tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29445104
Lý luận phê bình văn học
22.08.2011
Nguyễn Hữu Sơn
Tâm thức Thăng Long – Hà Nội trên tiến trình nghìn năm văn học dân tộc

Trải qua bao cuộc phế hưng, chủ nhân của các tác phẩm thương nhớ Thăng Long – Hà Nội vốn thuộc nhiều thành phần, tầng lớp khác nhau. Ở đây có những tác gia thuộc thời dựng nước Lý – Trần, có những văn nhân là người đương thời, đang cùng chúng ta tiến vào ngày kỷ niệm ngàn năm Thăng Long – Hà Nội. Trong số đó, nhiều người là vua chúa, quan cao chức trọng; nhiều người thuộc tầng lớp bình dân, chúng dân, ẩn sĩ. Chiếm phần đông là những người sinh sống giữa nơi đô thàn ở giữa Thăng Long mà nhớ Thăng Long. Nhiều người sinh ra ở chốn kinh kỳ nhưng rồi lưu lạc bốn phương, trong một sớm một chiều chợt nhớ Thăng Long – Hà Nội rồi cất lên tiếng ca để muôn năm còn lưu luyến. Có người một lần đi ngang qua miền kinh đô dâu bể bỗng chạnh lòng yêu nhớ mà để lại những thiên du ký khắc khoải với muôn đời. Lại có những người mang gánh nợ kinh thành sống giữa xứ người dặm ngàn cách biệt, trong từng đêm dài vẫn thao thức mơ về núi Nùng sông Nhị cõi trời Nam. Bao nhiêu đời người, bao nhiêu cảnh ngộ là bấy nhiêu kỷ niệm, bấy nhiêu tâm sự, bấy nhiêu niềm thương nỗi nhớ.


Từ rất sớm, chủ điểm phản ánh niềm thương nhớ đất Thăng Long – Hà Nội đã tỏa rộng với nhiều loại hình nghệ thuật, nhiều thể tài, thể loại khác biệt nhau. Khởi nguồn là những tác phẩm văn học dân gian, những bài ca viết về Kẻ Chợ, về con người Tràng An thanh lịc về cảnh quan ba sáu phố phường. Nối tiếp sau là những tranh Hàng Trống và sự lên ngôi của các thể loại văn học dưới thời trung đại, bao gồm thơ, phú, văn bia, ghi chép, truyện ký, truyền kỳ… Bước sang thế kỷ XX, thơ ca viết về Hà Nội ngày càng rộng mở các cung bậc tình cảm, phong phú về đề tài, đa dạng về hình thức. Đặc biệt mảng văn xuôi cũng phát triển với đủ các thể loại, thể tài hồi ức, hồi ký, kỷ niệm, thi ca, tản văn, tùy bút, ghi chép, du ký... Phải thừa nhận rằng, trong những thành tựu chung của các ngành văn hóa nghệ thuật in dấu tâm thức hướng về Thăng Long – Hà Nội, các sáng tác văn chương giữ một vị trí nổi trội…


Tiếp nhận dòng cảm hứng nghệ thuật Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long (Huỳnh Văn Nghệ), chúng ta có thể khai thác từ nhiều góc độ, phương diện khác nhau. Trước hết, có thể quan sát từ điểm nhìn văn học sử, sắp xếp các tác phẩm theo hai thời kỳ: trung đại (từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX) và hiện đại (từ thế kỷ XX đến nay). Tuy nhiên, để tiện cho việc trình bày, phân tích và theo dõi vấn đề, chúng tôi sẽ lược qui theo hai bình diện loại hình thể loại văn chương tiêu biểu (thi ca và văn xuôi) và giới hạn phạm vi ở nền văn học trung đại(1).


