tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28933641
10.08.2011
Khúc Hà Linh
Anh em nhà Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh): Ánh sáng và bóng tối (7)

Thạch Lam: Lòng nhân hậu, niềm thương xót đồng bào.


Trong nhóm TLVĐ, Hoàng Đạo là người lý thuyết, Nhất Linh là người thực hành, Khái Hưng đã phả vào nếp sống cũ để tiến tới một đời sống mới… còn Thạch Lam một người yêu thương đồng bào, xót xa từ tâm can tỳ phế.


Nhiều bạn bè, kể cả người trong gia đình đều nói sách Thạch Lam bán ế nhất, nhưng văn của ông viết hay nhất trong TLVĐ.


Thạch Lam được thừa hưởng đức hiếu thuận của mẹ, vẻ  lịch lãm, từng trải của cha, đã hình thành một phong cách sống khác với các anh chị em trong nhà.


Nhà văn Vũ Bằng kể lại:


Thạch Lam yêu sự sống hơn bất cứ ai. Anh quý từ cốc nứơc chè tươi nóng., trang trọng đưa lên miệng uống một cách gần  như thành kính, tiếc từ một cái kẹo vừng rơi xuống đất,  nhặt lên phủi bụi rồi ăn ngay một cách chậm rãi như thể vừa ăn vừa ngẫm nghĩ cám ơn trời đất đã cho mình sống để thưởng thức ngon lành như vậy, anh cẩn thận từng câu nói với cô bán hàng vì sợ lỡ lời có câu nào không chu đáo khiến cho người ta tủi thân mà buồn.


Thạch Lam đi đứng nhẹ nhàng, dường như nếu bước mạnh thì đất nó đau. Anh lặng lẽ vì anh khiêm nhường, lúc nào cũng coi mình bé nhỏ .Thạch Lam là một người độc đáo có tài lại khiêm nhường, người nhỏ mà nhân cách lớn.


Một người như thế không thể là người lý thuyết, chỉ là nhà tư tưởng, như con chim kia, lấy mỏ rút ruột mình để nuôi một đàn con.


Vũ Đức Phúc trong cuốn "Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong lịch sử văn học Việt  Nam hiện đại 1930-1954”, Nhà xuất bản Khoa học xã hội -1971, đó có góc nhìn công bằng lịch sử khi nói về Thạch Lam:


Thạch Lam rõ rệt là người ít nhiều có khuynh hướng Nghệ thuật vị nhân sinh: “ Đối với tôi, văn chương không phải là một cách đem đến cho người đó sự thoát ly hay sự quên; trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có để vừa tố cáo và đổi mới cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn”(Lời nói đầu tập Gió đầu mùa, 1937). Quan điểm đó hoàn toàn trái với quan điểm của Thiếu Sơn, Hoài Thanh và Lê Tràng Kiều. Rõ ràng là Thạch Lam đã chú ý chống lại hai luận điểm chính của Thiếu Sơn về chức năng của văn nghệ: quên cuộc đời, thoát ly vào cõi mộng… Nhất Linh, Hoàng Đạo không thuộc phái nghệ thuật vị nghệ thuật, nhưng họ “ vị nhân sinh” theo một kiểu riêng. Tiểu thuyết của hai người là" tiểu thuyết có luận đề”. (trang 112 sách đã dẫn)


Quả như Vũ Đức Phúc nhận xét, tư tưởng nghệ thuật vị nhân sinh đã được thể hiện rõ trong tiểu thuyết “Hai vẻ đẹp”(1936) của Nhất Linh. Nhân vật chính trong truyện là Doãn - một hoạ sĩ. Lúc đầu chàng nghĩ rằng mục đích nghệ thuật chỉ là vẻ đẹp, làm cho cuộc đời thơ mộng. Sau đó về một thôn quê, gần với cuộc đời lao động cày cuốc nắng m­ư­a, chàng đã phát hiện ra một điều "Chính những cái khổ của người chung quanh sẽ đem lại cho chàng cái nhẽ để mà sống.”


