tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27182324
04.08.2011
Khúc Hà Linh
Anh em nhà Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh): Ánh sáng và bóng tối (6)

5. Tú Mỡ, cười nửa miệng.


Trong số bát tú của TLVĐ, Tú Mỡ có một vị trí đáng kể. Ông tên thật là Hồ Trọng Hiếu, sinh năm 1900 mất năm 1976.


Tháng 7 năm 1918 ông đỗ bằng đíp lôm, vì nặng gánh gia đình không học tiếp mà bỏ đi làm thư ký Sở Tài chính Hà Nội. Năm 1920 gặp Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) cũng đỗ bằng đíp lôm vào đây làm việc cùng ở phòng 3 kế toán. Họ nhanh chóng làm quen và thân nhau.


Sau khi ở Pháp về, Nhất Linh có ý định làm báo, tìm Tú Mỡ rủ ông cùng cộng tác với mình.


Báo Phong Hoá bộ mới có tôn chỉ: Theo con đường mới, tìm lý tưởng mới, không làm nô lệ ai, không xu phụ một quyền thế nào. Lấy lương tri mà xét đoán, theo lẽ phải mà hành động. Lấy thành thực làm căn bản. Lấy trào phúng làm phương pháp, lấy tiếng cười làm vũ khí… Báo sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt trong sáng, loại bỏ thứ văn lai căng. Theo Tú Mỡ: Nó không làm cách mạng, nhưng nó làm công việc khai phá, dọn đất cho cách mạng gieo hạt sau này.


Trong TLVĐ, Nhất Linh phân công cho mỗi thành viên từng lĩnh vực, không ai được lấn sân. Ví dụ mục Giòng nước ngược do Tú Mỡ phụ trách, mục Bàn ngang do Tứ Ly, tức Hoàng Đạo chăm sóc, mục Những hạt đậu dọn do Nhát dao cạo tức Khái Hưng đảm nhiệm. Bấy giờ có hai người là Hoàng Đạo và Tú Mỡ đang làm công chức nhà nước. Tú Mỡ - thư ký Sở tài chính, còn Hoàng Đạo làm tham tá lục sự toà án, nên họ vừa lo việc công sở lại đảm đương công việc báo đã giao, thật vất vả mệt mỏi vô cùng. Họ thường gặp nhau vào tối thứ 7 tại trụ sở báo số 80 phố Quán Thánh - Hà Nội để bàn công việc. Tú Mỡ không chỉ viết thơ châm biếm, trào phúng mà ông còn viết kịch, viết tuồng đăng trên báo Ngày Nay. Lĩnh vực nào ông cũng sâu sắc, gây được ấn tượng trong toà soạn và bạn đọc.


Báo Phong Hoá đã nghĩ tới việc đi thực tế sáng tác cho các thành viên. Họ chuẩn bị đồ ăn thức uống rồi rủ nhau về các vùng quê gần Hà Nội thực tế. Khi thì đi về đền Lý Bát Đế, khi thì đi chùa Trầm, chùa Phật Tích, chùa Tiên. Có lần về Trung Hà rẽ vào thăm thi sĩ Tản Đà.  Sau khi trở về lại có nhiều bài phóng sự mới rất xuất sắc. Một lần đi Trung Hà (Sơn Tây) về, gặp một xe ô tô có hai người chạy theo che lọng cho mui xe. Biết đấy là bọn quan lại tham nhũng, nên về nhà Tú Mỡ đã viết được một bài đăng trên mục Giòng nước ngược rất đắc địa:


Có khi đón các ông to


Cái ngài ấy ngự ô tô tân thời


Bốn thằng nửa ngợm nửa người


Chạy theo vác lọng che ngoài mui xe.


Kể từ khi Chính phủ Bình dân lên cầm quyền ở Pháp, ở Việt Nam được cởi mở hơn trong sinh hoạt báo chí. Các nhà báo dễ thở hơn, báo chí ít bị kiểm duyệt hơn. Tú Mỡ nói, ông nhờ làm báo cùng Nhất Linh mà tiến bộ hơn nhiều. Không chỉ làm thơ trào phúng còn làm thơ trữ tình, viết cả tường thuật trào lộng.


Chiến tranh thế giới thứ hai sắp bùng nổ, chính phủ thực dân thẳng tay bóp nghẹt các hoạt động văn hoá tiến bộ và báo Ngày Nay bị cấm. Tú Mỡ bị giám đốc Sở tài chính doạ cách chức và bỏ tù, bắt cam đoan không được cộng tác với báo chí nữa. Giữa lúc ấy tháng 9 năm 1940 Nhật vào chiếm Đông Dương và sau đó đảo chính Pháp. Ngày Nay lại tục bản. Tú Mỡ lại tung bút đả kích,  chiến đấu bằng ngòi bút trào phúng của mình, dù chỉ là nghiệp dư.