Đối với người Việt Nam, thi ca vốn được ưa chuộng từ lâu đời, được coi trọng và có nhiều tác phẩm sáng giá. Thi ca vốn là tiếng nói trữ tìn do đó càng phù hợp với dòng cảm hứng đề vịn thương nhớ Thăng Long – Hà Nội. Không thể nói khác hơn, nhân vật trữ tình và cũng là đối tượng chủ yếu của dòng thơ thương nhớ miền đất kinh kỳ chính là con người và mối quan hệ giữa người với người. Điều khác biệt trước hết ở đây là mối quan hệ tình người thực sự có ý nghĩa kết tinh đạo lý và văn hóa dân tộc, nâng vị thế mỗi con người cụ thể lên tầm vóc danh nhân tiêu biểu của đất nước. Đó là thơ Nguyễn Trãi tặng Cúc Pha Nguyễn Mộng Tuân; ngược lại là nỗi nhớ của Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tấn, Phan Phu Tiên về Nguyễn Trãi; thơ Nguyễn Bảo tiễn biệt Ngô Sĩ Liên về quê hưu trí… Mở rộng và đại chúng hơn là nỗi nhớ về những con người đời thường, những chủ nhân ông của Hà thàn bộc lộ qua tâm sự của Nguyễn Du về cuộc đời người ca nữ, Nguyễn Công Trứ khách thể hóa hình ảnh tửu đồ và mỹ nhân trong hát nói…


Suốt dọc dài thời gian, ký ức kinh thành thường gắn với các địa danh lịch sử, danh thắng như Văn Miếu Quốc Tử Giám, chùa Diên Hựu, tháp Báo Thiên, đền Trấn Võ, bến Chương Dương, Hồ Tây, Hồ Gươm… Âm hưởng hồn thiêng Thăng Long – Hà Nội một thời giáo mác, một thời chiến trận hào hùng gắn với tên tuổi Lý Thường Kiệt, Tạ Thiên Huân, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huy Lượng… Xin dẫn bài thơ Quá Phù Đổng độ (Qua bến đò Phù Đổng) của Tạ Thiên Huân (thế kỷ XIII-XIV) với tất cả những ngậm ngùi thế sự khi vọng tưởng câu chuyện thần thoại ngàn năm xưa:


 


Thiết mã tê hàn vạn lý thu,


 


Đương niên sự nghiệp phó đông lưu.


 


Nguyệt minh bất quản hưng vong sự,


 


Độc chiếu hành nhân cổ độ đầu.


(Ngựa sắt hí rợn người trong muôn dặm hơi thu,


Sự nghiệp năm ấy phó cho dòng nước chảy về đông.


Vầng trăng sáng dửng dưng trước sự hưng phế,


Chỉ soi khách đi đường trên bến đò xưa)


Nhận diện con người Thăng Long, hãy xem cái cách Nguyễn Mộng Tuân cảm phục, trân trọng tài năng và cốt cách Nguyễn Trãi qua bài thơ Tặng Gián nghị đại phu Nguyễn công (Tặng quan Gián nghị đại phu họ Nguyễn):


Hoàng các thanh phong ngọc thự tiên,


Kinh bang hoa quốc cổ vô tiền.


Nhất thời tư hãn suy văn bá,


Lưỡng đạo quân dân ác chính quyền.


Bạch phát chỉ nhân thiên hạ lự,


Thanh trung lưu dữ tử tôn truyền.


Nho lâm kỷ hứa chiêm Sơn Đẩu,


Hảo vị triều đình lực tiến hiền.


(Ngồi trong gác vàng, dáng thanh như ông tiên


trong lầu ngọc,


Giúp rập cho đời, làm rạng rỡ cho nước,


   từ xưa chưa ai được như thế.


Nổi tiếng đàn an từng đem văn chương múa bút một thời,


Nắm quyền chính sự, nay lại phụ trách hai đạo quân dân.


Tóc tuy đã bạc mà vẫn luôn luôn lo lắng cho việc đời,


Lòng vẫn trong trắng, ngay thẳng mong


truyền lại cho con cháu.


Các bạn làng Nho một mực xem ông như Thái Sơn, Bắc Đẩu,


Vậy nên ông vì triều đình ra sức giới thiệu kẻ hiền tài)


Những chiến thắng vang dội trong các cuộc đối đầu với giặc ngoại xâm không chỉ góp phần ổn định biên cương, giữ vững nền độc lập dân tộc mà còn khởi phát ý thức con người cá nhân, nâng tầm tư tưởng và cổ vũ sức mạnh tinh thần cho cả cộng đồng. Điều này khiến cho ngay cả nữ sĩ Hồ Xuân Hương vốn thường nhạy cảm với những đề tài bỡn cợt thâm thúy cũng trở nên mạnh mẽ, hào sảng:


Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo,


Kìa đền Thái thú đứng cheo leo.


Ví đây đổi phận làm trai được,


Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu.