Phong Lê, trong Tuyển tập truyện ngắn Thạch Lam - NXB Văn học- 2004 cũng nhận định:


“Nửa thế kỷ đã qua, mà đọc truyện Thạch Lam, cảm về câu văn Thạch Lam, tôi thấy cứ như là câu văn hôm nay; và tôi còn dám chắc chưa hẳn đã có nhiều người  viết hiện nay, với số trang ít ỏi, lại nêu được ngần ấy vẻ đẹp chứa trong cốt truyện, tình cảm, tâm hồn, câu văn ấy của những Nhà mẹ Lê, Cô hàng xóm, Tối ba mươi, Hai chị em, Hai lần chết… tôi cho đó là những trang hay trong văn học 1930-1945, nó không kém chút nào những trang hay của Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Tô Hoài.


Với tiêu đề Thạch Lam, trong Tuyển tập truyện ngắn Thạch Lam- viết tháng 10 năm 1957, nhà văn Nguyễn Tuân đã nhận xét:


Lời văn Thạch Lam nhiều hình ảnh, nhiều tìm tòi, có một cách điệu thanh thản, bình dị và sâu sắc… Thạch Lam có đem sinh sắc vào tiếng ta… Thạch Lam là một nhà văn quý mến cuộc sống, trang trọng trư­ớc cuộc sống. Ngày nay đọc Thạch Lam, vẫn thấy đầy đủ cái dư vị và cái nhã thú của những tác phẩm có cốt cách và phẩm chất văn học…


Phần 5.  Hội Ánh sáng - một hình thức nhân đạo, xã hội chủ nghĩa.


Tự lực văn đoàn có một ý tưởng tốt, mang tính nhân đạo. Đó là chủ trương xoá bỏ nhà ổ chuột, mang đến cho con người những ánh sáng văn minh.


Sống trong một xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến, cuộc sống người dân quê tối tăm giữa bùn lầy, nước đọng cam chịu, còn một lý do nữa là do thất học và nghèo đói.


Cùng với việc châm biếm đả kích thói hư tật xấu, những cảnh bóc lột hà hiếp dân lành của bọn phong kiến thực dân, TLVĐ đã có phát kiến là thành lập Hội Ánh sáng. Đây không chỉ là lý thuyết mà là việc làm thực tế.


Trên số 38 ra ngày chủ nhật, 13 tháng 12 năm 1936 cách đây trên 70 năm, báo Ngày Nay đã tấu lên khúc nhạc dạo đầu về sự kiện này bằng bài  khá dài choán từ trang một đến trang ba, với hàng tít khá ấn tượng như là một khẩu hiệu hành động: Để đi tới việc thành lập HỘI BÀI TRỪ NHỮNG HANG TỐI, tạm gọi là hội ÁNH SÁNG đem đến cho dân nghèo khắp nơi những căn nhà sáng sủa, sạch sẽ, đẹp đẽ thay vào những nhà hang chuột, tối tăm, bẩn thỉu không đáng để người ở.


Bài viết ký tên Tự Lực, có đoạn: "Câu chuyện nhà cửa ở nước ta, thật là câu chuyện buồn nếu không phải là câu chuyện… bùn. Ở các nước thái tây, câu chuyện nhà cửa là câu chuyện những phòng sáng sủa, cao ráo, câu chuyện của cái lò sưởi, những đêm đông lạnh lẽo, lách tách ngọn lửa hồng ấm áp reo. Còn ở bên ta, thì trời ơi, câu chuyện là câu chuyện tối tăm ẩm thấp, lụp sụp lè tè. Cái nhà của dân ta là cái gì, nếu không phải là đống bùn đem trộn với rơm rác… ai đi qua cũng phải ghê sợ, vì những bẩn thỉu rơ ráy bọc lấy căn nhà.


Cái thảm trạng đó có thể kéo dài mãi nếu ta không tìm cách trừ tiệt đi… Dân đã nghèo, lại có cái quan niệm sai lầm về sự sống… Họ nghèo, ta phải giúp họ, họ không biết, ta phải soi sáng họ, phải thực hành và đem những cảnh đời mới đến đổi khác cái đời tối tăm, thảm hại của họ đi”.


Từ đó trở đi, mỗi số báo Ngày Nay đều để riêng một trang đăng tải ý kiến của những ai có hằng tâm, bàn về vấn đề nhà ở, về lập Hội bài trừ những nhà hang tối, tạm gọi là hội Ánh Sáng. Châm ngôn của hội là XÃ HỘI - NHÂN ĐẠO - CẢI CÁCH.


