tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23990703
Lý luận phê bình văn học
30.09.2011
Bùi Ngọc Minh
Về bài Cháu bé trong ngục Tân Dương của Hồ Chí Minh

1.Phiên âm chữ Hán:


Tân Dương ngục trung hài (1)


                             22 – 11


Oa…! Oa…! Oa…!


Gia phạ đương binh cứu quốc gia;


Sở dĩ ngã niên tài bán tuế,


Yếu đáo ngục trung căn trước ma.


Dịch nghĩa:


Cháu bé trong ngục Tân Dương


                                22 – 11


Oa…! Oa…Oa…!


Cha sợ vào lính cứu nước nhà;


Cho nên em vừa được nửa tuổi,


Đã phải vào nhà tù cùng mẹ.


Dịch thơ:


Oa…! Oa…! Oa…!


Cha sợ xung quân cứu nước nhà;


Nên nỗi thân em vừa nửa tuổi,


Phải theo mẹ đến ở nhà pha.


                           (Nam Trân dịch)


    Chú thích số 40 (Suy nghĩ mới về Nhật kí trong tù) viết: Tân Dương: tên huyện, thuộc tỉnh Quảng Tây, một địa điểm trên đường bộ từ Nam Ninh đi Quế Lâm. Cũng như bài Gia quyến trưng binh, bài này mượn lời một cháu nhỏ để châm biếm lối bắt lính của chính quyền tưởng Giới Thạch. Vì không bắt được chồng vào lính, họ đã bỏ tù người vợ cùng với con nhỏ.(2). Phải chăng ý nghĩa của bài thơ chỉ có thế?


2. Người viết bài này đã thuộc nằm lòng bài thơ qua bản dịch Nhật kí trong tù vào giữa thập kỉ 60 của thế kỉ trước, khi còn là một cậu bé thò lò mũi xanh, chân đất quần nâu giải rút vai mang túi rết tới trường làng, do có ông cậu họ làm ở phòng văn hóa huyện đem cho:


Oa…! Oa…! Oa…!


Cha trốn không đi lính nước nhà;


Nên tội thân em vừa nửa tuổi,


Đã phải theo mẹ đến nhà pha.


          Một số câu chữ trong bản dịch thơ mới có thay đổi cho phù hợp hơn với nguyên tác chữ Hán. Chữ trốn được thay bằng chữ sợ (phạ ) cho thấy, chí ít  là trên mặt các con chữ tình trạng pháp luật bán khai mông muội của xã hội Trung Quốc thời kì Tưởng Giới Thạch. Đó là quán tính của lối hành xử dã man: một người bị khép vào trọng tội đại hình thì cả gia tộc cùng phải chịu (chu di tam tộc, chu di cửu tộc) từ thời phong kiến chuyên chế ở cả Trung Quốc và Việt Nam. Nó còn rơi rớt lại trong lối hành xử đầy định kiến vô lí đến tàn nhẫn về thành phần xuất thân, chủ nghĩa lí lịch của một thời chưa xa lắm ở cả nước Tàu và xứ ta. Lối hành xử mà nay chỉ còn thấy phổ biến trong thế giới ngầm, trong xã hội đen, trong lũ maphia. (Thân phụ của người viết khi còn sống có kể lại tâm lí nơm nớp sợ hãi có thể bị bắt bất cứ lúc nào, khi tham gia cải cách ruộng đất ở Hải Dương, vì  thân phụ của người là đồ Nho, bá phụ là trương tuần, một thúc phụ là lí mua, một thúc phụ khác vừa là đồ Nho, (thầy dạy chữ Hán cho người), vừa làm chánh xã, anh đông tông người là chánh tổng). Luật pháp văn minh hiện đại chỉ khép tội khi có đầy đủ các yếu tố cấu thành hành vi phạm tội và hành động phạm tội đã diễn ra; chỉ  bỏ tù kẻ phạm tội, chứ vợ con gia đình, thân nhân của người phạm tội thì vô can. Ai phạm tội người ấy phải chịu. Ở đây lại bắt vợ  người mới sợ đi lính, tức hành vi phạm tội chưa xảy ra, mới chỉ có trong ý nghĩ, đặc biệt lại bắt một cháu bé 06 tháng tuổi đi tù thay cha. Quả là dã man. Có lẽ đấy là ý nghĩa khách quan mà bài thơ mang  lại vì đây là cuốn nhật kí bằng thơ mà Hồ Chí Minh viết cho riêng mình.