(Đề đền Sầm Nghi Đống)


Khác với nhiều giai đoạn trước đây, vùng văn học Hà Nội thế kỷ XIX dường như mất dần vị trí trung tâm, nơi từng đóng vai trò thu hút, qui tụ tài năng văn nhân bốn phương… Điều này có lý do bởi sau thời “vua Lê chúa Trịnh” kéo dài, kinh đô đóng vai trò trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá của nhà nước phong kiến đã chính thức chuyển vào Huế. Kinh kỳ Đông Đô - Thăng Long phồn hoa ngày nào bây giờ chỉ còn là một tỉnh thàn một “cựu đế kinh” khiến tấm lòng thi nhân như Nguyễn Du bàng hoàng hoài niệm:


Thiên niên cự thất thành quan đạo,


Nhất phiến tân thành một cố cung.


(Những ngôi nhà lớn nghìn xưa nay thành đường cái quan,


Một toà thành mới xoá đi cung điện cũ)


                                          (Thăng Long, I)


Quang cảnh đổi thay khiến Bà Huyện Thanh Quan cũng bâng khuâng, man mác, ngỡ ngàng, tê tái:


- Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu,


Khách qua đường dễ chạnh niềm đau.


                    (Chùa Trấn Bắc)


- Tạo hoá gây chi cuộc hí trường,


 Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương.


 Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,


 Lầu cũ lâu đài bóng tịch dương…


                             (Thăng Long hoài cổ)


Khi Thăng Long trở thành “cựu đế kinh” thì học phong Thăng Long cũng theo đó mất dần vai trò chủ đạo. Mức độ phát triển các ngành nghệ thuật như kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ chững hẳn lại so với thời Lê - Trịnh. Sau gần một thế kỷ mất đi địa vị trung tâm, Thăng Long lại là miền đất nằm ở chặng cuối bị giặc Pháp thôn tín so với việc quân Pháp chính thức khai hỏa đánh vào cửa biển Đà Nẵng (1858) và việc đánh chiếm các tỉnh miền Đông và Tây Nam Bộ đã thức tỉnh cả một nền văn học yêu nước thì dòng văn thơ trong cao trào chống Pháp ở Hà Nội lại phát triển trong một hoàn cảnh mới. Vào thời kỳ sau này, vấn đề “chủ hoà, chủ chiến” không còn đặt ra nữa, thậm chí các nghĩa sĩ ngày càng cảm thấy việc chiến thắng giặc Tây là điều hầu như không thể. Đồng thời với các sự kiện Nguyễn Tri Phương hy sinh cùng thành Hà Nội thất thủ lần thứ nhất (1873) và Hoàng Diệu tử tiết theo sự kiện thành Hà Nội thất thủ lần thứ hai (1882), mặc dù ý thức chống Pháp vẫn được duy trì nhưng tâm lý thất bại, tâm trạng bi phẫn “sinh bất phùng thời”, “anh hùng di hận”, “tự phận ca” đã ngày càng trở nên rõ nét(2). Mặt khác, không chỉ nằm ở giai đoạn vĩ thanh của cuộc chiến chống Pháp xâm lược, văn thơ thương nhớ Hà Nội nửa cuối thế kỷ XIX cũng lại thuộc về đoạn chót cuối của nền văn học truyền thống, nền văn học phát triển trong quĩ đạo phong kiến, trong khi đó tại miền Nam đã manh nha xuất hiện dòng văn học chữ Quốc ngữ mang đặc trưng thời thực dân nửa phong kiến.


