tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 25000726
Tiểu thuyết
08.12.2011
G. G. Marquez
Trăm năm cô đơn

Trong những ngày đầu họ không gặp một trở ngại đáng kể nào. Họ men theo bờ đá lổn nhổn, đi ngược dòng sông cho tới nơi mấy năm trước từng đào được bộ giáp trụ thế kỷ XV, rồi từ đó theo con đường mòn len lỏi qua những cây cam dại đi sâu vào rừng rậm. Cuối tuần thứ nhất, họ giết và quay thịt một con nai, nhưng bảo nhau chỉ ăn một nửa, phần còn lại ướp muối dành cho những ngày tới. Với tính toán thận trọng ấy, để duy trì cuộc thám hiểm, họ ăn vẹt đuôi dài, một thứ thịt xanh lè có vị hắc của xạ hương. Sau đó, khoảng hơn mười ngày liền, họ không được nhìn thấy mặt trời. Đất dưới chân họ lại ẩm thấp và nhão nhoét giống như tro tàn của núi lửa, và cây cối ngày một rậm rạp, hiểm hóc hơn, tiếng chim kêu vượn hú ngày một xa dần, và quang cảnh lại trở nên mãi mãi buồn tẻ. Những người trong đoàn thám hiểm cảm thấy buồn phiền vì những ký ức cổ xưa nhất của mình trỗi dậy trong cái thiên đường ẩm ướt và quạnh hiu này, còn xa xưa hơn cả cái thiên đường mà ở đó giống người đã phạm tội tổ tông, là nơi ủng ngập sâu trong thứ nước bùn giống như dầu bốc hơi và những con dao rựa phải hạ xuống chém ngang thân những cây hoa loa kèn trắng và những chú kỳ nhông vàng ươm. Trong suốt cả một tuần, hầu như không ai nói lấy một lời, với bộ ngực tức thở bởi thứ không khí khô nóng tanh mùi máu, cứ nín lặng đi hệt những kẻ mắc chứng mộng du trong một thế giới ảm đạm, hầu như chỉ được soi sáng nhờ lửa đom đóm lập lòe. Họ không thể quay lui, vì con đường được mở ra theo dấu chân họ chẳng bao lâu đã bị thứ cây cỏ mới, lớn nhanh tưởng như trông thấy được, lấp mất lối. "Đừng sợ," Hôsê Accađiô Buênđya nói, "cốt nhất đừng để mất phương hướng." Không rời mắt khỏi la bàn, ông hướng mọi người đi về phương Bắc, cho tới khi họ bắt gặp một vùng đất thú vị. Đó là một đêm tối mịt mùng, không trăng sao, nhưng lại là một đêm thoáng đãng nhờ không khí mới mẻ và trong trẻo. Qua chuyến xuyên rừng dài ngày, ai nấy mệt phờ bèn vội mắc võng, và lần đầu tiên trong hai tuần liền họ say sưa ngủ. Khi thức dậy, mặt trời đã lên cao. Họ đều hào hứng. Trước họ là một chiếc tàu Tây Ban Nha khổng lồ, màu trắng và bụi bậm, nổi lên giữa những cây dương xỉ và chà là trong ánh sáng ban mai dịu dàng. Nó nằm nghiêng về mạn phải. Những mảnh buồm rách còn treo trên những cột buồm nguyên vẹn, nằm giữa đống thừng chão kết hoa nguyệt quế. Thân tàu, được lớp vẩy cá ép đã hóa đá và lớp rêu xanh phủ kín, hoàn toàn bị gắn chặt xuống nền đá. Toàn bộ cấu trúc của nó dường như chiếm cứ cả một khung cảnh riêng, cái khung cảnh cô đơn và lãng quên, cái khung cảnh được bảo vệ trước sự phá phách của thời gian và chim chóc. Ở bên trong tàu mà những người thám hiểm đã khéo léo mở được cửa, không có gì khác hơn là một rừng hoa chen kín.