Khi cách mạng tháng Tám bùng nổ, trừ Thạch Lam mất năm 1942 vì ho lao, còn mấy người trong báo Ngày Nay ly tán theo quan niệm sống mới của mỗi người. Sau Tổng tuyển cử và khi toàn quốc kháng chiến, Tú Mỡ theo Bộ tài chính lên chiến khu Việt Bắc, rồi ít lâu sau chuyển sang công tác văn hoá văn nghệ. Từ đó Tú Mỡ thành Bút Chiến Đấu và Giòng nước ngược đã hoá thành Nụ cười kháng chiến. Thỉnh thoảng ông đi công tác lại gặp nhà thơ Thế Lữ, Xuân Diệu từng cộng tác với báo Phong Hoá, Ngày Nay- cơ quan ngôn luận chính thức của Tự Lực Văn Đoàn, một tổ chức văn học đặc sắc trong nền văn học nước nhà những năm ba mươi của thế kỷ trước.


6. Thế Lữ “đa sự”


Thế Lữ là bút danh của Nguyễn Thứ Lễ. Ông sinh ngày 6 tháng 10 năm 1907 tại ấp Thái Hà, Hà Nội, trong một gia đình viên chức. Ông đảo vị trí chữ Ư và Ê trong hai chữ Thứ Lễ thành Thế Lữ, thành bút danh, đến nỗi ít người biết ông họ Nguyễn.


Quê nội của ông là làng Phù Đổng, Tiên Du, Bắc Ninh. Khi nhỏ sống ở Lạng Sơn. Những năm 1925- 1928 ông theo học thành chung ở Hải Phòng. Học xong năm thứ ba bậc thành chung, lại về Hà Nội thi đỗ dự thính  trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, rồi cũng chỉ học một năm lại bỏ. Năm 1932 tham gia TLVĐ, trở thành cây bút chủ lực trên báo Phong Hoá, Ngày Nay, Tinh Hoa. Thế Lữ nổi tiếng về thơ với bài thơ Nhớ Rừng và suốt thời gian phong trào thơ mới. Sau đó ông viết truyện trinh thám đăng trên các báo làm mê say người đọc. Ông là người lắm tài, từng viết truyện ngắn Bình La Thôn, và đến thời kỳ quảng bá cho phong trào ánh sáng, ông còn viết cả ca khúc  khích lệ phong trào.


Thế Lữ có thiên bẩm văn học nghệ thuật. Ông là người đa tài, đa tình , đa sự. Hết làm thơ, viết truyện, viết báo lại quay sang làm kịch. Từ 1937 khi có những cộng tác viên trẻ tham gia, ông lập ra ban kịch Thế Lữ. Ban kịch thuê nhà ở  cạnh  Đầm Sét có năm gian nhà gỗ cao ráo để luyện tập. Đấy là cái đầm dài, hai bên bờ có cây xanh và  thấp thoáng những căn nhà rất đẹp. Muốn vào tận nơi ban kịch ở phải có thuyền chở vào trong. Ngày máy bay Mỹ bắn quân Nhật, nhiều người dân Hà Nội đã về đây lánh nạn, vừa tránh đạn bom lại được xem diễn kịch. Thế Lữ cho dựng vở Kinh Kha tích cổ, và dựng vở Tục  Luỵ, chuyện mới do Khái Hưng soạn thơ. Sau này được đưa ra Nhà Hát Lớn thành phố công diễn. Thế Lữ không chỉ là diễn viên xuất sắc về sau làm đạo diễn rất giỏi. Cặp vợ chồng nghệ sỹ Thế Lữ - Song Kim từng gây tiếng vang trong giới sân khầu và được khán giả cả nước ái mộ. Những tác phẩm kịch in trên báo Ngày Nay nhiều vở được lên sàn diễn.


Thế Lữ tạ thế ngày 3 tháng 6 năm 1989, thọ 83 tuổi.


Nghệ sỹ nhân dân Nguyễn Đình Nghi là con trai Thế Lữ đã kế nghiệp cha trên con đường nghệ thuật sân khấu..


7. Trần Tiêu, thuần hậu nét quê


Ông sinh năm 1900, tại làng Cổ Am, Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Trần Tiêu là con vị  quan Tuần phủ Trần Mỹ, em ruột  Khái  Hưng. Ông có tấm lòng nhân hậu, thông cảm sâu sắc với đời sống con người lao khổ sống nơi đồng quê tối tăm. Đậu bằng thành chung, Trần Tiêu không theo nghiệp cha đi làm quan, mà mở trường dạy tư. Khi đã vào tuổi 36, ông mới vào làng văn, và trình làng tác phẩm tiểu thuyết Con Trâu. Thế là trong TLVĐ, ngoài ba anh em ruột Nhất Linh còn có hai anh em Khái Hưng, Trần Tiêu. Khái Hưng và Trần Tiêu từng viết chung truyện dài Dưới ánh trăng  in nhiều kỳ trên Ngày Nay bắt đầu từ số 33 năm 1936. Mặc dù từ nhỏ đã sống trong cảnh được chiều chuộng cậu ấm, nhưng Trần Tiêu lại có một tâm hồn rất đa cảm. Trần Tiêu cảm thông với con người dân quê, sau luỹ tre làng nắng mưa và chịu nhiều vất vả khốn khó. Nó được thể hiện từ tên tác phẩm, như Con trâu, Chồng con, Sau luỹ tre, Làng Cầm đổi mới, Truyện quê… cho đến những câu văn giản dị có chút cảm thương, chia sẻ. Người đọc cảm nhận được ngòi bút của ông đầy ắp những chi tiết của đời sống con người vùng đồng bằng châu thổ, tiềm ẩn tầng văn hoá lâu đời, mà nổi bật là lòng chân thành, tình nghĩa qua phong tục, tập quán quê hương.