Nhìn từ một phía khác, có thể thấy tiến trình văn học luôn luôn là quá trình tiếp nối, phát triển những đặc điểm và giá trị quá khứ. Một trong những tác gia điển hình cho bước chuyển giao đó là Cao Bá Quát (1808-1855), người làng Phú Thị (nay thuộc huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội). Ông có khá nhiều bài thơ viết về quê hương, về cảnh đẹp Hồ Tây, đề vịnh danh thắng Hà Nội và nỗi nhớ gia đìn bè bạn. Mới xét qua về hình thức thì thấy hầu hết các bài thơ của Cao Bá Quát đều xuất hiện các câu nghi vấn và phản vấn như thùy, kỷ, hà, vị khởi, nại hà, an đắc… Có thể nói thơ Cao Bá Quát là cả một trời những câu hỏi, những vấn nạn đặt cho cá nhân ông, cho thế hệ ông, cho thời đại ông và cho muôn vạn chúng sinh làm kiếp con người. Không bằng lòng, không chấp nhận và cũng không chịu thỏa hiệp với thực tại, việc Cao Bá Quát can án chữa quyển thi, bị bắt giam, bị đưa cải tạo “dương trình hiệu lực”, bị đẩy làm Giáo thụ phủ Quốc Oai và rút cuộc đi đến cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương vào cuối năm Quý Sửu (1853) là có thể hiểu được. Con đường dẫn đến cuộc khởi nghĩa này thể hiện rõ qua từng chặng đường thơ Cao Bá Quát, có mầm triệu từ ngày bước chân đi thi, từ khi nhìn thấy sóng cao biển lớn, từ lúc gặp em bé đói rách bên đường, từ một sớm xuân nghiêng chén về phía chân trời, từ một chiều thu ngắm mây Côn Sơn vắng người tri kỷ, một đêm đông nằm trong nhà giam lắng tiếng mưa rơi… Gắn với chặng đường đời, gắn với mỗi chặng đường thơ, gắn với mỗi bài thơ, sao ông cứ mãi tìm mãi hỏi? Trong quãng đời làm quan và bôn ba nơi xứ người, khi nào cũng thấy ông đau đáu nhớ về cây gạo đầu làng thắp lửa tháng ba, nhớ về những đứa con thơ và căn nhà nhỏ có hàng giậu thưa gần khu Đình Ngang phía nam kinh thành. Bên cạnh giọng thơ triết lý, suy tưởng về hiện tình đất nước đứng trước bão giông lịch sử, thi nhân họ Cao mãi còn bâng khuâng vọng tưởng hình bóng quê nhà:


                     Cao cao mộc miên thụ,


                     Cổ cán hà thanh sơ!


                     Thiều thiều vọng thử bang,


                     Quyết hữu cao nhân lư…


                            (Tương đáo cố hương)


Khương Hữu Dụng dịch thơ:


                     Cao cao cây gạo đó,


                     Gốc cỗi ngọn thanh thanh.


                     Xa xa trông nẻo ấy,


                     Nhà ở bậc cao minh…


                               (Sắp đến quê nhà)


Thế rồi cuộc khởi loạn mà Cao Bá Quát tham gia rút cuộc không thành - như điều tất nhiên sẽ và đã không thành. Trong một ý nghĩa nào đó, xét đến cùng, việc Cao Bá Quát tham gia cuộc khởi nghĩa tựa như một cách trả lời, một lần trả lời, một câu trả lời tận độ để ông vĩnh viễn không còn phải băn khoăn, vương vấn nữa. Đặt trong tương quan chung, ông là hiện thân của bước chuyển giao thời đại, là cánh cửa khép lại những vấn đề đặt ra trong nửa đầu thế kỷ, trong đó thấp thoáng cả những dự cảm về thể chế phong kiến đã đến hồi chung cuộc và nhu cầu đất nước tất yếu cần được đổi mới, canh tân(3).


Lại có tác giả nổi danh như Nguyễn Văn Siêu (1796-1872), người làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, sau chuyển về thôn Đồng Thọ, huyện Thọ Xương (nay ở vào khoảng phố Lương Văn Can, quận Hoàn Kiếm) có sống tới hơn hai mươi năm trời ở phần nửa sau thế kỷ XIX. Ông được người đương thời tôn vinh là “thần Siêu”, có công đứng ra chủ trì việc tu sửa đền Ngọc Sơn, cho bắc cầu Thê Húc, dựng Đài Nghiên và Tháp Bút với ba chữ “Tả thanh thiên” nhằm biểu dương văn chương và tinh thần Nho học, tạo nên quần thể kiến trúc văn hoá hết sức sinh động bên Hồ Gươm. Là tác gia gắn bó với phố phường Hà Nội, ông còn để lại nhiều trang thơ vịnh cản đề vịnh thắng tích lịch sử như Du Tây Hồ (Chơi Hồ Tây), Vịnh Hà đối nguyệt (Ngồi ngắm cảnh trăng trên sông Nhị Hà), Chương Dương độ (Bến đò Chương Dương), Điếu thành tây Loa Sơn cổ chiến trường xứ (Viếng Loa Sơn, nơi chiến trường xưa ở phía tây thành Hà Nội)…