Tiếp theo số 39 có bài “Nhà rẻ tiền để dân nghèo và thợ thuyền ở”, ký tên Hội bài trừ những nhà hang tối với một vi nhét hình tròn mô tả một nắm đấm đè bẹp mái nhà tranh tre, dột nát, như thể xoá bỏ, tiêu diệt nó đi. Nửa trên của vòng tròn là một ngôi nhà cao ráo vững chắc trong ánh sáng bình minh…


Tờ báo còn cho in một số mô hình nhà ánh sáng được triển lãm và kêu gọi mọi người gửi những ảnh mẫu nhà hang tối, hoặc căn nhà đẹp, có nhiều cái lạ cái hay về kiến trúc tới toà soạn làm tài liệu đăng báo.


Hưởng ứng khúc dạo đầu, trên báo Ngày Nay từ số 40 trở đi liên tiếp đăng hàng loạt ý kiến của bạn đọc trong cả nước. Mở đầu là ông nghị  Phạm Tá, nức nở khen là chủ trương của TLVĐ gãi đúng chỗ ngứa, hả lắm. Ông xin các nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ hãy về tận làng quê mà biểu diễn, thu tiền hoặc tặng sách cho dân làm quỹ. Ông Phạm Tá còn hăng hái yêu cầu làm nhà mẫu để ở công khai, đề giá từng loại nhà để cho dân chúng biết.


 


 


 


Sau  Phạm Tá, Nguyễn Hữu Thăng, Dân Thợ… là tác giả Thanh Thuỷ ở Cần Thơ, Hữu Phước (Thái Nguyên) góp ý rất nhiệt tình. Số báo 42 có đăng lời phát biểu của Đỗ Quyên (Hải Phòng). Ông Quyên đề nghị làm ngay mỗi phủ một làng theo kiến trúc mới, rồi tổ chức tham quan, tuyên truyền cho các nơi. Ai có công quyên được nhiều tiền thì khi chết được lập đài kỉ niệm, khắc tên vân vân. Rồi một làn sóng góp ý trên báo Ngày Nay mà các tác giả phần đông ở Hà Nội, với muôn hình muôn vẻ. Lại thấy những địa chỉ khác như: Vũ Văn Điểm (Phố Bình Gia), Nguyễn Ngọc Chủng (Quy Nhơn), Hồ Văn Khuê (Huế), Hồ Mẫu Đơn ở Khánh Hoà, Nguyễn Hữu Liên(Nam Định), và  bạn đọc ở Vĩnh Yên, Phúc Yên,… liên tiếp phát biểu tham gia ý kiến. Những ý kiến vô cùng phong phú, nhiều khía cạnh góc nhìn, khi thì góp ý về tổ chức, khi thi nói về công tác quản lý điều hành, cũng có khi là một sự chia sẻ, biểu dương người nêu ra ý tưởng. Các kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện, nói về ý tưởng và gía trị nghệ thuật kiến trúc thực hành. Hoàng Như Tiếp có bài Kiến trúc ánh sáng, ông nói rằng Hội ánh sáng đối với ta là một sự mới mẻ. Nhưng con đường mà chúng ta mới bắt đầu, còn nước ngoài đã đi xa. Đặc biệt Vũ Trọng Can trên số báo 49 thì nêu ra ý kiến ban trị sự Ánh sáng cần 12 người, có cả chức sắc địa phương chánh phó hội, kế toán, thủ quỹ, kiểm soát được ăn lương tháng quỹ hội mà chuyên tâm làm việc cho hội. Những ý kiến sâu sắc của hàng trăm bạn đọc viết trong cả nước, được đăng tải  kéo dài đến tận số báo 70, giống như một bản giao hưởng có đủ tiết tấu, giai điệu… làm cho không khí hừng hực sức sống trong thời bấy giờ.


Đến số 71 báo đăng ý kiến hưởng ứng và ủng hộ Ánh Sáng của anh em thợ thuyền ở Vinh làm cho phong trào có thêm sức nặng.  Ông AiLen, chủ hãng G.M.R cho đăng báo xin nhận anh em lao động trong xóm thợ thuyền vào làm việc của hãng ông. Ông  còn tổ chức bán hàng từ thiện một ngày, trích ra 10% số tiền thu được giúp dân bị lũ lụt tỉnh Bắc Ninh. Đoàn ca vũ May- Blossom cũng biểu diễn tại Nhà hát lớn Hà Nội lấy tiền giúp Hội ánh sáng.