Ông tạ thế khi 55 tuổi.


Người con trai ông là nghệ sỹ nhân dân Trần Bảng đã theo nghiệp văn chương của cha, làm rạng rỡ ngành nghệ thuật chèo sau này.


8. Xuân Diệu, sao hôm sao mai


Xuân Diệu là ngôi sao thứ 8 trong bát tú TLVĐ. Có người bình phẩm đó là ngôi sao hôm, nhưng cũng là sao mai …


Ông tên đầy đủ là Ngô Xuân Diệu, sinh ngày 2 tháng 2 năm 1916 tại quê ngoại Gò Bồi, Tùng Giản, Tuy Phước, Bình Định. Quê nội ông làng Trảo Nha, Can Lộc, Hà Tĩnh, bởi thế ông còn có bút danh là Trảo Nha.


Xuân Diệu lớn lên ở Quy Nhơn, đỗ tú tài rồi đi dạy học tư, làm viên chức ở Mỹ Tho. Sau đó ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn, rồi trở thành thành viên TLVĐ(1938-1940).


Người đời chỉ biết Xuân Diệu là người làm thơ tình, mấy ai biết ông còn là cây viết truyện ngắn, phóng sự. Truyện ngắn đầu tay của Xuân Diệu có tên là Mèo hoang đăng trên báo Ngày Nay số 81 năm 1937, được giới thiệu là một truyện ngắn hay là một bài thơ viết bằng văn xuôi thật lạ kỳ. Có thể nói Xuân Diệu trước khi dừng lại ở nàng thơ, thì ông đã trải qua nhiều thể loại văn học, như  truyện ngắn Cái hoả lò, Thương vay, rồi kịch Đoá hồng. Bài thơ Cảm Xúc lần đầu xuất hiện trên số 96 báo Ngày Nay  năm 1938, với câu mở đầu “Là thi sĩ nghĩa là ru với gió” sau này đã trở thành đề tài tranh luận quan niệm về thơ, về người nghệ sĩ, trong đó nhà thơ Sóng Hồng có bài Là thi sĩ, mà bạn đọc nhiều thế hệ từng thuộc.


Xuân Diệu tốt nghiệp cử nhân Luật năm 1943, từng làm tham tá thương chánh Mỹ Tho. Ngoài sáng tác thơ, ông còn viết cả phóng sự, bút ký in trên các  tờ báo Ngày Nay và Tiên phong. Ông cũng là một trong chủ soái của phong trào thơ mới. Năm 1938 nhà xuất bản Đời Nay cho ra mắt bạn đọc tập Thơ Thơ của Xuân Diệu rất được công chúng mến mộ. Sau cách mạng tháng Tám, ông tham gia kháng chiến và trở thành nhà thơ cách mạng, người cộng sản, từng được cả nước biết đến.


Ngoài những trụ cột trên, TLVĐ còn những cộng tác viên thường có tác phẩm trên báo Ngày Nay như: Thanh Tịnh, Huy Cận, Mạnh Phú Tư, Đỗ Đức Thu, Bùi Hiển, Kim Hà, Đỗ Tốn, Trọng Lang (Trần Tán Cửu), Vũ Trọng Can,  Đoàn Phú Tứ, Phạm Văn Bính… Do hạn chế khuôn khổ cuốn sách chúng tôi không đề cập đến.


________


[1] Giáo sư Văn Tạo trong tạp chí Khoa học và Tổ Quốc, số xuân Bính Tuất cho rằng tôn chỉ TLVĐ  đăng trên Phong Hoá số 101, ngày 8-6 –1934.