Bên cạnh dòng chủ lưu yêu nước chống Pháp, thơ ca của các tác gia Hà Nội và tác phẩm viết về đề tài Hà Nội còn có những tiếng nói trữ tìn bao quát những nghĩ suy về lịch sử, cái nhìn về cuộc sống thường ngày, về tình bè bạn, về những danh lam thắng tính nhập hồn cùng tên tuổi kinh đô nghìn năm văn hiến. Đó là sáng tác của các tác gia sinh trưởng tại chốn kinh kỳ như Vũ Tông Phan, Đoàn Huyên, Nguyễn Tư Giản, Phạm Hy Lượng, Nguyễn Trọng Hợp,… và cả những tác gia ở những vùng miền khác có viết về Hà Nội như Bùi Văn Dị, Dương Khuê, Phan Văn Ái, Chu Mạnh Trinh… Đặc điểm chung trong nỗi niềm thương nhớ Hà Nội của các tác gia này là không khí một thời ly loạn thấp thoáng biểu cảm qua những chiêm nghiệm, nghĩ suy về thân phận, về nỗi buồn trước thời gian, trước những đổi thay của quang cảnh và lòng người, thế đạo nhân tâm. Theo chiều hướng này, Bùi Văn Dị bày tỏ tâm tư trong đêm giao thừa Hà Nội qua bài Tị Thanh hồi Hà trừ tịch hữu tác (Đi lánh ở Thanh Hoá về Hà Nội, đêm 30 tết làm bài thơ này):


Khứ niên trừ tịch thanh sơn trung,


Kim niên trừ tịch thương giang đông.


Sơn hà phong cảnh tân thù dị,


Ngã sinh như ký tùy phi bồng.


Bế môn nhàn ngọa vô nhất sự,


Hốt văn tuế mộ hà thông thông.


Cựu tuế nhất khứ bất phục cố,


Tân tuế thả lai tương vô đồng.


Nhân sự du du tuế sự cấp,


Hà thời khả tế ngô đạo cùng.


Hu ta trừ tịch mỗi như hử,


Tôn tiền túy đảo trường nhiêm ông.


Nguyễn Văn Huyền dịch thơ:


Trừ tịch năm ngoái giữa non cùng,


Trừ tịch năm nay bến đông sông.


Non sông quang cảnh đều đổi khác,


Đời ta như gửi theo cỏ bồng.


Đóng cửa nằm khàn lơ mọi việc,


Bỗng nghe năm hết chuyển rùng rùng.


Năm cũ qua đi không kể nữa,


Năm mới đang về có khác không?


Việc đời bời bời năm tháng gấp,


Khi nao giúp được đạo ta cùng.


Cứ thế, thương ôi, ba mươi tết,


Chén say túy lúy một mình ông.


Còn lại những trang thơ văn giai đoạn cuối cùng này chủ yếu hướng về vịnh sử, xướng họa, cảm thán thời thế và bộc lộ tình cảm cá nhân trước cảnh quan danh thắng Hà Nội. Bùi Văn Dị cùng bạn dạo chơi mà bâng khuâng, trĩu nặng tâm tư như trong bài Thứ vận Lã Trung thừa (Xuân Oai) du Tây Hồ (Họa thơ Tuần phủ Lã Xuân Oai đi chơi Hồ Tây):


Tái phỏng Tây Hồ phi tích niên,


Tiểu xuân hoa sự bất tằng nhiên.


Vân sơn thảm đạm thanh tôn ngoại,


Vũ hạ thương mang bạch phát tiền.


Cổ tự hàn chung tăng cảm khái,


Tao nhân hào khách kỷ lưu truyền.


Đăng lâu hà dị Tân Đình hội,


Sái lệ thê phong tịch chiếu thiên.


Nguyễn Văn Huyền dịch thơ:


Thăm lại Hồ Tây đã khác xưa,


Còn đâu hoa cảnh những xuân qua.


Non mây ảm đạm, ngoài ly rượu,


Trời đất mênh mang, trước mái phơ.


Chùa cổ chuông sầu bao cảm khái,


Kẻ hào người lịch mấy lưa thưa.


Lên lầu luống những đau non nước,


Gió lạnh chiều buông mắt lệ mờ.


Cùng đi chơi Hồ Tây nhưng Phạm Hy Lượng trong bài Tây Hồ khúc yến thứ Thiếu Tô niên huynh nguyên vận (Dân ca yến ẩm ở Tây Hồ, họa theo nguyên vần của niên huynh Thiếu Tô) lại tỏ rõ phong thái nhà nho tài tử, để lòng vui cùng người đẹp, vui cùng mênh mông sóng nước:


Đê thượng tân từ gián cổ thiều,


Hồ quang y cựu tứ vô biên.


