tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29387578
Truyện dân gian Việt Nam và thế giới
01.08.2011
Antoine Galland
Nghìn lẻ một đêm (4)

CHUYỆN CỤ GIÀ THỨ HAI VÀ HAI CON CHÓ ĐEN


Thưa vị thần đứng đầu các đấng thần linh, xin ngài biết cho rằng hai con chó đen mà ngài trông thấy kia và tôi là ba anh em trai. Tôi là em út. Cha chúng tôi qua đời để lại cho anh em chúng tôi mỗi người một nghìn đồng xơcanh[1]. Với số vốn ấy, ba anh em tôi bắt tay làm cùng một nghề như nhau: buôn bán. Sau khi mở cửa hiệu được ít lâu, người anh cả của tôi, tức là một trong hai con chó đen mà ngài trông thấy kia, quyết định lên đường đi buôn ở nước ngoài. Với ý định ấy, anh bán hết tài sản của mình để mua những hàng hóa hợp với sở thích người nước ngoài.


Anh ra đi và vắng nhà một năm tròn. Vừa lúc ấy, có một người rách rưới đến trước cửa hiệu của tôi. Tôi ngỡ anh ta là người hành khất.


- Cầu Thượng đế giúp đỡ bạn. - Tôi nói.


- Cầu Thượng đế phù hộ cho cả bạn. - Người ấy đáp. - Lẽ nào bạn không nhận ra tôi?


Tôi nhìn anh ta và nhận ra:


- Ôi anh cả, - tôi thốt lên và ôm choàng lấy anh, - làm sao em có thể nhận ra anh trong tình cảnh này?


Tôi mời anh vào nhà, hỏi thăm sức khỏe và kết quả chuyến đi của anh.


- Chú hỏi chuyện đó làm gì. - Anh đáp. - Nhìn anh đây hẳn chú đã rõ. Thuật lại chi tiết những nông nỗi đã xảy ra cho anh một năm vừa qua và đưa anh đến tình cảnh này thì chỉ làm cho anh thêm buồn bã mà thôi.


Tôi đóng cửa hiệu ngay, rồi dẫn anh đi tắm và đưa cho anh những bộ quần áo đẹp nhất mà tôi có.


Kiểm tra sổ sách thu nhập, thấy vốn liếng mình đã tăng gấp đôi, có nghĩa là tôi có những hai nghìn xơcanh, tôi liền chia cho anh tôi một nửa: "Anh ạ, với số vốn này, anh có thể không cần nghĩ tới số tiền mà anh đã thua lỗ vừa qua".


Anh tôi vui mừng nhận một nghìn đồng xơcanh, khôi phục việc làm ăn. Và chúng tôi lại sống cùng nhau thân thiết như ngày trước.


Ít lâu sau, ông anh thứ hai của tôi, tức là một trong hai con chó kia, cũng muốn bán tài sản của mình để đi buôn xa. Ông anh cả tôi và tôi đều hết sức khuyên can anh ta nên bỏ ý định ấy đi nhưng vô ích. Anh ta bán hết cơ ngơi, mua hàng hóa đưa ra nước ngoài. Anh nhập bọn cùng với một đoàn nhà buôn, rồi cùng lên đường. Một năm sau, anh trở về trong tình cảnh giống y như anh cả tôi lần trước. Tôi lại may mặc cho anh hai. Và bởi trong thời gian ấy tôi đã làm sinh lợi thêm được một nghìn xơcanh nữa, tôi biếu anh luôn số tiền ấy. Anh mở lại cửa hiệu và tiếp tục nghề buôn bán của mình như trước.


Một hôm, hai anh tôi đến tìm tôi rủ cùng với họ làm một chuyến đi buôn xa. Thoạt tiên tôi khước từ gợi ý ấy.


Tôi nói: "Các anh đã đi buôn xa, các anh được cái gì nào? Ai bảo đảm rằng tôi sẽ may mắn hơn hai anh?".