     Điều cứ ánh ảnh tôi mãi là tại sao trong một bài thơ chữ Hán, câu mở đầu lại không dùng kí tự tượng hình mà lại dùng kí tự phiên âm la tinh: Oa…! Oa…!...Oa…!. Đây là lần duy nhất có hiện tượng này. Trong tập thơ còn đôi lần tác giả tập thơ dùng tiếng Anh song đã phiên âm sang tiếng Hán (Ngục đinh thiết ngã chi sĩ – đích (Lính ngục đánh cắp mất chiếc gậy của ta, sĩ – đích là phiên âm tiếng Anh của chiếc gậy:stick), hay ma – đăng trong câu thơ: Nhà lao xây dựng kiểu tân thời, ma- đăng  là phiên âm của từ tiếng Anh modern) . Có người cho là thủ pháp giễu nhại: Lối nhại lại khiến bài thơ Cháu bé trong ngục Tân Dương chẳng những mở đầu bằng những âm “Oa…! Oa…! Oa…!” trong bản dịch, mà còn giữ nguyên dạng ở kênh hình (Chữ Latinh ở bản chữ Hán và tất nhiên ở phiên âm Hán - Việt). Quả đó là một hiện tượng đặc biệt nói lên biện pháp nhại lại được ý thức rất rõ (3). Câu mở đầu bài thơ này, rõ ràng không thuộc thủ pháp giễu nhại, bởi thủ pháp giễu nhại thường đem lại cho người đọc tiếng cười với ý nghĩa hài hước, phê phán. Thi phẩm này tuyệt nhiên không có chủ đích gây cười, nếu có chỉ là do bản thân sự thật vốn hài hước mà thôi. Cái tình sâu đậm của bài thơ là đồng cảm, xót thương cho người vợ, đặc biệt là. Sắc điệu thẩm mĩ này khởi lên từ câu thơ mở bài độc đáo: Oa…! Oa…! Oa…!. Ngẫm cho kĩ, chữ Hán thuộc một hệ hình văn hóa khác với hệ hình văn hóa của thứ chữ phiên âm Latinh. Là thứ chữ tượng hình nên khi tiếp nhận một bài thơ chữ Hán người tiếp nhận không chỉ nghe mà phải nhìn mới thấy hết cái hay sự thú vị của thi phẩm, bởi từ khởi thủy mỗi bộ chữ Hán đều mang quan niệm triết học, nhân sinh của những người sáng tạo ra nó. Người đọc chỉ có thể thấy được xác chữ mà không thấy được hồn chữ, không thấy được sự hay chữ của bài thơ nếu không am hiểu chữ Hán, nếu chỉ đọc thơ qua bản dịch. Chiết tự (4) sau đây cũng  trong tập Nhật ký trong tù là một ví dụ:


Phiên âm:


Tù nhân xuất khứ hoặc vi quốc,


Hoạn quá đầu thời thủy kiến trung:


Nhân hữu ưu sầu ưu điểm đại,


Lung khai trúc sản, xuất chân long.


Dịch nghĩa:


Người tù ra khỏi ngục, có khi dựng nên đất nước,


Qua cơn hoạn nạn mới rõ người trung;


Người biết lo âu, ưu điểm lớn,


Nhà lao mở then cửa trúc, rồng thật sẽ bay ra.


Dịch thơ:


Người thoát khỏi tù ra dựng nước,


Qua cơn hoạn nạn, rõ lòng ngay;


Người biết lo âu, ưu điểm lớn,


Nhà lao mở cửa ắt rồng bay.


                     (Nam Trân dịch)


Đây là bài thơ chơi chữ, bẻ chữ nghĩa đen như sau: Câu 1: chữ () bỏ chữ nhân (), cho chữ hoặc () vào thành chữ quốc (): Câu 2: Chữ hoạn () với nghĩa là hoạn nạn trên là chữ xuyến () bỏ đi một chữ trung () thành chữ trung () với nghĩa là trung trong chữ trung thành; câu 3 thêm bộ nhân đứng () vào chữ ưu () trong chữ ưu sầu thành chữ ưu () trong chữ  ưu điểm; câu 4: chữ lung () với nghĩa là cái lồng (nhà ngục) bỏ bộ trúc ở đầu () thành chữ long có nghĩa là rồng (). Dường như, bài thơ này còn gợi lại ít nhiều truyền thống về thơ khẩu khí của người xưa.