[2]  Thành viên chính phủ gồm: Chủ tịch Hồ Chí Minh; Phó chủ tịch Nguyễn Hải Thần; và 11 bộ trưởng, trong đó có: Bộ trưởng nội vụ Huỳnh Thúc Kháng; Bộ trưởng quốc phòng Phan Anh; Bộ trưởng tài chính Lê Văn Hiến; Bộ trưởng kinh tế Chu Bá Phượng; Bộ trưởng giáo dục Đặng Thai Mai; Bộ trưởng tư pháp Vũ Đình Hoè; Bộ trưởng canh nông Bồ Xuân Luật…


[3]   Nguyên văn bài thơ in trên báo Ngày Nay số 96 – năm 1938, như sau:


Buồn gieo theo gió ven hồ


Đèo cao quán chật, bến đò lau thưa


Đồn xa quằn quại bóng cờ


Phất phơ buồn tự thời xưa thổi về


Ngàn năm sực tỉnh, lê thê


Trên thành son nhạt- chiều tê cúi đầu


Bờ tre rung động trống chầu


Tưởng chừng còn vọng trên lầu ải quan


Đêm mơ lay ánh trăng tàn


Hồn xưa gửi tiếng thời gian, trống dồn


 


Phần 4. Tự Lực Văn Đoàn, ngôi sao rực rỡ trên bầu trời văn học


TLVĐ là tổ chức văn chương  tự lực. Họ tự lực về tài chính, không chịu ảnh hưởng của nhà cầm quyền. Họ tự lực về chuyên môn và khuynh hướng nghệ thuật. Họ tự tôn người chủ soái, cùng nhau tuân theo quy chế hoạt động. Lãi ăn lỗ chịu, cùng nhau gánh vác. Vì thế, khi thuận lợi thì phát triển, khi khó khăn thì lùi vào thế thủ. Sau khi sảy đàn tan nghé, Thạch Lam mất năm 1942, Hoàng Đạo chết bên Tàu năm 1948, Khái Hưng chết năm 1946, Nhất Linh lưu vong nước ngoài… TLVĐ không hoạt động chứ không tuyên bố giải tán. Nhất Linh trở lại  Sài Gòn không hoạt động chính trị mà tập trung vào văn nghệ. Ông làm chủ tịch Hội Bút Việt, mở nhà xuất bản Phượng Giang, sáng  tác  mới, ra giai phẩm Văn Hoá ngày nay, in lại tác phẩm của TLVĐ…


 Duy Lam con trai bà Nguyễn Thị Thế, người gọi Nhất Linh là bác, viết văn từ 1953, đã từng gửi truyện ngắn của mình cho bác và thành thật hỏi rằng, có thể theo nghiệp văn chương được hay không? Nhất Linh đã đọc kỹ và trả lời khuyến khích có thể theo nghề văn được. Thế rồi sau tết năm ấy, Duy Lam nhận được một bản viết tay, do Nhất Linh gửi đến. Nội dung là tuyên bố trong số bốn người:  Đỗ Đức Thu, Duy Lam, Tường Hùng, Nguyễn Thị Vinh, chỉ có Đỗ Đức Thu được gia nhập TLVĐ còn lại là dự bị. Khi thấy sách của Đỗ Đức Thu được xếp vào trong văn chương TLVĐ đã có nhiều người không hiểu, điều này đã làm cho các nhà nghiên cứu, sau này gặp khó khăn. Bởi Nhất Linh khi ra quyết định công nhận chỉ chép tay ra 5 bản, gửi cho bốn người mỗi người một bản, còn lưu giữ một bản. Bên ngoài không ai biết gì vì người đứng đầu văn đoàn chưa từng công bố. Sau này Nhất Linh giải thích rằng, TLVĐ có nhiều người đã chết(Thạch Lam, Hoàng Đạo, Khái Hưng, Trần Tiêu), nhiều người ở lại miền Bắc(Tú Mỡ, Thế Lữ, Xuân Diệu) nên cần bổ sung, và sự gia nhập sẽ được hợp thức hoá khi cần thiết.


Nói lại sự kiện này để thấy rằng,  TLVĐ chỉ chấm dứt sau ngày Nhất Linh mất, tức là sau ngày 7-7-1963, khi người chủ suý của nó vĩnh viễn ra đi.


Nhiều nhà nghiên cứu văn học cho rằng TLVĐ chỉ hoạt động có hiệu quả trong 10 năm (1932- 1942). Có thể là họ  tính từ ngày tờ Phong Hoá ra đời đến khi Thạch Lam mất vào 27 tháng 6 năm 1942? Dù như thế thì trong  khoảng một thập niên, TLVĐ đã làm nên sự nghiệp rực rỡ, đóng một dấu son đậm trong văn đàn nước nhà. Chỉ đáng tiếc về cuối kết cục thật ảm đạm, bởi một số người trong nhóm đã xa dời tôn chỉ văn chương khi mới thành lập. Mấy tháng trước khi Thạch Lam qua đời, ngôi nhà cây liễu đầu làng Yên Phụ bên ven hồ Tây đã vắng dần các văn nhân. Nhất Linh đã hoạt động chính trị đang ở Trung Quốc; Hoàng Đạo và Khái Hưng bị Pháp bắt đi an trí; Thế Lữ  sợ liên can cũng bỏ đi; nhà thơ Huyền Kiêu đã về quê Vân Đình, chỉ còn Nguyễn Tường Bách và Đinh Hùng ở gần còn lui tới. Thạch Lam dạo ấy đang ốm, một mình lặng lẽ, có lần dặn bạn còn lại: Mật thám giăng lưới và rình mò quanh nhà đấy, các anh hãy tạm lánh đi kẻo liên luỵ.