Hai anh viện ra đủ mọi điều hấp dẫn để lôi kéo tôi, tôi vẫn không nghe theo ý định của họ. Nhưng họ nhiều lần rủ rê đến nỗi sau năm năm từ chối những lời nài nỉ cuối cùng tôi đành chịu thua. Nhưng đến khi chuẩn bị lên đường, bàn tới chuyện mua sắm hàng hóa, tôi mới vỡ nhẽ ra rằng hai ông anh tôi đã tiêu pha hết gia sản; cả món tiền một nghìn xơcanh mà tôi đã biếu mỗi người cũng không còn gì. Tôi tuyệt nhiên không trách móc lấy một lời. Ngược lại, vì lúc này vốn liếng của tôi đã lên tới sáu nghìn xơcanh, tôi chia món tiền ấy ra làm đôi, đưa cho họ một nửa, và bảo: "Ta chỉ nên bỏ ra ba nghìn đồng thôi, còn ba nghìn ta giấu vào chỗ nào đó kín đáo, nhỡ ra chuyến đi này không may mắn hơn hai chuyến trước của hai anh, thì ta còn có đồng vốn để trở về theo đuổi nghề cũ của chúng mình".


Vậy là ba anh em tôi chia nhau ba nghìn xơcanh, riêng tôi giữ lại chừng ấy nữa mang chôn vào góc nhà. Sau khi mua hàng hóa, chúng tôi thuê một chiếc tàu rồi giương buồm thuận gió lên đường. Sau hai tháng đi biển chúng tôi đến một hải cảng. Chúng tôi ghé vào đấy, bán được hàng với giá rất hời. Nhất là tôi, tôi bán được giá đến nỗi một đồng lãi thành mười đồng. Chúng tôi mua hàng hóa địa phương, định mang về trong nước bán. Vào lúc sẵn sàng lên tàu để nhổ neo trở về nước, thì tôi gặp trên bờ biển một người đàn bà rất xinh đẹp song ăn mặc thì khá tồi tàn. Nàng đến gần, hôn tay tôi, và khẩn khoản xin tôi hãy lấy nàng làm vợ và cho nàng được cùng xuống tàu theo về nước. Tôi không muốn nghe theo lời cầu xin của nàng. Nhưng nàng khéo nói quá, nào là tôi chớ nên quan tâm đến vẻ nghèo túng bên ngoài, nào là rồi đây tôi sẽ hài lòng về đức hạnh của nàng, đến nỗi cuối cùng tôi đành chịu thua. Tôi đặt may cho nàng những áo quần tươm tất. Rồi sau khi cưới nàng với giấy tờ hôn thú hợp lệ, tôi cho nàng lên tàu và chúng tôi nhổ neo.


Trong cuộc hành trình, tôi nhận ra người phụ nữ mà tôi lấy làm vợ có nhiều phẩm chất tốt đẹp đến nỗi mỗi ngày tôi mỗi yêu nàng hơn. Trong khi đó hai ông anh tôi, không buôn bán hời được hơn tôi, ganh tị sự làm ăn phát đạt của em và sinh lòng ghen ghét, đố kỵ tới mức âm mưu hãm hại tôi. Một hôm trong khi hai vợ chồng tôi đang ngủ say, họ đang tâm ném chúng tôi xuống biển.


Vợ tôi là một tiên nữ, và do đó có phép tiên. Các ngài hiểu là nàng không thể chết đuối. Về phần tôi, chắc chắn tôi đã bỏ mình nếu không được ai cứu giúp. Nhưng tôi vừa rơi xuống nước, nàng đã nâng tôi lên và đưa tôi tới một hòn đảo. Khi trời sáng, nàng bảo tôi: "Chàng ơi, chàng thấy đấy, em cứu chàng chính là để tạ ơn chàng đã đối xử tốt với em. Xin chàng biết cho em vốn là tiên nữ. Hôm thoạt gặp chàng trên bờ biển lúc chàng sửa soạn xuống tàu, không hiểu sao em đã đem lòng ái mộ. Để thử lòng chàng, em đã hóa trang ăn mặc tồi tàn như chàng đã từng trông thấy. Chàng đã xử sự với em một cách hào phóng. Em hài lòng là nay có dịp để đền đáp ơn chàng. Nhưng em rất giận hai ông anh của chàng. Em không hài lòng chừng nào chưa giết chết họ".