Phiếm chu kim nhật bồi song diễm,


Nhiếp lý tiền du ức kỷ niên.


Âu đạm trần tâm minh thủy tĩn


Oanh điều non thiệt thính chu viên.


Bắc minh nghĩ tá bồi phong dực,


Hoa quản tiên ư Lãng Bạc truyền.


Trần Lê Văn dịch thơ:


Trên đê miếu mới cách chùa xưa,


Nước vẫn lung linh chẳng thấy bờ.


Chèo mái nhẹ đưa hai khách quý,


Thăm hồ chạnh nhớ mấy năm qua.


Oanh buông tiếng ngọc lời ca đẹp,


Cò rủ lòng trần nước sạch ưa. 


Muốn mượn gió bay sang biển Bắc,


Sáo đàn Lãng Bạc đã xa đưa.


Gắn bó với Hà Nội, thi nhân Dương Khuê vẽ lại bức tranh kinh kỳ giữa mùa heo may và biểu lộ cảm xúc man mác trong bài thơ Hà thành trung thu tiết (Trung thu ở Hà Nội):


Phong tĩnh hà minh mộ vũ hưu,


Giang thành triệt dạ tễ quang phù.


Khí đăng thu hạ xa tranh đạo,


Hoàn Kiếm hồ biên nguyệt quải lâu.


Thế sự như kỳ vô định cục,


Suy niên tá tửu mạn tiêu sầu.


Nhi đồng tham trục ngư long hý,


Bất kế sơn hà dĩ bán thu.


Khắc Hanh dịch thơ:


Gió lặng mưa tan ráng rực màu,


Giang thành tạnh sáng suốt đêm thâu.


Dưới hàng đèn điện xe tranh lối,


Bên cạnh Hồ Gươm nguyệt gác lầu.


Việc thế như cờ chưa định cục,


Tuổi già mượn chén để tiêu sầu.


Đàn em mải thích trò rồng cá,


Quên hẳn non sông đã nửa thu.


Cho đến những năm tháng cuối cùng thế kỷ, khi mà lịch sử đã sang trang, khi cuộc cờ thế sự đã tàn với việc quân Pháp cơ bản đã chiếm thành Hà Nội, đã bình định Bắc Hà và hoàn thành việc thôn tính Việt Nam thì văn thơ Hà Nội vẫn đau đáu nỗi ám ảnh về số phận cả dân tộc và mỗi cá nhân. Bi kịch nước mất nhà tan mà hàng ngũ quan lại và trí thức yêu nước vẫn luôn luôn ý thức rõ nhưng đành buông tay không tìm ra một phương cách nào khác. Chính vì nỗi đau ấy nên họ đành gửi gắm tâm sự qua những trang thơ, khơi gợi niềm tự hào về truyền thống lịch sử dân tộc, tình cảm yêu nước thương nòi bằng việc tìm về cảnh đẹp và chính những trăn trở suy tư trước mỗi vẻ đẹp đó. 


Khác với thơ ca, đường biên của dòng văn xuôi chuyển tải cảm hứng thương nhớ đôi khi không có sự phân biệt thật rõ ràng so với những tác phẩm trực diện miêu tả, phản ánh chính con người và cuộc sống sôi động chốn kinh kỳ. Nói khác đi, bên cạnh các thể hồi ký, du ký, ghi chép, tùy bút, tản văn vốn nằm ở trung tâm dòng chảy cảm hứng thương nhớ Thăng Long – Hà Nội thì nhiều trang văn lại chủ yếu nhấn mạnh các sự kiện và đằng sau đó mới bộc lộ sắc thái tình cảm. Điều này có lý bởi xét về bản chất, sự phát biểu cảm tưởng thương nhớ nào cũng phải căn cứ trên thực tế cuộc sống mà người viết đã trải qua; và ngược lại, sự mô tả hiện thực nào cũng đều gửi gắm, chất chứa trong đó và đằng sau đó sắc thái tình cảm yêu mến Thăng Long – Hà Nội.