Việc bắt gặp con tàu này, dấu hiệu tỏ rằng biển đã gần kề, như một gáo nước lạnh dội vào ngọn lửa nhiệt tình của Hôsê Accađiô Buênđya. Ông cho rằng nó như một lời nhạo báng cái số phận trớ trêu của mình: khi đi tìm biển, dù phải trả giá đắt với biết bao hy sinh và khó nhọc, thì không thấy, còn giờ đây không đi tìm thì lại thấy nó lù lù hiện ra, như một trở ngại không cách gì vượt qua nổi. Rất nhiều năm sau, đại tá Aurêlianô Buênđya có dịp trở lại vùng này khi nó đã có một đường bưu điện, vật duy nhất của chiếc tàu ấy mà chàng bắt gặp là một mạn tàu cháy nham nhở nằm giữa đồng hoa mỹ nhân thảo, thì chỉ đến lúc ấy chàng mới nhận ra cái câu chuyện ấy chẳng qua chỉ là sản phẩm từ trí tưởng tượng của cha mình. Chàng tự hỏi làm sao con tàu ấy lại có thể tiến sâu vào cái địa điểm nằm ngay trên đất liền này. Nhưng Hôsê Accađiô Buênđya không cần bận tâm như vậy khi sau bốn ngày đi bộ, ông đã gặp được biển cách chỗ con tàu khoảng mười hai kilômét. Những mơ ước của ông tan biến trước mặt biển màu xám tro, ngầu bọt và bẩn tưởi, thật không bõ cái công ông đã khó nhọc trong chuyến mạo hiểm của mình.


- Con c…! - Ông gào toáng lên. - Macônđô bị nước vây quanh rồi.


Cái ý niệm về một bán đảo Macônđô cứ lớn lên trong thời gian dài, được thể hiện trên tấm bản đồ nhiều sai lầm mà Hôsê Accađiô Buênđya đã vẽ nó vào lúc đoàn thám hiểm của ông trở về. Ông vẽ nó mà lòng đầy giận dữ, do đó đã quá cường điệu những khó khăn giao lưu với bên ngoài. Ông làm thế như là để trừng phạt ngay chính mình vì tội thiếu cân nhắc cặn kẽ khi chọn địa điểm này để lập làng. "Sẽ chẳng bao giờ chúng ta đi tới đâu được," ông thở than trước mặt Ucsula. "Chúng ta đến mục xác trong khi còn sống ở đây mà chẳng thể nào được hưởng những lợi ích của khoa học đem lại." Cái ý nghĩ sáng tỏ ấy, được nung nấu vài tháng trong phòng thí nghiệm, đã dẫn ông tới việc thai nghén kế hoạch chuyển Macônđô đến một địa điểm thích hợp hơn. Nhưng lần này Ucsula đã nhất mực phản đối cái kế hoạch vội vàng của ông. Trong quá trình vận động thầm lặng và khéo léo của một người đàn bà cần mẫn, bà đã chuẩn bị cho đám các bà vợ trong làng chống lại mọi sự hời hợt của các ông chồng đã bắt đầu chuẩn bị để lại lên đường. Hôsê Accađiô Buênđya, không biết từ bao giờ và vì sức chống đối nào, mà các kế hoạch của ông cứ lộn nhào trong mớ bòng bong những nguyên cớ và mâu thuẫn, để rút cục chúng chỉ còn là một ảo tưởng đơn thuần. Ucsula chăm chú theo dõi ông, theo dõi cho đến khi bà mủi lòng thương. Ấy là buổi sáng bà gặp ông ở căn phòng cuối nhà. Trong lúc sắp xếp dụng cụ của phòng thí nghiệm vào các hòm, ông lải nhải dự tính những mơ ước khi di chuyển được làng. Bà để cho ông làm xong. Bà để cho ông đóng đinh các hòm lại và dùng cành oải hương chấm mực viết tắt tên họ mình lên trên mà không hề than thở một lời, nhưng bà hiểu rằng ông thừa biết (vì bà nghe thấy ông nói ra trong các cuộc độc thoại) rằng những người đàn ông trong làng sẽ không tham gia kế hoạch di chuyển. Chỉ đến khi ông gỡ cánh cửa phòng ra, lúc ấy bà mới dám hỏi vì sao ông làm thế, và ông chua xót trả lời: "Bởi vì không ai đi thì chúng mình sẽ cứ đi." Ucsula vẫn bình tĩnh:


- Chúng mình cũng không đi đâu hết, - bà nói. - Chúng mình ở tại đây bởi vì ở đây chúng mình đã sinh hạ được một đứa con.


- Một khi chưa có người thân chết để chôn dưới đất thì chúng ta vẫn cứ là những kẻ không quê hương bản quán.


Với lòng kiên nhẫn, bà nhẹ nhàng:


- Nếu cần thiết tôi phải chết để các người ở lại đây, tôi sẽ chết.


Hôsê Accađiô Buênđya không tin vợ mình lại nghiêm túc và quyết tâm đến thế. Ông thuyết phục bà bằng phép mầu nhiệm của mình, bằng lời hứa về một thế giới huyền ảo nơi chỉ cần rỏ mấy giọt nước thần xuống đất là đủ để cây đơm trái theo ý nguyện người trồng, nơi thuốc men và phương tiện chữa bệnh cho con người được bán với giá rẻ. Nhưng Ucsula vẫn điềm nhiên trước những lời đường mật có sức thôi miên của ông:


- Thôi, xin ông hãy bỏ những ý nghĩ viển vông ấy đi, và hãy lo cho các con, - bà nói. - Hãy nhìn chúng kìa, thảm chưa? Ôi, những đứa trẻ không được chăm sóc theo đúng ý lành của Thượng đế. Nom chúng chả khác gì những con lừa.


Lần nữa, Hôsê Accađiô Buênđya chăm chú nghe từng lời của vợ. Ông nhìn qua cửa sổ và thấy hai đứa trẻ đi chân đất ở ngoài vườn nắng và có cảm giác rằng chỉ đến lúc ấy chúng mới bắt đầu tồn tại. Ông để ý tới chúng, nhờ lời khẩn cầu của Ucsula. Vậy là có một cái gì đó đã xảy ra bên trong ông, cái gì đó thiêng liêng và có thực lôi ông ra khỏi thời hiện tại của mình và đưa ông trôi dần vào cõi nguyên sơ của dòng ký ức. Trong lúc Ucsula quét nhà, ngôi nhà mà giờ đây chắc chắn bà sẽ gắn bó cả đời mình với nó, ông ngồi đắm đuối nhìn những đứa trẻ cho đến khi thấy mắt mình đẫm lệ. Ông lấy mu bàn tay chùi đi, thở phào một cách nhẹ nhõm rồi dõng dạc nói:


- Thôi được. Nào, bà bảo chúng đến giúp lôi các thứ trong hòm ra!