Tôi nghe tiên nữ nói với lòng khâm phục, và hết lời cảm tạ nàng. "Nhưng, thưa phu nhân, - tôi nói thêm, - về chuyện hai ông anh của tôi, xin phu nhân hãy tha thứ cho họ. Cho dù họ rất có lỗi đối với tôi, nhưng tôi không tàn nhẫn tới mức muốn cho họ chết". Tôi thuật lại cho nàng nghe tất cả những gì tôi đã làm cho hai ông anh, điều đó càng làm cho nàng thêm căm phẫn họ. Nàng thốt lên: "Nhất định tôi phải bay ngay tới chỗ hai tên phản trắc ấy và trả thù ngay tức khắc. Tôi sẽ nhấn chìm tàu của chúng và dìm chúng xuống tận đáy biển sâu".


- Chớ chớ, phu nhân xinh đẹp ơi, xin phu nhân chớ làm như vậy. Xin nàng nguôi bớt cơn thịnh nộ. Xin phu nhân hãy nhớ rằng đó là hai ông anh tôi, tôi luôn luôn phải làm điều tốt lành cho họ.


Những lời nói ấy làm tiên nữ nguôi bớt cơn giận. Tôi vừa nói xong thì nàng đã hóa phép đưa tôi trở về nhà, đặt tôi xuống trên nóc mái bằng, rồi nàng biến mất. Tôi tụt xuống mở cửa vào nhà, và đào lấy ba nghìn xơcanh cất giấu. Tôi đến cửa hiệu cũ của mình, mở cửa hiệu và tiếp đãi bạn bè hàng xóm vốn cũng là những nhà buôn đến chúc mừng tôi trở về. Khi tôi trở lại nhà riêng, thì trông thấy hai con chó đen. Chúng chạy ra đón tôi với vẻ chịu lỗi. Tôi không hiểu điều đó ý nghĩa gì nên rất lấy làm lạ. Nhưng tiên nữ xuất hiện ngay và nói cho tôi rõ: "Chàng ơi, xin chàng chớ ngạc nhiên, khi thấy hai con chó này trong nhà. Chính là hai ông anh trai của chàng đó".


Tôi run bắn người khi nghe lời đó, và hỏi nàng bởi phép thần nào mà họ nên nông nỗi ấy. Nàng đáp: "Chính em làm đấy, hay đúng hơn một bạn tiên của em, mà em đã nhờ ra tay. Em cũng đã nhờ chị ấy nhấn chìm chiếc tàu. Chàng đã mất số hàng hóa trên tàu, nhưng rồi em đã đền bù cho. Về phần hai ông anh của chàng, em sẽ bắt họ phải sống mười năm dưới hình dạng này, lòng dạ họ quá chó má cho nên làm chó là đáng tội". Sau khi cho tôi biết nơi để tìm đến nàng khi cần, nàng biến mất.


Đến nay, mười năm đã trôi qua. Tôi đang đi tìm tiên nữ. Đi ngang qua đây, trông thấy thương gia ngồi cùng cụ già dắt con hươu cái, tôi dừng lại với họ. Đấy câu chuyện của tôi là như vậy đấy, thưa đấng cai quản các vị thần linh! Ngài có thật đồng ý là nó lạ lùng không nào?


- Ta đồng ý. - Thần đáp. - Và vì vậy ta chấp thuận tha cho nhà buôn này một phần ba nữa tội của anh ta.


Cụ già thứ hai vừa dứt lời thuật chuyện, thì cụ thứ ba cất tiếng. Cụ cũng có một lời cầu xin thần y như hai cụ trước, rằng nếu câu chuyện của cụ sẽ kể ra đây kỳ lạ hơn hai câu chuyện vừa rồi, thì mong thần tha thêm cho thương gia một phần ba tội nữa của ông ta. Vị thần cũng đồng ý và hứa như hai lần trước.