  Câu thơ ta đang bàn lại phiên âm tiếng khóc. Nó không hề giữ nguyên dạng kênh hình như ba câu sau của bài thơ, nó chỉ có âm thanh mà thôi. Ba câu thơ cuối của bài thơ thuộc hệ hình văn hóa nghe đọc nhìn. Còn câu đầu chỉ cần nghe đọc, không cần nhìn, người tiếp nhận vẫn có thể hiểu được. Không chỉ người biết chữ Hán mà cả người không biết chữ Hán vẫn hiểu và chỉ có thể hiểu đó là tiếng khóc của trẻ thơ. Tiếng khóc của trẻ thơ ở mọi ngôn ngữ không cần chuyển ngữ, không cần phiên dịch. Trong tập thơ, còn có bài Bán dạ văn khốc phu (Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng) (5):


Phiên âm


Ô hô phu quân hề phu quân!


Hà cớ phu quân cự khí trần?


Sử thiếp tòng kim hà xứ kiến,


Thập phần tân hợp ý đầu nhân.


Dịch nghĩa:


Than ôi ! Hỡi chàng ơi!


Cớ sao chàng vội lìa bỏ cõi đời?


 Khiến cho thiếp từ nay biết tìm đâu thấy,


Người bạn đời mười phần tâm đầu ý hợp!


Dịch thơ:


Hỡi ôi, chàng hỡi, hỡi chàng ơi !


Cơ sự vì sao vội lánh đời ?


Để thiếp từ nay đâu thấy được,


Con người tâm ý hợp mười mươi.


                   (Nguyễn Sĩ Lâm dịch.)


Cũng là tiếng khóc đau đớn nhưng khác với tiếng khóc của cháu bé trong ngục Tân Dương, bởi không ghi âm, phục hiện nguyên dạng, nguyên trạng âm thanh tiếng khóc như bài thơ ta đang bàn.  Phải chăng còn có một lí do nào khác ?.


          Còn nhớ, Cung oán ngâm khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều có đoạn viết về tiếng khóc như sau:    


     Thảo nào khi mới chôn nhau
     Ðã mang tiếng khóc ban đầu mà ra !
     Khóc vì nỗi thiết tha sự thế
     Ai bày trò bãi bể nương dâu
     Trắng răng đến thuở bạc đầu
     Tử sinh kinh cụ làm nau mấy lần
     Cuộc thành bại hầu cằn mái tóc
     Lớp cùng thông như đúc buồng gan
     Bệnh trần đòi đoạn tâm toan
     Lửa cơ đốt ruột dao hàn cắt da
     Gót danh lợi bùn pha sắc xám
     Mặt phong trần nắng rám mùi dâu
     Nghĩ thân phù thế mà đau
     Bọt trong bể khổ bèo đầu bến mê
     Mùi tục vị lưỡi tê tân khổ
     Ðường thế đồ gót rỗ kỳ khu
     Sóng cồn cửa bể nhấp nhô
     Chiếc thuyền bào ảnh lô xô mặt ghềnh
     Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán
     Chết đuối người trên cạn mà chơi
     Lò cừ nung nấu sự đời
     Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương.


     Từ tiếng khóc chào đời của một hài nhi, thi nhân đã nghe thấy tiếng than, thấy âm thanh ai oán của con người trần thế. Đó là tiếng khóc được nâng lên tầm triết luận về nỗi đau của kiếp làm người, Nguyễn Du trong Văn tế thập loại chúng sinh từng thổn thức trước tiếng khóc của trẻ sơ sinh dưới cõi âm mà cũng là trên dương thế:


Lại những kẻ tiểu nhi tấm bé


Lỗi giờ sinh, lìa mẹ lìa cha


Lấy ai bồng bế vào ra


Hu hơ tiếng khóc, xót xa nỗi lòng.


   Trong truyện ngắn Một con người ra đời, nhà văn Nga Xô-viết có mô tả tiếng khóc của một cậu bé vừa chào đời trong sự đói khát thiếu thốn cùng khổ của người mẹ, trước biển cả, sinh linh nhỏ bé đã gào toáng lên  i-a… i-a… (Trong tiếng Nga âm thanh mà chú bé vừa chào đời phát ra còn có nghĩa là đại từ số ít  chỉ người ở ngôi thứ nhất, tương đương với tôi, ta, tao… của tiếng Việt).  Trong tiếng khóc ấy nhà văn của  tư tưởng nhân văn cao đẹp: không được sỉ nhục và lăng mạ Con Người, Con Người, hai tiếng ấy vang lên đầy tự hào và kiêu hãnh, nhà văn có bút danh Cay Đắng đã nghe thấy tiếng nói kì diệu của khát vọng tự khẳng định mình của một con người trong hoàn cảnh sống đương thời thù địch với con người.