Hôsê Accađiô, đứa lớn, đã mười bốn tuổi. Cậu có cái đầu vuông vức, tóc rễ tre và chỉ muốn làm theo sở thích riêng, y hệt tính cha. Mặc dù to lớn và có sức mạnh cơ bắp nhưng rõ ràng mới ở tuổi này cậu đã để mất trí tưởng tượng. Cậu được hoài thai và sinh ra trong lúc mọi người đang khó nhọc vượt núi, ấy là lúc trước khi thành lập làng Macônđô. Cha mẹ cậu cảm tạ Thượng đế khi xem xét khắp người cậu không thấy có bộ phận nào là của con vật. Aurêlianô, người đầu tiên sinh ra ở Macônđô, sẽ lên sáu tuổi vào tháng Ba tới. Cậu bé lặng lẽ và cô đơn. Cậu đã khóc trong bụng mẹ và lọt lòng với đôi mắt mở thao láo. Trong khi người ta cắt rốn cho cậu thì cậu ngọ nguậy cái đầu từ bên này sang bên nọ như để làm quen với các vật bày trong phòng, và với tính tò mò không sợ hãi, dò xét khuôn mặt của đám đông. Sau đó, mặc kệ những ai đến gần để xem mình, cậu cứ chăm chú nhìn lên mái nhà ọp ẹp đang đe dọa sập xuống dưới sức ép khủng khiếp của cơn mưa. Một ngày nọ, cậu bé Aurêlianô, mới lên ba tuổi, bước vào nhà bếp giữa lúc Ucsula nhắc nồi canh ra khỏi bếp và đặt nó lên bàn, và chính trong ngày ấy, bà mới nhớ lại sức nặng của cái nhìn ấy. Cậu bé thập thò ở ngoài cửa, nói: "Nó sẽ đổ đấy"… Cái nồi đã được đặt chắc chắn trên bàn, nhưng bỗng nhiên, đúng y lời cậu bé dự báo, nó bỗng rung lên bần bật rồi lăn ra mép bàn như có sức đẩy từ bên trong, và vỡ toang từng mảnh trên sàn nhà. Ucsula hoảng sợ, kể lại câu chuyện với chồng, nhưng ông giải thích nó chỉ là như một hiện tượng tự nhiên. Ông vẫn thường như thế, luôn luôn không để ý đến sự có mặt của các con mình, phần vì coi tuổi thơ như một giai đoạn thiếu trí tuệ và phần vì lúc nào ông cũng quá đam mê trong những lý thuyết hư vô.


Nhưng kể từ buổi sáng gọi bọn trẻ đến giúp mình tháo dỡ các dụng cụ của phòng thí nghiệm ra khỏi thùng, ông đã dành cho chúng những giờ khắc quý báu của mình. Trong căn phòng biệt lập mà bốn bức tường ngày một dày đặc các bản đồ khó hiểu và các bức họa huyền thoại, ông dạy chúng đọc, viết, làm toán và nói với chúng về những điều kỳ diệu của thế giới không chỉ dừng lại trong khuôn khổ của sự hiểu biết mà nhiều khi còn vượt xa trí tưởng tượng của ông. Thí dụ, bọn trẻ học được rằng ở một miền đất tận cùng Nam châu Phi, có những người rất đỗi thông tuệ và hiền lành đến mức niềm vui duy nhất của họ là được ngồi suy tư; và rằng người ta có thể lội qua biển Egiê(1) bằng cách nhảy từ đảo này sang đảo khác cho đến tận cảng Xalônich(2). Những buổi học kỳ thú này đọng lại như khắc vào ký ức bọn trẻ, đến mức nhiều năm sau, một phút trước khi viên sĩ quan quân đội Bảo hoàng ra lệnh cho đội hành hình nổ súng, đại tá Aurêlianô Buênđya đã sống lại buổi chiều tháng Ba êm đềm, cái buổi chiều cha chàng bỏ dở bài học vật lý đầy hào hứng, với một tay giơ lên và đôi mắt lim dim để đón nghe từ xa vọng đến tiếng kèn, tiếng trống, tiếng lục lạc của người Digan đã nhiều lần tới làng đang rùm beng quảng cáo phát minh mới nhất đầy kinh ngạc của các nhà thông thái xứ Memphi(3).