Gần đây có những công trình nghiên cứu, đánh giá cống hiến của họ tương đối công bằng, theo tinh thần công minh của lịch sử.


Nhìn tổng quát, TLVĐ  là nhóm người có tài năng, tâm huyết, có cùng chí hướng trong sự nghiệp đổi mới cách tân văn chương. TLVĐ đã nói lên khát vọng dân tộc dân chủ của quần chúng; đấu tranh đòi giải phóng cá nhân, đòi tự do hôn nhân, quyền sống của phụ nữ và chống lại lễ giáo phong kiến trói buộc. TLVĐ chủ trương cải cách xã hội, đồng cảm nỗi khổ của người lao động và đả kích gay gắt bọn tham quan ôm chân Pháp. Họ đề cao tinh thần dân tộc, có hoài bão về một nền văn hoá dân tộc, trên cơ sở kết hợp truyền thống và hiện đại, giữa phương Đông và phương Tây… Đồng thời họ chống lai căng, phủ nhận xã hội thối nát đương thời.


Một ưu điểm rõ rệt nhất là họ có tài tổ chức. Tổ chức bộ máy gọn nhẹ và hiệu quả. Họ thu phục con người bằng tình tương thân tương ái. TLVĐ lập ra quỹ cứu tế tương trợ ban biên tập, hoặc trị sự khi ốm đau, xảy việc tang gia, hoạ hoạn, có khi trừ vào lương cũng có trường hợp cho không, để cho các thành viên an tâm làm việc. Họ trân trọng, cư xử tử tế với cộng tác viên, tạo cho mọi người lương cao, và làm việc hết mình vì mục tiêu chung. Họ tổ chức hoạt động nghiệp vụ báo chí, in ấn, phê bình, đặt giải thưởng… một cách bài bản chuyên nghiệp. Họ năng động. Với con số biên chế chưa đến 10 người, nhưng TLVĐ đã làm  việc của hai cơ quan xuất bản: Họ vừa làm báo vừa in sách của nhóm, lại cho in thuê kiếm lời. Đó là chưa kể  làm quảng cáo, phát hành rộng rãi đáp ứng nhu cầu bạn đọc trong nước. Khi báo bán chạy họ biết làm kinh doanh, cho gọi cổ phần, mỗi cổ phần 500đồng, và mua nhà in với những thiết bị khá đồ sộ. Khi nhà xuất bản Đời Nay có máy in, Nhất Linh đã có tầm nhìn xa, chủ trương xin chính phủ cấp đất cho TLVĐ ở vùng Cầu Lính, gần núi Tam Đảo, Vĩnh Yên. Nếu có đất, sẽ cử người quản lý khai khẩn trồng trọt, chăn nuôi, xây dựng cho TLVĐ một cơ sở kinh tế, để người trong TLVĐ, đặc biệt mấy người đang là công chức có thể thoát ly công việc nhà nước sống được bằng sáng tác văn chương. Họ dự kiến lập đồn điền, xây trường học, nhà trẻ, câu lạc bộ, phòng thuốc v.v, mua sắm phương tiện tạo nên cuộc sống văn minh. Đó là những ý tưởng tiến bộ, có mầm xã hội chủ nghĩa..


Nhưng đơn xin đất bị nhà cầm quyền bác bỏ.


TLVĐ có quan điểm, tư tưởng tiến bộ trong văn chương, thể hiện trong 10 điều tôn chỉ khi thành lập: trẻ trung, yêu đời, tin ở sự tiến bộ.  Họ dùng các loại hình nghệ thuật như văn, thơ, hí họa, ảnh thời sự, truyện cười… để đả phá tàn dư lạc hậu trong xã hội, thúc đẩy  xây dựng đời sống mới. Họ luôn luôn tìm tòi sáng tạo nhiếu nghệ thuật làm báo dể hấp dẫn bạn đọc. Trên báo Ngày Nay, các chuyên mục đã thực sự gây chú ý của bạn đọc: Vấn đề thuộc địa, mỗi số đi vào một khía cạnh có ý nghĩ chính trị diễn ra trên đất nước. Mỗi tuần lễ một, thì ghi lại những thông tin mọi mặt đời sống. Mục Người và việc nêu ra các vụ việc xảy ra với những lời bình luận sâu sắc. Đặc biệt mục Trông và tìm đã lay động nhiều suy nghĩ của người quan tâm tới vận mệnh của đất nước. Ngoài ra còn các tiểu mục như Xã giao, Phụ nữ, Trào phúng cười nửa miệng và Lượm lặt. Lại còn cả Điểm sách, Điểm thơ, Tin thơ. Dí dỏm nhất là mục Tập tranh vân đẩu. Dưới bút danh Tứ Ly, các bài viết ngắn, sắc lạnh mà hóm hỉnh, sâu cay đả kích các nhân vật trong xã hội thượng lưu bấy giờ, như nghị viên Ngô Trọng Trí, Phạm Kim Bảng, Bùi Trọng Ngà, Nguyễn Đình Cung, Tô Văn Lượng, cho đến ông phủ Hàm, dân biểu Phạm Huy Lục đến các ký giả Bùi Xuân Học, Phạm Bá Khánh…