Vào giai đoạn đầu của nền văn xuôi trung đại, khát vọng xây dựng đất nước độc lập, tự chủ gắn liền với ý thức về một quốc gia riêng, một triều đại riêng, một hoàng đế riêng (đế chứ không phải vương) và một kinh đô riêng biệt (Đông Đô chứ không phải Đông Quan). Chính vì thế mà các bộ sách Việt điện u linh và Lĩnh Nam chính quái đều đặc biệt chú ý đến các nhân vật xa gần liên quan đến kinh thành Thăng Long. Việc xây dựng hình ảnh các nhiên thần và nhân thần, việc sưu tập các truyền thuyết và truyện cổ tích (Thánh Chèm Lý Ông Trọng, sơn thần Đồng Cổ, Tản Viên, Phù Đổng, thần Kim Quy xây Cổ Loa, thần sông Tô Lịc thánh Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không…) chính là hồi quang phản ánh nguyện vọng xây dựng kinh đô nước Đại Việt – biểu tượng của nhà nước phong kiến tự chủ và sức mạnh dân tộc.


Đến các thế kỷ XVIII – XIX, một kinh đô Thăng Long ngời sáng trong lẽ  phế hưng, tang thương dâu bể đã được thể hiện sâu sắc qua ngòi bút của Lê Hữu Trác với Thượng kinh ký sự, Phạm Đình Hổ với Vũ trung tùy bút, Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án với Tang thương ngẫu lục… Xin dẫn lại đoạn văn biểu cảm nỗi niềm Lê Hữu Trác khi đi thăm Hồ Tây và xúc động hồi tưởng câu chuyện một thời tuổi trẻ từ mấy mươi năm trước:


“Lại nói về chuyện lúc tôi vừa đến cổng din thì thấy mấy chiếc thuyền đang buộc ở mé Hồ Tây, tôi bèn nói với Bàn Quận công rằng:


- Hôm nay trời nắng gắt, đi bộ rất mệt, xin cho một chiếc thuyền công để đi cho vừa đỡ nóng lại vừa gần.


Ông ta bèn sai sáu người lính thủy lấy thuyền chèo tiễn tôi về. Tôi được lện ra khỏi dinh lên thuyền về. Vừa qua khỏi núi đá ở giữa hồ, nhìn ánh trời sắc nước, long lanh sóng gợn, đàn cò đàn uyên ương lượn lờ bãi nước. Trên bờ, bóng cây ở Ly cung um tùm thấp thoáng, khi ẩn khi hiện. Trên bãi, một dãy lâu đài. Cỏ hoa đua tươi, khoe hồng phô biếc. Trong đám thuyền chài nổi lên tiếng hát ngắn lướt trong bóng chiều. Chuông chùa khua rộn như giục mặt trời lặn đi.


Tôi ngồi ở trong thuyền, vô cùng sảng khoái. Nhìn xa thấy một nơi điện gác nguy nga, bóng tùng rợp đất. Tôi bảo chèo thuyền tới, mới biết là chùa Trấn Quốc bèn sai người lái thuyền vào bờ.


Tôi lên bờ, ngồi một mình trên một tảng đá bên gốc cây cổ thụ, phóng mắt nhìn ra khắp phía, xao xuyến nỗi lòng, rưng rưng mắt lệ, những người theo hầu ngạc nhiên hỏi duyên cớ. Tôi nói:


- Khi còn nhỏ ở Kinh đô, tôi đã từng cùng với mấy người quen biết bạn làm Thi xã, hò hẹn cùng nhau, hàng năm xuân thu hai lần cùng tới Hồ Tây vui chơi. Mỗi khi đến đây thì sửa soạn đầy đủ rượu và đồ nhắm, rồi thuê ba bốn chiếc thuyền chài, chèo buông ra giữa hồ rong chơi, tiếng đàn sáo vang vọng bốn bề, tới đêm khuya thì về chùa Trấn Vũ ngủ trọ. Có khi năm ba ngày mới trở về. Than ôi! Ngày nay bạn bè nhiều người đã khuất, bây giờ nhìn cảnh động lòng. Nào ngờ, mé tây mấy gốc cây già, bờ nước một dải rừng trúc, hồ rộng phía trước, gác chuông nẻo sau, đây đó còn nguyên như cũ. Ngắm cảnh vật nhớ người, cho dù gan dạ có là sắt đá đi nữa thì cũng phải mềm ra.


Bèn gạt lệ xuống thuyền quay về, muôn nỗi sầu não không sao dứt được. Bèn ngâm một bài thơ để vợi bớt nỗi lòng…” (Thượng kinh ký sự).