Đó là những người Digan mới. Cả đàn ông lẫn đàn bà đều còn trẻ, chỉ biết chính thứ tiếng mẹ đẻ của mình. Họ là những vật mẫu khả ái về nước da bóng mịn và bàn tay thông minh, mà những điệu nhảy và âm nhạc của họ gieo niềm vui ồn ào trên mọi nẻo đường làng. Họ mang theo những chú vẹt lông nhuộm đủ màu có thể ngâm những bài dân ca Ý; con gà mái đẻ trăm quả trứng vàng theo nhịp trống panđêrêta; con khỉ đã được dạy dỗ đoán điều anh đang suy nghĩ; cỗ máy vạn năng vừa đơm cúc vừa làm hạ cơn sốt; chiếc máy để quên những ký ức buồn hoặc dữ; lá cao để quên thời gian và hàng nghìn phát minh khác, tất cả đều rất khéo léo và kỳ thú đến mức Hôsê Accađiô Buênđya cũng muốn chế ra cái máy nhớ để có thể nhớ tất cả. Chỉ trong chốc lát, họ làm thay đổi cả xóm làng. Người dân Macônđô bỗng chốc bị lạc đường ở ngay chính quê hương mình, vì họ đang ngây ngất trước cái hội chợ phong phú này.


Dắt tay từng đứa trẻ để chúng khỏi bị lạc trong đám đông hỗn độn, đụng hoài phải những người làm trò ảo thuật có hàm răng mạ vàng và những người múa rối có sáu cánh tay, ngột ngạt trong mùi dầu hồi và mùi bạc hà do đám đông phả ra, Hôsê Accađiô Buênđya đi tìm Menkyađêt để ông ta giảng giải cho những bí mật không lường hết được của nỗi trăn trở huyễn hoặc ấy. Tìm mãi tìm mãi, cuối cùng ông cũng đến nơi Menkyađêt vẫn thường dựng lều, nhưng lại gặp một người Acmêni lầm lì nói tiếng Tây Ban Nha đang quảng cáo một thứ nước xirô có phép tàng hình. Ông ta uống đánh ực cốc nước pha hổ phách trong lúc Hôsê Accađiô Buênđya rẽ đám đông đang trố mắt xem để hỏi thăm Menkyađêt. Người Digan trố mắt nhìn ông, trước khi tàng hình vào một vũng nước hắc ín đặc sánh và nóng hổi, từ đó vọng lên câu trả lời, “Menkyađêt chết rồi." Hoảng hốt với cái tin dữ này, Hôsê Accađiô Buênđya chết lặng, cố vượt qua nỗi thống khổ, cho đến khi đám người xem bỏ đi theo lời mời chào của các trò ảo thuật khác, và vũng nước của người Acmêni đã hoàn toàn bay hơi. Sau đó mấy người Digan khác cũng khẳng định với ông rằng Menkyađêt đã chết vì sốt rét tại những cồn cát ở Xinhgapo và thi hài của ông ta đã được ném xuống vùng nước sâu nhất của biển Giava. Bọn trẻ không để ý đến tin này. Chúng nũng nịu đòi cha dẫn đi xem phát minh mới lạ của các nhà thông thái xứ Memphi, được quảng cáo ở ngay cửa ra vào của quán hàng, theo như lời đồn, nó thuộc về hoàng đế Xalômông. Chúng đòi ráo riết đến mức Hôsê Accađiô Buênđya phải trả ba mươi đồng rêan vào cửa, và dẫn các con mình tới giữa quán hàng, là nơi có một người khổng lồ thân thể lông lá có cái đầu cạo nhẵn, mũi đeo khuyên đồng, cổ chân đeo xiềng sắt nặng trịch, đang canh giữ một chiếc hòm bí mật. Khi người khổng lồ mở nắp, từ trong hòm phả ra một luồng hơi lạnh buốt. Trong hòm chỉ có một khối trong suốt với những lỗ nhỏ li ti mà khi ánh hoàng hôn chiếu vào bỗng lấp lánh đủ sắc màu như các vì sao. Lòng đầy hoang mang vì biết các con mình đang đợi một lời giải thích tức thì, Hôsê Accađiô Buênđya chỉ dám thầm thì nói:


- Đó là một viên kim cương lớn nhất thế giới.


- Không phải, - người Digan chữa lại, - đó là nước đá.