    Với những trẻ nhỏ, khi còn trong vòng bú mướm, miệng ăn thì có miệng nói thì chưa. Thấu hiểu được tiếng khóc của chúng chính là hiểu được cuộc sống của chúng. Hóa ra, mỗi thi nhân, mỗi nhà nhân văn lớn có một cách nghe, một cách suy tư, cách giải mã  tiếng khóc của trẻ thơ, nỗi khổ đau của con người, kiếp người.


       Tôi đã đọc không ít lắm những  cuốn sách kể những mẩu chuyện về cuộc sống cuả chủ tịch Hồ Chí Minh, một trong những ấn tượng sâu sắc nhất là mẩu chuyện sau đây:


     Trong thời kì kháng chiến chống Pháp, ở chiến khu Việt Bắc, một đêm đông rét buốt, bỗng có tiếng khóc Oa…! Oa…! Oa…! của một cháu bé, con của một gia đình nào đó trong những đồng chí của Bác Hồ; lúc ấy Bác vẫn đang làm việc, người dừng lại nói với một đồng chí cảnh vệ của mình:


      - Chú đi xem cháu bé vì sao lại khóc thế. Ngày còn nhỏ, khi ở Huế, cha và anh bác đi vắng (cụ Nguyễn Sinh Sắc thân phụ Bác đi làm quan giam khảo ở Thanh Hóa, ông Nguyên Sinh Khiêm, anh trai Bác được đi theo), mẹ bác (Cụ Hoàng Thị Loan) sinh em bé (Nguyễn Sinh Xin), không may được ít lâu thì bà cụ qua đời, bác phải một mình nuôi em, lúc nó khát sữa cũng thường khóc như vậy.


   Thì ra trong câu thơ kia có cả ám ảnh về tiếng khóc của người em út Bác Hồ không may thiệt phận khi còn tấm bé. Thì ra, nhân loại khác nhau về màu da, về văn hóa tín ngưỡng về ngôn ngữ… nhưng khi chào đời, lúc chưa biết nói thì tiếng  khóc đều giống nhau: Oa…! Oa…! Oa…! . Hiểu được tiếng khóc của trẻ thơ khi chưa biết nói chính là tình thương thiết thực cụ thể, chính là lòng tốt bình thường mà trẻ em, mà nhân loại, nhất là đa số nhân loại cần lao rất cần trên thế giới này. Ta cũng hiểu vì sao Bác có những câu thơ :


Trẻ em như búp trên cành


Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan.


 


 Trung thu trăng sáng như gương


Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng…


       Và trong Di chúc Người viết: Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thương yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.


  Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên nhi đồng quốc tế. (6).


          Tôi bỗng ngộ ra điều hệ trọng này: một người trên đường đi tìm đường để nước ta được độc lập, dân ta được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành, một người từng đi nhiều nơi trên thế giới (Á, Âu, Phi, Mĩ), một người từng sử dụng thông thạo nhiều  tiếng nước ngoài (Anh, Nga, Pháp, Trung…), từng dùng tới 105 bí danh, bút danh…mới có được cái nghe, sự thấu hiểu tiếng khóc của trẻ thơ đến vậy. Nhân loại rất cần tình thương thiết thực cụ thể., cần sự thấu hiểu và đồng cảm.


            Viết tới đây, tôi bỗng nhớ tới một kỉ niệm riêng tư. Đó là vào đầu thập kỉ 80 của thế kỉ trước, khi ấy tôi đang dạy học ở trường Cao đẳng sư phạm Tây Bắc (Thuận Châu Sơn La), trong một bữa rượu tại nhà cô bạn gái, mà hiện là người bạn đời của tôi, thân phụ cô cũng tức là nhạc phụ của tôi sau đó vài năm, có khuyên tôi  một câu:


       - Muốn thành người tử tế, phải hiểu được tiếng thở dài của người già trong những đêm mất ngủ và hiểu được tiếng khóc của trẻ thơ khi nó chưa biết nói.