Họ vừa quan liêu,  hợm hĩnh, ba hoa, nịnh hót bề trên và thiếu nhân cách lại lên mặt dạy đời. Mục Hạt sạn được chăm chút thường xuyên có ý nghĩa văn hoá, nó giống như mục dọn vườn bây giờ, hài hước những câu văn sai, hỏng, hoặc cách dùng từ sai ngữ pháp, cốt làm cho trong sáng của tiếng Việt. Phần còn lại là giới thiệu tác phẩm văn học, tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự điều tra, dịch thơ Đường, giới thiệu tinh hoa văn học nước ngoài qua một số truyện dịch tiêu biểu…


Họ tổ chức các cuộc thi tìm hiểu văn chương, thi ô chữ như các trò chơi thời bây giờ. Một lần Thạch Lam, Thế Lữ, Khái Hưng, Hoàng Đạo viết chung một truyện ngắn. Ban đầu tổ chức bốc thăm xem ai được viết đoạn truyện đầu tiên. Người ấy có quyền chọn đề tài và viết phần một. Căn cứ vào cốt  truyện ấy mà  người viết tiếp đoạn sau phải ăn nhập với đoạn trên của người khác, thành tác phẩm  mạch lạc. Họ đăng lên bốn kỳ báo và ra cuộc thi nếu ai chỉ ra số báo nào, là của nhà văn nào viết. Nói đúng sẽ có giải. Giải thưởng tuy giản dị mà có ý nghĩa. Giải nhất được tặng một năm báo và bốn cuốn sách của nhà xuất bản. Giải nhì tặng một năm báo và giải ba được tặng nửa năm báo. Kết quả cuộc thi có 632 người dự. Giải nhất trao cho ông Đỗ H, giải nhì ông Đinh Hữu Định, giáo học ở Ninh Giang, giải ba là cô Lê Thị Xuyến ở địa chỉ 19 rue Hl. Pétain. Khi xảy ra cuộc bút chiến giữa hai tờ báo Ngày Nay và Tân Việt Nam, thì họ lại nghĩ ra cách thành lập Ban thẩm phán danh dự để họp và phân xử có lý có tình rồi tường trình trên mặt báo. Chính việc này coi như một cú hích làm cho báo bán rất chạy thời bấy giờ.


TLVĐ đã thổi luồng gió mới mẻ vào bầu trời văn học nước ta. Phong trào thơ mới có mảnh đất màu mỡ phát triển ngày càng rực rỡ. Nghệ thuật dựng truyện, diễn biến tâm lý các tuyến nhân vật truyện ngắn, tiểu thuyết đã  tinh tế điêu luyện. Lĩnh vực hội hoạ, ảnh mỹ thuật có bước nhảy dài, nâng cao so với trước. Câu văn trong sáng, giản dị mới mẻ, hình ảnh chân thực không sáo rỗng, không lệ thuộc vào lối văn biền ngẫu, cổ lỗ lổn nhổn những chữ nho, hoặc lòng thòng lối văn Tây dịch.


Từ cách đây hơn bảy chục năm, các nhà văn TLVĐ đã quan tâm tới đời sống cơ sở, cụ thể là đời sống làng quê. Báo chí của họ có những chuyên đề  sát sao gần gũi với con người. Từ chuyện gà nuôi bị toi, bị đi tướt, dịch tả đến chuyện ruộng đất chật hẹp, người nông dân phải dời làng di dân, cho đến chuyện nước lụt và thuỷ triều, đê điều, đều được đưa vào các chuyên đề có phân tích, diễn giải. Chúng ta có thể hiểu vì sao TLVĐ đã chiếm được cảm tình của bạn đọc nhiều nhất.


Chúng tôi rất tán thành ý kiến của Lê Thị Đức Hạnh khi đánh gía về thái độ chính trị của TLVĐ do Nhất Linh cầm đầu(Tạp chí văn học, số 3-1991). Nhất Linh  không hề theo giặc, thực chất là ông nhất quán chủ trương chống Pháp theo tư tưởng của mình. Bằng cớ là trên tờ Phong Hoá, Ngày Nay, cơ quan ngôn luận  của TLVĐ đã đăng nhiều bài đả kích bọn quan lại ôm chân Pháp, những chân dung ông nghị gật với đủ cả hình dạng và phẩm chất, đức độ rất đáng nực cười. Các câu chuyện châm biếm Pháp tạo dựng cho Bảo Đại hồi loan, và đả kích bóng gió giặc Pháp thông qua hàng loạt bài của Hoàng Đạo, hàng loạt biếm hoạ của Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, hoặc tiểu phẩm cười cợt, thơ trào phúng của Tú Mỡ đã làm hả hê bạn đọc lúc bấy giờ....