Cụ già thứ ba thuật chuyện của mình cho thần linh nghe. Tôi xin không thuật lại, vì chính tôi cũng không rõ. Nhưng tôi biết chắc chuyện này hay hơn hai chuyện trước rất nhiều bởi những tình tiết phong phú và diệu kỳ của nó, khiến cho thần linh cũng rất đỗi ngạc nhiên. Cụ vừa dứt lời kể, thì vị thần đã bảo với thương gia: "Ta đồng ý giảm nhẹ cho anh một phần ba tội nữa. Anh phải cảm ơn ba cụ đây rất nhiều, bởi không có ba cụ cứu giúp anh bằng những câu chuyện của các cụ, thì mạng sống của anh đã không còn".


Nói xong, thần biến mất, điều làm cho ai nấy đều hài lòng.


Thương gia hết lời cảm tạ ba cụ già. Ba cụ cũng mừng cho ông tai qua nạn khỏi. Sau đó họ từ biệt nhau, mỗi người đi về một ngả. Thương gia trở về với vợ con, và sống cuộc sống bình yên cho tới lúc qua đời.


-       Nhưng tâu bệ hạ, - nàng Sêhêrazát nói thêm, - những chuyện em kể hầu bệ hạ từ trước tới nay dù cho hay ho đến bao nhiêu, cũng không thể so sánh với câu chuyện người đánh cá.


Thấy Sêhêrazát ngừng lời, Đináczát vội nói:


- Chị ơi, hãy còn thì giờ, xin chị kể chuyện ông lão đánh cá đi, em chắc hoàng đế cho phép.


Vua Saria đồng ý. Thế là nàng Sêhêrazát tiếp tục kể như sau.


CHUYỆN NGƯỜI ĐÁNH CÁ


Ngày xưa có một lão đánh cá khá cao tuổi và nghèo túng đến nỗi không sao kiếm được đủ bữa để nuôi sống gia đình gồm một vợ và ba con.


Ngày nào lão cũng đi đánh cá từ sớm và cũng tự đặt ra cái lệ là ngày nào cũng chỉ buông lưới bốn lần mà thôi.


Một buổi sáng lão ra đi từ lúc còn ánh trăng. Đến bờ biển, lão cởi áo quần ngoài và buông lưới. Khi kéo lưới vào bờ, lúc đầu lão cảm thấy nặng tay. Những tưởng đánh được một mẻ khá, lão đã khấp khởi mừng thầm. Nhưng một lát sau, nhận ra không phải là cá mà chỉ là một bộ xương lừa nằm trong lưới, lão rất đỗi buồn rầu vì mẻ lưới hẩm hiu.


Vá lại xong tấm lưới bị bộ xương lừa làm rách nhiều chỗ, lão đánh cá ngán ngẩm vì một mẻ đánh đã rủi ro như vậy, buông lưới lần thứ hai. Kéo thấy nặng tay hơn lần trước, lão chắc mẩm lần này lưới sẽ đầy những cá. Nhưng cũng lại chỉ thu được một cái thùng lớn đựng đầy đá cuội và bùn. Vô cùng ngao ngán, lão đánh cá kêu lên, giọng đáng thương: "Hỡi số phận, xin thôi đừng ghét lão, thôi đừng hành hạ một con người đang đau khổ đang cầu khẩn mi buông tha. Lão từ nhà đến đây kiếm cá để sống, mi thì lại báo cái chết của lão! Lão chẳng có nghề ngỗng gì ngoài cái nghề này để kiếm ăn qua bữa. Mặc dù chăm chút biết bao đến nghề nghiệp của mình, lão vẫn không làm sao chu cấp nổi cho gia đình những nhu cầu thiết yếu nhất. Nhưng mà có lẽ lão đã nhầm khi kêu van số phận. Mi vốn thích làm tình làm tội những con người nhân hậu, mi vốn thích để các bậc vĩ nhân sống trong tối tăm, trong lúc lại ưu đãi những kẻ độc ác; mi đề cao những đứa không hề có chút đức hạnh nào đáng cho người ta tin cậy".