       Đến nay, đã vào cái tuổi tri thiên mệnh, tôi vẫn chưa thể hiểu hết được tiếng thở dài của người già và tiếng khóc Oa…! Oa… Oa…! của trẻ thơ.  Ai giúp tôi giải mã được điều giản dị mà vô cùng sâu xa này ?


      Để hiểu một bài thơ, những kiến thức cổ kim đông tây là rất cần thiết, nhưng nếu thiếu sự nghiệm sinh về đời sống, thiếu một tấm lòng thì mớ kiến thức kia cũng khó có  thể giúp người ta cảm nhận được tình đời tình người thẳm sâu và lung linh, huyền diệu ẩn chứa trong đó.


3.Trên thế giới ngày nay, khi một thiểu số rất ít người giả danh những gì là cao cả tốt đẹp   phè phỡn hưởng mọi thứ trên sự thống khổ của số đông nhân loại cần lao, khi sự giàu có của một thiểu số rất ít người lại dựa trên sự cùng khổ của số đông người lao động chân chính, khi sự vô cảm và nhẫn tâm với con người đang có xu hướng gia tăng,  khi những nhà khoa học kĩ thuật vô lương tâm vẫn  miệt mài trí lực nghiên cứu để cải tiến những quả tên lửa đạn đạo, những quả bom hạt nhân có giá hàng triệu đô la, hòng hoàn thiện kĩ nghệ giết người hàng loạt, để tiền bạc chảy ngày càng nhiều hơn vào túi bọn lái súng quốc tế,  khi những đồng loại của chúng ta ở vùng sừng châu Phi đang đứng trước thảm họa chết vì đói khát và bệnh dịch, khi những đồng bào, trẻ em của chúng ta ở Tây Nguyên, Ở Quảng Bình vẫn phải leo dây, mình trần bơi qua sông qua đi làm đi học, khi một cô giáo mầm non ở vùng sâu xa thuộc miền núi Thanh Hóa chỉ được trả 430.000 VN đồng một tháng, khi tham nhũng đã trở thành quốc nạn, khi một số ít người ngày ngày vẫn ăn sáng với bát phở 750.000 VN đồng, khi một con mèo được chủ nhân của nó cho ngủ đêm tại một khách sạn ở Hà Nội với giá 500.000 VN đồng…, thì cần lắm, cần lắm sự đồng cảm thấu hiểu, xót thương trước tiếng khóc Oa…! Oa…! Oa…! Hỡi những người còn có lương tri.


 


                                                                 Vân Giang, 23h 06,ngày 25 tháng 09 năm 2011


                                                                                         B.N.M


 


________


(1): Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù, NXB Giáo dục, năm 1993, trang 476.


(2): Suy nghĩ mới về Nhật kí trong tù, NXB Giáo dục, năm 1993, trang 588.


(3): Sức sống của thi từ, Sđd, trang 225-233.


(4): Chiết tự, Sđd trang 455.


(5): Dạ bán văn khốc phu, Sđd  trang 431-432.


(6): Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, BCHTW Đảng cộng sản Việt Nam xuất bản. tháng 9 năm 1989, trang 15.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đến với bài thơ… cực hay của Nguyễn Quang Thiều - Phạm Lưu Vũ 20.09.2018
Vũ Hoàng Chương – Lạc loài trong cõi nhân sinh - Đỗ Trường Leipzig 16.09.2018
Thái độ của Nguyễn Công Trứ đối với Triều Nguyễn qua sáng tác văn học - Nguyễn Phạm Hùng 14.09.2018
Dấu ấn ngữ âm lịch sử trong thơ Nguyễn Bính trước 1945 - Đặng Thị Thu Hà 13.09.2018
Lại chuyện đánh vần - Nguyễn Văn Dân 09.09.2018
"Truyện Kiều" và biệt tài sử dụng thành ngữ của Nguyễn Du - Vương Trọng 09.09.2018
Nguyễn Bính, nhà thơ tình xuất sắc Việt Nam thế kỷ XX - Đỗ Đình Thọ 09.09.2018
Nguyễn bính và và con đường trở thành “Người của ngày mai” - Đoàn Trọng Huy 04.09.2018
Nam Bộ trong đời thơ Nguyễn Bính - Võ Văn Nhơn 04.09.2018
Những bất hợp lý trong đề xuất cải tiến chữ Quốc ngữ của PGS.TS Bùi Hiền - Nguyễn Văn Hiệp 03.09.2018
xem thêm »