Không hiểu gì, Hôsê Accađiô Buênđya giơ tay định sờ vào, nhưng gã khổng lồ gạt phắt ra. "Muốn sờ nó, phải đưa thêm năm đồng rêan nữa!" Gã nói. Hôsê Accađiô Buênđya đưa năm đồng rêan rồi đặt bàn tay lên tảng nước đá. Ông giữ yên vài phút trong lúc tim đập dồn dập khi vừa lo sợ lại vừa thích thú được tiếp xúc với vật diệu kỳ này. Không biết nói gì hơn, ông móc túi trả thêm mười đồng nữa để các con cũng được sống cái cảm giác diệu huyền mà ông đang có. Cậu bé Hôsê Accađiô không dám sờ. Trái lại, Aurêlianô hùng hổ tiến lên một bước, đặt bàn tay vào nhưng lại rụt ngay ra. "Eo ơi, bỏng kinh," cậu hốt hoảng kêu. Nhưng cha cậu không để ý đến lời cậu. Đầy cảm kích trước sự hiển nhiên của vật kỳ ảo, ông quên béng sự thất bại của bao công việc viển vông của mình, quên béng cái tử thi Menkyađêt bị ném xuống biển làm mồi cho cá mực. Ông trả thêm năm đồng rêan nữa, rồi với bàn tay đặt trên tảng nước đá, như để trình bày một lời chứng trên Kinh Thánh, thốt lên:


- Đây là một phát minh lớn nhất của thời đại chúng ta.


Chương 2.


Khi tên cướp biển Phrăngxit Đrăc tấn công Riôacha ở thế kỷ XVI, bà tổ của Ucsula Igoaran đã quá kinh ngạc trước tiếng chuông nhà thờ inh ỏi đổ hồi và tiếng đại bác chát chúa nổ rền, đến mức quẫn trí ngồi vào một bếp than hồng. Những vết sẹo cháy đã khiến cụ trở thành một người vợ ăn bám suốt đời. Cụ chỉ có thể ngồi nghiêng một phía, dựa lưng trên những chiếc gối đệm, và đi đứng kỳ dị, bởi thế chẳng bao giờ cụ ra khỏi nhà, hoặc xuất hiện ở chỗ đông người. Cụ từ bỏ mọi sinh hoạt xã hội vì bị ám ảnh bởi cái ý nghĩ người mình phả ra mùi khét khó chịu. Ánh bình minh bắt gặp cụ ở ngoài sân. Cụ không dám ngủ bởi nằm mộng thấy bọn người Anh cùng với những con chó dữ tợn trèo qua cửa sổ phòng ngủ và làm cụ chết khiếp vì những cực hình ghê rợn bằng các thanh sắt nung đỏ. Chồng cụ, một thương nhân người vùng Aragông(1), đã có hai con với cụ, tiêu tốn một nửa cửa hàng để thuốc thang và mua vui cho vợ, ngõ hầu làm giảm bớt nỗi sợ hãi và bi quan của bà. Cuối cùng, ông bỏ nghề buôn, mang gia đình đi sống ở một miền xa biển, trong một xóm những người dân Anhđiêng hiền lành, tít sâu trong núi. Tại đây ông cụ đã làm cho vợ một phòng ngủ không cửa sổ để bọn cướp biển, trong những cơn ác mộng kia, không có lối nhảy vào.