Dứt lời than vãn, lão hất tung cái thùng. Sau khi rửa sạch tấm lưới bám đầy bùn, lão buông lưới lần thứ ba. Nhưng lão chỉ kéo lên được đá, vỏ sò và rác rưởi. Không thể nào mô tả hết sự thất vọng của lão. Lão gần như trở thành người quẫn trí. Tuy vậy trời bắt đầu sáng, lão không quên đọc kinh như một người Hồi giáo ngoan đạo[2] rồi khấn thêm: "Hỡi Thượng đế, Người biết rằng mỗi ngày con chỉ buông lưới bốn lần mà thôi. Con đã ba lần tung lưới mà không thu được một chút kết quả nào. Chỉ còn một lần này nữa thôi; cầu xin Thượng đế giúp làm sao biển cả thuận lợi cho con, như xưa kia Người đã khiến trời yên biển lặng giúp cho Môidơ[3] vậy".


Cầu nguyện xong, ông lão đánh cá buông lưới lần thứ tư. Khi cho rằng chắc cá đã vào, lão kéo cái lưới lên cũng khá vất vả như những lần trước. Tuy vẫn không được con cá nào, nhưng lão nhặt được một cái lọ bằng đồng thau mà qua trọng lượng của nó, hình như có chứa đựng một thứ gì bên trong. Cái lọ nút kín, được niêm phong bằng chì và có mang một dấu ấn. Điều đó làm lão vui lên, lão tự nhủ: "Ta sẽ mang cái lọ này đi bán cho thợ đúc đồng, được tiền ta sẽ đi mua một đấu lúa mì".


Lão ngắm nghía cái lọ đủ mọi phía. Lão lắc lắc để xem thử những gì đựng bên trong có phát ra tiếng động hay không. Chẳng nghe thấy gì, lại thêm có cái dấu ấn trên nắp chì, làm cho lão nghĩ rằng chắc hẳn cái lọ chứa đựng một vật gì quý báu lắm. Để làm sáng tỏ, lão với lấy con dao, và chẳng khó khăn gì lắm, lão mở được cái nắp. Lão dốc ngược cái lọ song chẳng có gì rơi ra, điều làm cho lão hết sức ngạc nhiên. Lão đặt cái lọ xuống trước mặt, và trong khi lão đang chăm chú ngắm nghía, thì từ miệng lọ tuôn ra một luồng khói khá dày, buộc lão phải thụt lùi về phía sau vài ba bước.


Luồng khói ấy bốc lên cao tận mây xanh, trải dài trên mặt nước và ven bờ biển, tạo thành một đám mây và sương mù lớn. Cảnh tượng đó làm lão vô cùng ngạc nhiên. Khói tuôn ra hết lọ thì tụ tập lại và trở thành một vật rắn từ đó hình thành một vị thần cao lớn gấp đôi con người khổng lồ cao lớn nhất. Trông thấy con quái vật cao quá cỡ như vậy, lão đánh cá muốn co giò chạy. Nhưng quá luống cuống vì khiếp đảm, lão không sao nhấc nổi chân lên.


Thoạt tiên vị thần thốt lên: "Xalômông, hỡi Xalômông, đấng tiên tri vĩ đại của Thượng đế, xin tha thứ, xin tha thứ, không bao giờ con còn dám chống lại ý muốn của Người nữa. Con xin phục tùng mọi mệnh lệnh của Người".


Nghe được mấy lời ông thần vừa thốt, lão đánh cá bình tĩnh trở lại và nói: "Này vị thần linh cao lớn kia ơi, ngài nói gì vậy? Xalômông đấng tiên tri của Thượng đế qua đời hơn một nghìn tám trăm năm, và chúng ta hiện đang sống thời tận cùng các thế kỷ. Ngài hãy kể cho tôi nghe chuyện về ngài, nguyên do vì đâu ngài bị nhốt trong chiếc lọ này?".