 Xin nhắc lại một vài chi tiết để bạn đọc nhớ lại. Một lần báo Ngày Nay ra số đặc biệt. Hoạ sĩ Gia Trí vẽ bìa cảnh một cái lều tranh xơ xác ngoài có người đàn bà lam lũ và mấy đứa trẻ bụng ỏng đít vòn trông thật thảm thương. Bên dưới có dòng phụ đề: “Bố cu mẹ đĩ rúc vào nằm”. Nhà chức trách cho là có ý nói xấu chế độ ra lệnh đình bản ba tháng, còn định đưa chủ báo Nhất linh ra toà, sau  lại thôi, nhưng cảnh cáo nặng. Một lần khác có bức hí hoạ, vẽ Lý Toét ôm con gà mái từ nhà quê ra Hà Nội biếu ông Thống sứ. Nhà cầm quyền suy diễn rằng con gà mái dịch ra tiếng Việt nghĩa bóng là “kỹ nữ” có ý châm chọc Thống sứ có máu háo sắc. Họ làm ầm lên.  Phong Hoá đầu năm 1936 bị đóng cửa.  Trong khi các báo khác như: Nam Phong nhận trợ cấp của Pháp mỗi tháng 600đồng, báo Trung Bắc Tân Văn mỗi tháng được trợ cấp 500đồng (mỗi lạng vàng khi đó là 30đồng) thì TLVĐ hoàn toàn tự lực. Đến khi làm đơn xin chính phủ cấp đất cho toà báo, bị Pháp gạt toẹt không cho. Thế nhưng Ngô Văn Phú, chủ báo Đông Pháp được quan thầy cấp cho mấy trăm mẫu ruộng bãi bồi ở Thái Bình. Sau này vào Sài Gòn, Nhất Linh cũng không chấp nhận chính quyền Ngô Đình Diệm, ông chống đối quyết liệt, đã lấy cái chết để cảnh cáo chế độ chà đạp tự do của con người..


Chỉ hoạt động chưa đến 10 năm, TLVĐ đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ và toàn diện trong đời sống văn học thời bấy giờ. Nó không chỉ đáp ứng nhu cầu thưởng thức thông tin, văn nghệ của quần chúng, mà còn thu hút các văn nghệ sĩ tài năng nhiều ngành: văn, thơ, nhạc hoạ, kiến trúc… tham gia sáng tác. Chỉ riêng về lĩnh vực văn hoá tư tưởng thời bấy giờ, TLVĐ có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống xã hội.


Nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà phê bình cả hai miền Nam Bắc đã bỏ công sức tìm hiểu, đánh gía về phong trào văn học này với nhiều khía cạnh khác nhau. Theo chỗ chúng tôi biết, chỉ nói tới vấn đề khái quát “Dấu ấn của một văn đoàn” có sáu chuyên luận (Phạm Thế Ngũ, Trương Chính, Phan Cự Đệ, Lê Thị Đức Hạnh, Trịnh Hồ Khoa, Tú Mỡ). Chỉ một chân dung của Nhất Linh có tới 10 tác giả khảo luận, như Vũ Ngọc Phan, Bùi Xuân Bài, Bạch Năng Thi, Thế Phong, Thế Uyên, Vũ Hạnh, Tường Hùng, Nguyễn Mạnh Côn…


Chỉ một con người Khái Hưng trong cuốn sách “Khái Hưng nhà tiểu thuyết xuất sắc” có tới  ba chục bài của gần ba chục tác giả: Vũ Ngọc Phan, Trần Khánh Triệu, Dương nghiễm Mậu, Hồ Hữu Từơng, Vu Gia, Nguyễn Vỹ, vân vân.


Chỉ một Thạch Lam, mà 13 tác giả để tâm nghiên cứu viết bài, như: Nguyễn Tuân, Phạm văn Phúc, Phong Lê, Hà Văn Đức, Hồ Dzếnh, Thế Lữ, Đỗ Đức Thu, Đinh Hùng v.v. (Con số này  chắc chắn chưa thể nào đầy đủ). Các nhà nghiên cứu mỗi người một vẻ, với đủ các góc nhìn khác nhau: có khi thì đi sâu vào cách tân trong văn xuôi TLVĐ, có khi đi sâu vào khuynh hướng lãng mạn phản kháng trong Nhất Linh, lại có bài Nghĩ về lá rụng trong văn Khái Hưng….