Tại xóm vắng này, trước đó rất lâu có một nhà trồng thuốc lá người Âu, sinh ra trên châu Mỹ. Đó là Đông(1) Hôsê Accađiô Buênđya, là người mà cụ tổ Ucsula đã cùng thành lập một tổ hợp sản xuất, chỉ trong thời gian ngắn đã có vốn to. Vài thế kỷ sau, người cháu của ông tổ sinh ra trên châu Mỹ kết hôn với cô cháu gái của ông tổ Aragông. Vì thế, mỗi bận ra khỏi nhà theo tiếng gọi cuồng nhiệt của chồng, Ucsula đều nhớ lại những ngẫu nhiên xảy ra cách đây ba trăm năm, và nguyền rủa cái giờ mà tên cướp biển Phrăngxit Đrăc tấn công Riôacha. Đó là cách đơn giản để giải phiền, bởi trên thực tế họ đã gắn bó với nhau cho tới khi chết bởi mối liên hệ còn bền chặt hơn cả tình yêu: đó là nỗi dằn vặt lương tâm chung của cả hai. Là anh em họ nhau, cả hai cùng lớn lên trong một xóm cũ mà các bậc tiền bối của mình, bằng lao động và thuần phong mỹ tục, đã biến nó thành một cái làng tốt đẹp nhất trong số các làng thuộc tỉnh này. Mặc dù cuộc hôn nhân của họ đã thấy trước một cách hiển nhiên ngay khi chào đời, nhưng khi họ bộc lộ ý nguyện được lấy nhau thì cha mẹ hai bên đều đã định ngăn cản. Các cụ sợ rằng hai con người khỏe mạnh đó thuộc hai dòng họ đã có tình thâm giao hàng thế kỷ sẽ phải sống trong tủi hổ vì sinh ra những con kỳ đà. Trước họ đã có tấm gương tày liếp. Bà cô của Ucsula lấy ông chú của Hôsê Accađiô Buênđya, sinh ra một đứa con suốt đời mặc quần rộng thùng thình và chết vì bệnh chảy máu sau khi đã sống một cuộc đời bốn mươi hai tuổi luôn luôn trai tân, bởi vì y sinh ra và lớn lên với cái đuôi xoắn hình chiếc mở nút chai ở cuối có túm lông. Đó là một cái đuôi lợn mà y không bao giờ để cho bất kỳ người đàn bà nào nom thấy. Và y đã phải trả giá bằng cả cuộc đời mình khi một người làm nghề đồ tể dùng con dao phay chặt phắt cái đuôi lợn ấy đi. Hôsê Accađiô Buênđya, với sự thanh thản của tuổi mười tám đã giải quyết vấn đề này bằng một câu gọn lỏn: "Có đẻ ra lợn anh cũng cóc cần, miễn là biết nói." Thế là họ cưới nhau, với tiệc tùng kéo dài ba ngày liền, có pháo nổ và các ban nhạc giúp vui. Từ đó trở đi, bọn họ sẽ hạnh phúc biết bao nếu như bà mẹ Ucsula không đe dọa cô bằng tất cả những dị dạng đáng sợ của những đứa con sẽ sinh ra, đến mức cô không dám cho động phòng. Vì sợ người chồng vâm váp và ngang ngược sẽ cưỡng dâm khi mình ngủ, Ucsula, trước khi nằm lên giường đã mặc chiếc quần do bà mẹ may cho. Đó là chiếc quần vải gai được một hệ thống dây da chằng chéo làm cho bền hơn với chiếc khóa sắt to sụ đóng kín lại. Họ sống như vậy mấy tháng liền. Ban ngày, gã đi chăn dắt những chú gà chọi của mình, còn cô cùng mẹ ngồi thêu bên khung thêu. Ban đêm, cô phải chống cự đến vài giờ trước khát vọng cuồng nhiệt của chồng, mà việc ấy dường như được làm là để thay thế cho sự chung đụng xác thịt, cho tới khi linh cảm của dân chúng đánh hơi thấy có một cái gì không bình thường đang xảy ra, và họ liền tung tin đồn rằng Ucsula sau một năm cưới chồng vẫn tiếp tục trinh tiết là do chồng cô bất lực. Hôsê Accađiô Buênđya là kẻ biết tin đồn sau cùng.


- Ucsula này, mình thấy đấy, người ta đang đồn ầm lên, - anh bình tĩnh nói với vợ.


- Thây kệ họ, - cô nói, - chỉ cần chúng ta biết với nhau rằng điều đó là không đúng sự thực.