TLVĐ có nhiều hoạt động để gây quỹ vì người nghèo, lôi cuốn người Việt ở nước ngoài như Công Pông Thom (Cao Miên) gửi tiền về cứu tế. TLVĐ  quảng cáo, vổ vũ người đi xem bóng đá thực đông, đi xem đấu võ kịch liệt tại Nhà hát lớn để lấy tiền giúp dân bị lụt và Hội ánh sáng.


Ví dụ cuộc đấu bóng đá ở Stade Mangin, thu được 208 đồng, chi các khoản 74 đồng còn lại 134đồng . Thống sứ Yves Châtel quyên 5 đồng cũng được đưa lên báo. Rồi những bài ca về Hội ánh sáng ra đời,  nhằm cổ suý, khích lệ. Trần Duy Hưng và Thế Lữ  soạn lời ca bài hát được quần chúng hát vang thời bấy giờ.


Trích đoạn một bài hát theo điệu La Badge:


Nào! Đem ánh sáng soi tới


Vùng tối tăm cho người cùng loài


Nào! Đem Ánh Sáng soi tới


Đời tối tăm bao người.


Anh em! thấy chăng trong đời


Còn bao nhiêu nỗi đớn đau


Dân ta biết bao nhiêu người


Lầm than nheo nhóc bấy lâu


Trong xó vách nát lều tranh


Chen chúc sống dưới trời xanh….


Điệp khúc.


Đây là lời bài hát theo điệu “Ngũ điểm mai” do Thế Lữ soạn:


Bước vào mấy lớp nhà tranh


Thấy cao rộng thênh thênh lạ thường


Vì chưng " ánh sáng " xuyên ngang


Gió đưa lại ánh dương nhẹ nhàng.


Hết thời chui rúc lầm than


Thấy chăng vẻ phong quang hiện về


Bài ca  "ánh sáng" lan đi


Sáng soi cả thôn quê thị thành…     


Phong trào Hội ánh sáng phát triển rất mạnh. Thu hút được giới thanh niên, phụ nữ tham gia, đặc biệt cuốn hút anh em hướng đạo - một lực lượng vừa đông đảo vừa nhiệt huyết tham gia, tạo thêm sức cuốn hút.


Cho đến số báo 75 ra ngày 5 tháng 9 năm 1937, ông Phạm Văn Bính, thư ký uỷ ban tạm thời Hội ánh sáng, cho đăng bài diễn văn tại buổi họp đầu tiên tại Nhà hát lớn Hà Nội. Đấy chính là mục đích và chương trình hội ánh sáng được công khai chính thức, với bốn việc sau:


1- Bài trừ những nhà tối tăm, có hại cho vệ sinh con người


2- Khuyến khích làm ngôi nhà đẹp sạch sẽ, bằng nhiều nguồn vốn khác nhau. Bảo cách cho dân quê đắp đường đi, đào giếng nước, xẻ thùng rãnh hôi hám có lối thoát


3- Cổ động, truyền bá cho mọi người, nhất là đàn bà trông nom việc gia đinh, cho các  chủ nhà ăn ở ngăn nắp sạch sẽ, vệ sinh


4- Bằng nhiều cách để giúp đỡ các gia đình nghèo có nhà sáng sủa…


Ảnh hưởng ban đầu của Hội ánh sáng là đã điều đình với công sứ Haelwyn tỉnh Bắc Ninh vào chủ nhật ngày 3 tháng 10 mang hơn ba tấn gạo đến huyện Lang Tài giúp dân. Văn Bính đã có bài tường thuật cuộc phát chẩn ấy như sau: “Trong hai giờ đồng hồ, đoàn viên Ánh sáng chia làm bốn bọn, phát cho bốn làng. Cả thảy 2450 nạn dân, mỗi người được 1kg gạo. Khái Hưng giữ việc chụp ảnh. Mới 9 giờ rưỡi công việc đã xong xuôi. Công sứ Haelewyn, tổng đốc Nguyễn Bá Tiệp, tri huyện Nghiêm Xuân Khải thay mặt nạn dân cám ơn Đoàn ánh sáng đã có công khó nhọc về tận nơi phát chẩn”.


