô độc ấy lại thì thào:


- À quên, ông Linh ạ, cách nay chừng nửa tháng, có một người đàn bà ẵm con lên đây, đưa tôi một lá thư, dặn khi nào ông đến thì đưa hộ. Bà ấy không xưng danh tính, đưa biếu tôi mười đồng bạc, rồi ẵm con đi vội vã. Tôi nhớ mang máng như là đã lên đền này một hai lần với ông rồi thì phải.


Linh bồi hồi giục:


- Thư đâu, cụ đưa ngay cho cháu.


Cụ già ho sằng sặc:


- Tôi để trên đền, bỏ mãi trong túi áo chờ ông đến mà chẳng thấy, sợ nát ra, tôi phải cất vào sau bệ thờ.


Nói rồi, cụ toan cúi xuống lần đòn gánh. Anh nóng ruột:


- Cụ để cháu gánh kẻo lập cập trượt chân thì vỡ cả.


Đoạn anh quảy đôi vò bước nhanh lên bậc dốc. Cụ già tay chống đầu gối, tay cầm gậy, bước từ từ. Anh điên dại, muốn quăng cả đôi vò và bế thốc cái mình khô đét ấy chạy bay thẳng lên đền, tìm lá thư mà anh biết chắc của Oanh.


Cụ già lẩy bẩy sờ mó mãi mới moi được mảnh giấy cất kỹ sau bệ thờ. Linh giật lấy, mở ra, tay run như chiếc lá rung trong gió.


Anh Hoàng Linh,


Em thật chẳng ngờ còn sống sót để viết mấy dòng này gửi lại mình.


Tai nạn ghê gớm tự trời rơi xuống ngày hôm đó, tuy có làm mẹ con em run sợ nhưng em thực chẳng lấy làm mừng như tất cả những ai tránh được cảnh xương tan thịt nát bất ngờ. Em vẫn sống, Kiều Hoa chỉ nóng sốt vài ngày, lại ăn chơi như cũ, nhờ chị Thảo tận tình săn sóc thuốc thang.


Mẹ con em được anh chị Thảo càng ngày càng thương xót. Anh chị Thảo luôn nhắc nhủ đến mình. Bom đạn nổ trên đầu em nhắm mắt chờ đợi chết,  nhưng chỉ cầu trời tránh cho đứa con vô tội của chúng ta, tránh cho gia đình anh chị Thảo.


Em không được chết, có lẽ tội em vẫn còn nhiều. Em nghĩ không nên quấy phiền bạn mãi và cũng không muốn hy vọng thấy mặt anh. Em ẵm con về chốn cũ tìm mẹ già, con bé bơ vơ. Anh hãy cầu nguyện cho Kiều Hoa, con mình được gặp mọi điều may mắn.


Xin vĩnh biệt mình.


Oanh


Linh buông thõng hai bàn tay, bâng khuâng nhìn dải mây xám trên rặng thông xa, phảng phất hình người đàn bà đang xõa tóc cúi xuống.


Cụ thủ từ lúi húi thắp hương trong ngôi đền, gõ mấy tiếng vào mảnh chuông đồng vỡ còn sót lại. Gió lạnh từ dưới đường đồi cuồn cuộn dâng lên, anh chợt nhớ lại đêm nào thức tàn canh bên đống lửa với Oanh, Thảo và bọn người hành khất trong ngôi đền này.


Thế mà bây giờ…


Anh chua xót nghĩ đến gia đình Thảo, một bầy con lếch thếch kéo nhau đi tìm nơi trú ngụ như đoàn du mục tha hương, nghĩ đến mẹ con Oanh chiều nay không biết phiêu dạt phương nào.


Tiếng chim sẻ kêu buồn trên mái đền, vài cánh dơi chập choạng chao mình vào bóng lạnh. Anh mệt mỏi bước xuống đường, chưa biết sẽ dừng chân ngủ đỗ nơi nào đêm nay.


 


Mùa đông năm Nhâm Thìn - 1952


NXB Trần Văn Huy, 1953


Nguồn: Mưa thu. Tuyển tập truyện dài của Ngọc Giao. Nguyễn Tuấn Khanh tuyển chọn. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 21.11.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 21.11.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.11.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 18.11.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 18.11.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 18.11.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 07.11.2019
Những lớp sóng - Virginia Woolf 25.10.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
xem thêm »