Trương Chính trong bài Dưới mắt tôi, ca ngợi Khái Hưng có lối văn giản dị thanh tao, bóng bẩy nhưng trong sáng, nhịp nhàng nhưng không mất vẻ tự nhiên. Nhiều câu văn phảng phất âm điệu thơm tho, thấm vào hồn ta như mùi hương đượm, (Tổng tập Văn học Việt Nam tập 24B- NXB KHXH- 1997)


Hoàng Xuân Hãn , từng là Chủ tịch tiểu ban chính trị trong Phái đoàn Việt Nam ở hội nghị Đà Lạt năm 1946 (do Nguyễn Tường Tam, Bộ trưởng ngoại giao là Trưởng đoàn) trên Tạp chí Sông Hương số 37- tháng 4/1989 phát biểu:" Tôi nghĩ rằng những nhà văn học, sử gia sẽ phải thừa nhận giá trị của thành viên trong nhóm TLVĐ và phải bắt đầu lại việc xem xét nghiên cứu các tác phẩm của họ... TLVĐ là nhóm cải cách đầu tiên của nền văn học hiện đại.”


Phan Cự Đệ trong cuốn " TLVĐ con người và văn chương – NXB Văn Học-1990"  nhận xét: Thành công  của TLVĐ trong xây dựng nội tâm nhân vật tinh tế hơn so với nhiều tiểu thuyết trước đó, kết cấu hiện đại hơn theo quy luật tâm lý, không theo chương hồi. Ngôn ngữ giản dị, trong sáng giàu khả năng diễn đạt, gần gũi tâm hồn dân tộc.


Các nhà nghiên cứu dễ nhất trí khi nói về tiểu thuyết TLVĐ, rằng họ có công lớn trong việc đổi mới nền văn học vào những năm ba mươi của thế kỷ trước, đổi mới từ quan niệm xã hội cho đến việc đẩy nhanh các thể loại văn học trên con đường hiện đại hoá làm cho ngôn ngữ trở nên trong sáng và giàu có hơn.


“ Các tác phẩm của TLVĐ thấm đượm tinh thần nhân văn, tinh thần chống lễ giáo phong kiến, chống các hủ tục. Cùng với ý thức đả kích những kẻ xu phụ thực dân, châm biếm thói hư tật xấu trong xã hội là tinh thần cảm thông với những nỗi khổ cực, sự lam lũ bần cùng của người lao động; tinh thần đề cao tự do cá nhân, giải phóng phụ nữ, hướng theo những tư tưởng  nhân đạo, bình đẳng bác ái, của thời kỳ Mặt trận Dân chủ” (Viện văn học- Văn chương TLVĐ- tập 1, NXB GD, 1999).


Nhà thơ Huy Cận từng là cộng tác viên của TLVĐ, trong Hội thảo về văn chương TLVĐ do trường Đại học Tổng hợp và nhà xuất bản Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp tổ chức tháng 5 năm 1989, đánh giá:" TLVĐ đã đóng góp lớn vào văn học sử Việt Nam… Đã góp phần lớn vào nghệ thuật tiểu thuyết, vào tính hiện đại của tiểu thuyết, đóng góp vào tiếng nói và câu văn của dân tộc.”


Với Nhất Linh, ông đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển tiếng nói, câu văn dân tộc làm cho nó ngày càng trong sáng hơn, giàu đẹp hơn, đã đưa tên tuổi ông vào lịch sử văn học dân tộc: Đoạn Tuyệt là một kiệt tác trong văn học Việt Nam hiện đại(Trương Chính). Với Hoàng Đạo đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của văn học Việt Nam thời kỳ hiện đại.


Với Khái Hưng, đó là một nhà tiểu thuyết có biệt tài, và người ta có thể gọi ông là nhà văn của thanh niên. Ông rất am hiểu tính tình tuổi trẻ. Phần đông thanh niên trí thức Việt Nam là những độc giả trung thành của ông và phụ nữ chiếm số đông nhất.(Nhà văn hiện đại, tập 2- NXB KHXH, 1989) .


(còn tiếp)


phongdiep.net


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thương nhớ mười hai: Tháng Giêng mơ về trăng non rét ngọt - Vũ Bằng 03.02.2019
Bình “Đào lê mỹ tửu” của Thạch Lam - Vũ Bằng 27.01.2019
Tam Ích Lê Nguyên Tiệp - Một lời nguyện thiết tha: Xin cho tôi chết lẹ - Vũ Bằng 27.01.2019
Sương Xuân và hoa đào - Vũ Thư Hiên 27.01.2019
Doãn Mẫn - “Biệt ly” mà không biệt ly - Hoài Anh 22.01.2019
Lê Yên - nhạc sỹ thuộc thế hệ đầu của tân nhạc Việt Nam - Hoài Anh 22.01.2019
Dương Thiệu Tước và “Tiếng Xưa” - Hoài Anh 21.01.2019
Phù Dung ơi, vĩnh biệt! (tên cũ là "Cai" -Kỳ cuối) - Vũ Bằng 20.01.2019
Về miền an lành - Triệu Xuân 12.01.2019
Nguyễn Xuân Khoát - Người mở ra buổi “bình minh” của lịch sử tân nhạc - Hoài Anh 11.01.2019
xem thêm »