Bằng nhiều việc làm như trên, đến ngày 14 tháng 10 năm 1937 tại Nghị Định số 4851-A, Hội ánh sáng mới được Thống sứ Yves Châtel cho phép thành lập, đăng trên báo Ngày Nay số 82.


Bắt đầu từ đó, Đoàn ánh sáng thu tiền của hội viên.


Báo Ngày Nay, số 83 nói kỹ về việc này:


Mấy nghìn hội viên đã ký giấy vào đoàn xin đóng tiền ngay cho. Các bạn ở tỉnh xa mua mandat đề cho Đòan ánh sáng, HaNoi. Bằng số tiền của mấy ngàn hội viên ấy, đoàn có tiền ngay để dựng một thôn ánh sáng. Thôn ánh sáng đầu tiên sẽ dựng lên toàn bằng tiền của Hội viên đầu tiên. Tiền của các bạn sẽ biến ngay thành nhà cửa ánh sáng… Sức mạnh của của đoàn ánh sáng là số đông. Các bạn vào thật đông. Mỗi người chỉ đóng có 1$,00, 0$20 một năm, không là bao. Nhưng nhiều người thì số tiền sẽ rất lớn, thôn ánh sáng sẽ rất nhiều. Hiện giờ biên tên tại số 55 Háng Bún, sau sẽ đặt nhiều nơi trong thành phố.


Điều lệ vào hội:


Tán trợ hội viên: Biếu đoàn một số tiền, ít nhất 100$.


Tặng hảo hội viên: biếu đoàn một số tiền, ít nhất là 50$.


Chủ trì hôị viên: đóng mỗi năm 1$, và ít nhất phải 21 tuổi.


Khuýên khích hội viên: đóng mỗi năm 0$20(dành cho thợ thuyền, học sinh và dân quê)


Chủ trì hội viên và Khuyến khích hội viên, khi đã đóng cho đoàn 15 năm liên tiếp hay là đóng luôn một lúc 10 năm, sẽ được miẽn lệ đóng tiền và được gọi là “vĩnh viễn hội viên”.


Phong trào ánh sáng đã đi xa hơn, Hoàng Đạo viết bài kêu gọi giới thợ thuyền để dành riêng một ngày chủ nhật đi làm lấy tiền giúp nạn dân. Và đó là ngày chủ nhật của nạn dân. Phong trào được giới thợ thuyền hưởng ứng. Khắp nơi gửi tiền quyên góp về địa chỉ của hội. Trên báo Ngày Nay thường xuyên in bài đưa tin: Ánh sáng sẽ tổ chức những tuần lễ liên tiếp Ánh sáng vĩ đại chưa từng thấy trong nước Nam những cuộc lớn vào những tối thứ bẩy và suốt ngày đêm chủ nhật, những cảnh khác nhau: rừng núi, bể, đồng bằng, và bồng lai ở những nơi khác (dấu kín chưa thể nói ra được) để lấy tiền dựng một làng ánh sáng ở vùng bị lụt, một thôn ánh sáng gần Hà Nội.


Nhà cầm quyền cũng đã cho phép tổ chức Ngày ánh sáng vào ngày 12 tháng 12 năm 1937 ở Hà Nội. Toàn quyền Jules Brévié nhận lời làm danh dự hội trưởng và đỡ đầu Đoàn ánh sáng với bức thư có nội dung:


 


Hanoi  le 14 Décembre 1937.


Cùng ông Hội trưởng Đoàn ánh sáng Hanoi


Ông đội trưởng.


Tôi lấy làm hân hạnh báo tin ông biết tôi rất vui lòng nhận chức đó. Tôi chúc đoàn Ánh Sáng chóng đạt được mục đích nhân đạo, xã hội của đoàn


Kính chúc…         


                                                                   Jules Brévié


Thế là một số uỷ ban hành động Ánh Sáng được thành lập, ban đầu có ba ban:


Ban tổ chức, khánh tiết:


Trưởng ban: Bà Trịnh Thị Thục Oanh, đốc học các trường học nữ Hà Nội.


Thư ký:        các ông Nguyễn Trọng Thạc, Hoàng Nhật Tiến.