Vậy là vợ chồng họ cứ sống trong tình cảnh ấy khoảng sáu tháng nữa, cho đến một ngày chủ nhật bi thương, là ngày người chồng đã thắng Pruđênxiô Aghila một trận chọi gà. Giận dữ, điên tiết vì thấy máu con gà của mình, kẻ bị thua liền tách ra xa Hôsê Accađiô Buênđya để mọi người trong sới chọi gà có thể nghe được lời mình nói:


- Tao mừng cho mày, - anh ta gào, - để xem xem cuối cùng con gà ấy nó có làm ơn cho vợ mày không nào.


Hôsê Accađiô Buênđya nín thinh, ôm lấy gà mình. "Tôi sẽ trở lại ngay," anh nói với mọi người, sau đó anh nói với Pruđênxiô Aghila:


- Còn mày, liệu xác đấy, hãy về nhà và cầm lấy vũ khí đi, kẻo tao sẽ giết mày.


Mười phút sau anh trở lại với cây giáo sắc nhọn của ông nội mình. Ngay lối ra vào sới chọi, nơi có đến nửa làng đã tụ tập, Pruđênxiô Aghila đang đứng chờ. Anh ta không có thời gian để tự vệ. Cây giáo của Hôsê Accađiô Buênđya được phóng đi với sức mạnh của con bò tót và với đường bay chính xác của chính cây giáo do cụ Aurêlianô Buênđya Thứ nhất phóng đi từng kết liễu những con hổ trong vùng, đã xuyên qua cổ họng Pruđênxiô Aghila. Đêm ấy, trong lúc mọi người đang viếng tử thi ở sới chọi gà thì Hôsê Accađiô Buênđya bước vào phòng ngủ, giữa lúc vợ mình đang mặc chiếc quần trinh tiết. Huơ huơ cây giáo trước mặt cô, anh ra lệnh: "Hãy cởi thứ đó ra." Ucsula không chút nghi ngờ quyết định của chồng. "Mình sẽ phải chịu trách nhiệm về điều vừa xảy ra," cô rền rĩ nói. Hôsê Accađiô Buênđya cắm phập ngọn giáo xuống nền nhà, gằn giọng:


-                 Nếu đẻ ra kỳ đà thì chúng ta sẽ nuôi kỳ đà, nhưng trong cái làng này sẽ không có thêm ai chết vì tội lỗi của chúng ta.


(còn tiếp)


Nguồn: Trăm năm cô đơn. Tiểu thuyết của GABRIEL GARCÍA MÁRQUEZ (Nobel Văn chương 1982). Nguyễn Trung Đức, Phạm Đình Lợi, Nguyễn Quốc Dũng dịch. Nguyễn Trung Đức giới thiệu. Dịch từ nguyên bản tiếng Tây Ban Nha Cien años de soledad do Viện Sách Cuba xuất bản tại La Habana, năm 1968. Theo bản sửa chữa cuối cùng của cố dịch giả Nguyễn Trung Đức, tháng 9-2000. NXB Văn học đang chuẩn bị tái bản, Tủ sách danh tác Thế giới.


www.trieuxuan.info


 







1. Biển Egiê là một phần của Địa Trung Hải, nằm giữa bán đảo Bancăng và Anatôli.




2.  Cảng Xalônich thuộc Hy Lạp trong vịnh vùng tên được biển Egiê tạo nên, là một trung tâm công nghiệp quan trọng.




3.  Memphi, thuộc Hoa Kỳ, một trung tâm công nghiệp nằm trên bờ sông Misisipi.




1.  Một vùng ở phía Tây Bắc nước Tây Ban Nha.




1.  Tiếng tôn xưng: ngài, ông…



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 12.12.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 06.12.2018
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 06.12.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 05.12.2018
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 03.12.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 28.11.2018
Số đỏ - Vũ Trọng Phụng 28.11.2018
Bến không chồng - Dương Hướng 08.11.2018
Trở lại cố hương - Thomas Hardy 07.11.2018
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 02.11.2018
xem thêm »