Vượt qua thời gian, đến nay đọc lại những trang văn xuôi thương nhớ Hà thàn dường như vẫn bắt gặp đâu đây bóng dáng con người và cảnh vật một thời. Điều có ý nghĩa hơn, dù sống ở nơi đâu và trong bất cứ hoàn cảnh nào, người dân nước Việt vẫn một lòng ngưỡng vọng, mến yêu Thăng Long – Hà Nội. Đương nhiên với những người từng sinh sống ở Hà Nội thì nỗi niềm thương nhớ càng tăng lên gấp bội. Bởi lẽ bên cạnh tình cảm dành cho thủ đô thì Hà thành còn là nơi đã gắn bó, làm nên một phần cuộc đời mỗi con người. Chính vì thế mà những trang văn viết về Hà Nội của họ càng trở nên sâu nặng, thấm đượm nghĩa tìn có được sức sống lâu bền trong lòng bạn đọc.


Người Hà Nội và những người xa Hà Nội, những người từng một lần ngang qua Hà Nội và cả người bốn phương đều có chung tấm lòng nhớ thương Thăng Long – Hà Nội. Đây là miền đất của ngàn năm, nơi hội tụ và thăng hoa mọi giá trị con người, tinh kết tài hoa, trí tuệ bốn phương. Chính vì thế mà Thăng Long – Hà Nội đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho các thế hệ văn nghệ sĩ làm nên các tác phẩm thơ văn xuất sắc. Trải qua suốt ngàn năm, con người vẫn khôn nguôi vọng tưởng theo dáng rồng bay, vẫn mơ về Hà Nội dáng kiều thơm, vẫn khắc khoải viết nên những trang văn in dấu ấn kinh kỳ, xiết bao thương nhớ. Một thời rồi sẽ qua đi. Trăm năm rồi sẽ qua đi. Ngàn năm rồi sẽ qua đi. Sự góp nhặt những trang văn Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long hẳn sẽ là hành trang tinh thần vô giá gửi lại mai sau. Mãi mãi muôn năm sau vẫn là Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long…


 


Hà Nội, 23-8-2010


NHS


_________________


 


(1) Xem Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam (Thế kỷ X-XIX), Tập I (Bùi Duy Tân chủ biên). Tái bản. NXB. Giáo dục,  2006; 620 trang.


- Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam (Thế kỷ X-XIX), Tập II (Bùi Duy Tân chủ biên). NXB. Giáo dục,  2007; 692 trang.


- Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam (Thế kỷ X-XIX), Tập III (Bùi Duy Tân chủ biên). NXB. Giáo dục,  2009; 1120 trang.


(2) Xin xem Nguyễn Hữu Sơn: Về một vài đặc điểm thơ văn Nguyễn Cao. Tạp chí Văn học, số 5-1986, tr.107-116.


(3) Nguyễn Hữu Sơn: Cao Bá Quát và những suy tưởng trong thơ, trong sách Cao Bá Quát – một đời thơ suy tưởng. NXB. Trẻ - Hội Nghiên cứu và giảng dạy văn học, TP Hồ Chí Min 2005, tr.9-39.


 


Nguồn: vienvanhoc.org.vn


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sóng lừng – Một tác phẩm tốt (Lật lại Hồ sơ vụ tiểu thuyết Sóng lừng - VN. Mafia bị thu hồi năm 1991) - Xuân Thiều 13.09.2019
“Sóng lừng” – Cuốn tiểu thuyết về Mafia ở Việt Nam - Bùi Quang Huy 13.09.2019
Ở Việt Nam có Mafia không? - Đỗ Ngọc Thạch 13.09.2019
Đọc tiểu thuyết “Giấy trắng” của Triệu Xuân - Lê Phú Khải 13.09.2019
Đọc tiểu thuyết “Đâu là Lời phán xét cuối cùng” - Trần Bảo Hưng 13.09.2019
Đọc tiểu thuyết "Cõi mê" của Triệu Xuân - Nguyễn Sĩ Đại 12.09.2019
Cõi mê - Hiện thực sâu sắc, tận cùng nỗi đau, đầy lòng nhân ái - Hoài Anh 12.09.2019
Cuộc sống kinh tế năng động trong “Giấy trắng” - Ngọc Trai 12.09.2019
Đọc tiểu thuyết “Giấy trắng” của nhà văn Triệu Xuân - Nguyễn Sĩ Đại 12.09.2019
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 22.08.2019
xem thêm »