Uỷ viên: các bà: Trần Khánh Giư, Hoàng Cơ Thuỵ, Hoàng Xuân Hãn, Trần Văn Tiết, Tôn Thất Bình, Vũ Đình Đa, Phạm Hoằng Tín, Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Tường Long, và Hà Sĩ Cát.


Ban chuyên môn:


Trưởng ban: Ông Bùi Tường Chiểu.


Thư ký:        Ông Võ Đức Diên, Nguyễn Gia Trí.


Uỷ viên:       Các ông Nguyễn Xuân Tùng, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Đỗ Cung, Hoàng Như Tiếp, Lưu Văn Sìn, Nguyễn Cát Tường, Võ An Ninh, Thẩm Hoàng Tín, Nguyễn Gia Đức, Lương Xuân Nhị , bà Cát Tường.


Ban tuyên truyền:


Trưởng ban: Ông Đoàn Phú Tứ.


Thư ký:       Ông  Hà Sĩ Cát, Vũ Đình Hoè. 


Uỷ viên:    Các bà Trịnh Thục Oanh, Nguyễn Cát Tường. Các ông Vũ Nam, Vũ Đình Huỳnh, Vũ Đình Liên, Dương Minh Châu, Trần Hữu Phụng. Ngoài ra còn các cô Lê Thị Lý, Nguyễn Thị Hảo v.v..


Cùng danh sách trên, còn nhiều người giúp việc. Đoàn viết thư gửi tới hiệu trưởng các trường công, tư ở Hà Nội cho phép các nữ sinh giúp Ngày ánh sáng.


Có thể nói, họ đã chuẩn bị chu đáo cho buổi tổ chức Ngày ánh sáng tưng bừng như ngày hội. Các thành viên của Đoàn chia nhau thành từng tốp đi đến các cửa hàng, các tổ chức vận động người dân tham gia vào Đoàn  nhưng không phải đến đâu cũng thông đồng bén giọt. Nhiều khi nghe giải thích, người dân đồng tình ngay, nhưng lại không có tiền nộp, có khi một bà mẹ quan huyện tiếp đoàn  rất vui vẻ, nhưng thu tiền thì bà ta lại bảo về hỏi con trai. Có khi đến cửa hàng xin  gặp chủ, nhưng họ không tiếp, chỉ cho người ở, hoặc người bán hàng ra chối khéo là chủ hàng đi vắng. Nhưng phần đông người Hà Nội tham gia hào hứng. Có nhiều người ghi tên, đóng tiền ngay cả năm… Một ngày Ánh sáng ở Hà Nội đã có thêm 2352 người, với tiền thu được 1221$.


Anh em thợ thuyền ở khu hàng Đông Dương tại đấu xảo quốc tế Paris do bà Đào Văn Minh chuyển tới quỹ hội 812 frs. Một người ẩn danh đã nhờ sư cụ chùa Quán Sứ gửi 25$ cho quỹ Ánh sáng. Số tiền này đáng lẽ làm chay cho cha mẹ, nhưng nay được giác ngộ, đã chuyển làm từ thiện cho quỹ người nghèo. Nhiều tổ chức cá nhân đã gửi tiền nhờ Đoàn Ánh sáng đong gạo phát cho nạn dân bị thiên tai lũ lụt. Lúc ấy có cả thư của nạn dân các làng Lương Xá, Bình Địa, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương mong Đoàn mang gạo về giúp dân.


Là chủ suý của văn phái, trước phong trào rầm rộ, Nhất Linh đã cuộn vào ngọn gió cải cách. Ông không chỉ là người khởi xướng, cổ suý, mà còn hăng hái tham gia trực tiếp. Ngày 13 tháng giêng năm 1938 ông đã đọc diễn văn tại Nhà hát lớn Hải Phòng, với lòng nhiệt huyết. Sau khi nói ý nghĩa, mục tiêu và hành động của Đoàn Ánh Sáng, kết thúc ông nhấn mạnh: Ta không nên nói việc sắp làm là một việc thi ân cho các bạn nghèo. Chúng ta phải tự cho rằng hững hờ với họ là một sự không công bằng, là một tội lỗi nữa. Và ngay từ bây giờ đây, ta phải cố sức để chuộc cái lỗi đó với các bạn nghèo kém trong xã hội (đăng trên số 94- báo Ngày Nay năm 1938.)


Phong trào Ánh sáng đã có tác dụng thiết thực trong đời sống dân quê. Hoàng Đạo có bài ghi chép chân thực về một cuộc đi thăm Trại ánh sáng, đăng trên báo Ngày Nay số 49, năm 1937:


 “Tôi cùng vài người bạn đến thăm Trại ánh sáng ở ngoại ô Hà Nội…Vui vẻ chúng tôi lần theo giậu găng thấp và xén đều đến một cái cổng lớn, kiểu giản dị, trên đề mấy chữ: TRẠI ÁNH SÁNG. Một lũ trẻ đương nô đùa thấy chúng tôi bỗng dừng lại và ngạc nhiên nhìn. Mặt mũi sáng sủa, chúng ăn bận lại sạch sẽ tinh tươm, nên trông dễ yêu lắm. Đứa nào cũng hồng hào khỏe mạnh, lộ ra vẻ vui tươi, sung sướng.


Môt bà cụ ôm đứa trẻ vào lòng nói với tôi: “Mời các ông vào chơi. Kìa cháu cống hỉ các ông đi!.” Chúng tôi nhìn dãy nhà lá sáng sủa của trại, thầm khen vẻ đẹp đơn giản của những mái rạ phẳng phiu, của những bức tường không cao, của những mái hiên rộng…Bà cụ nói: Đời tôi bây giờ đơn giản lắm. Thày cháu và u cháu đi làm còn tôi ở nhà trông nom các cháu. Nhờ trời phật phù hộ, từ khi về ở trại này chúng nó được khoẻ mạnh, cả tôi cũng ít sinh chứng nữa. Có lẽ vì đất ở đây lành”.


Là chủ suý của văn phái, trước phong trào rầm rộ , Nhất Linh đã cuộn vào ngọn gió cải cách. Ông không chỉ là người khởi xướng, cổ suý, mà còn hăng hái tham gia trực tiếp. Ngày 13 tháng giêng năm 1938 ông đã đọc diễn văn tại Nhà hát lớn Hải Phòng , với lòng nhiệt huyết. Sau khi nói ý nghĩa, mục tiêu và hành động của Đoàn Ánh Sáng, kết thúc ông nhấn mạnh: Ta không nên nói việc sắp làm là một việc thi ân cho các bạn nghèo. Chúng ta phải tự cho rằng hững hờ với họ là một sự không công bằng, là một tội lỗi nữa. Và ngay từ bây giờ đây, ta phải cố sức để chuộc cái lỗi đó với các bạn nghèo kém trong xã hội(đăng trên số 94- báo Ngày Nay năm 1938


Phong trào Ánh sáng đã có tác dụng thiết thực trong đời sống dân quê làm cho nhiều trí giả cũng thấy mình không thể đứng ngoài cuộc. Bà Vũ Ngọc Phan cất tiếng cổ suý bằng một bài thơ Khuyên người vào Hội ánh sáng đăng trên báo Ngày Nay số 106/ năm 1938, có những đoạn sau:


…Chốn thôn ổ bấy lâu tăm tối


Nghĩ dân quê lắm nỗi lầm than


Miếng ăn đã khổ muôn vàn


Lại còn chốn ở tồi tàn khá thương


…Nay được chốn ra vào thư thả


Buổi hoàng hôn vất vả trở về


Vợ con khoẻ mạnh đề huề


Tuy nghèo lòng cũng hả hê muôn phần


…Kết quả ấy là công Ánh Sáng


Vậy hỡi ai là bạn đồng tâm


Rủ nhau vào Hội cho đông


(còn tiếp)


KHL


phongdiep.net

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đông Tây cổ học tinh hoa (3) - Vũ Bằng 05.08.2019
Đông Tây cổ học tinh hoa (2) - Vũ Bằng 05.08.2019
Đông Tây cổ học tinh hoa (1) - Vũ Bằng 05.08.2019
Nói có sách (tiếp & hết) - Vũ Bằng 05.08.2019
Điếu văn tại Lễ truy điệu Nhất Linh - Vũ Hoàng Chương 01.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (5) - Huỳnh Quang 30.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (4) - Huỳnh Quang 30.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (3) - Huỳnh Quang 25.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (2) - Huỳnh Quang 25.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (1) - Huỳnh Quang 25.07.2019
xem thêm »