Nghe hỏi, vị thần nhìn lão đánh cá một cách kiêu ngạo và trả lời: "Mày hãy nói với ta cho có lễ độ hơn; mày to gan quá đấy, sao dám gọi ta là thần linh cao lớn?".


Lão cãi:


- Phải chăng tôi sẽ nói với ngài lễ độ hơn, nếu tôi gọi ngài là một con cú gặp may?


- Tao bảo mày phải ăn nói cho lễ độ hơn trước khi tao giết chết mày.


- Ô hay! Sao ngài lại giết tôi? - Lão vặn lại. - Tôi vừa giải thoát cho ngài, ngài đã quên rồi ư?


- Không, ta nhớ, nhưng điều đó cũng không ngăn trở việc ta giết mày. Ta chỉ có một ân huệ để ban cho mày mà thôi.


- Ân huệ gì vậy? - Lão đánh cá hỏi.


- Ấy là cho phép mày lựa chọn cách mày muốn chết như thế nào.


- Nhưng tôi đã làm điều gì xúc phạm đến ngài? - Lão hỏi. - Thế ra ngài thưởng công cho cái việc tốt lành tôi giúp ngài bằng cách ấy phải không?


- Ta không thể đối xử với mày bằng cách nào khác hơn. - Vị thần nói. - Mày không muốn tin thì hãy nghe cho thủng chuyện ta kể đây:


"Ta vốn là một vị thần linh nổi loạn chống lại quyền uy của Thượng đế. Tất cả các thần linh khác đều thừa nhận Xalômông vĩ đại, đấng tiên tri của Thượng đế, và đều thần phục Người, chỉ có Xaca và ta là những kẻ duy nhất không chịu hạ mình làm việc đó. Để trả thù, nhà vua hùng mạnh ấy sai Átxáp, con của Barakhia, tể tướng của Người, đến bắt ta. Lệnh đó được thực hiện. Átxáp đến bắt ta, cưỡng bức ta đến trước ngai vàng của chúa tể ông ta. Xalômông, con của Đavít, ra lệnh cho ta phải từ bỏ lối sống của mình, phải thừa nhận quyền lực của Người và phục tùng mệnh lệnh của Người. Ta ngạo nghễ từ chối không tuân theo. Ta thà chịu đựng mọi sự thù ghét của Người còn hơn là thề trung thành và thần phục, như Người buộc ta phải làm. Để trừng phạt ta, Người giam ta vào trong cái lọ này; và để ta không thể nào vượt ngục, Người tự tay đóng lên cái nắp bằng chì con ấn của Người có khắc tên Thượng đế. Xong đâu đấy, Người giao cái lọ cho một trong những thần linh chịu thuần phục và truyền cho hắn ném ta xuống biển. Lệnh ấy được thi hành mặc dù ta chẳng muốn chút nào. Trong thế kỷ tù đày đầu tiên, ta thề nếu có ai giải thoát cho ta trước khi hết hạn một trăm năm, ta sẽ làm cho người đó trở nên giàu có, cho dù ngay cả khi người ấy qua đời. Nhưng một thế kỷ trôi qua, mà chẳng có ai làm giúp ta cái việc tốt lành ấy cả. Trong thế kỷ thứ hai, ta thề sẽ mở cửa tất cả các kho tàng trên trái đất giao cho bất kỳ người nào đem lại tự do cho ta. Nhưng ta vẫn không được may mắn gì hơn. Trong thế kỷ thứ ba, ta hứa sẽ làm cho người giải thoát ta trở thành một ông vua hùng mạnh. Hồn thiêng của ta sẽ luôn luôn ở bên cạnh người đó, và cứ mỗi ngày ta sẽ thỏa mãn cho người đó ba điều ước, cho dù những điều ước ấy như thế nào. Nhưng thế kỷ này lại trôi qua giống như hai thế kỷ trước, còn ta vẫn cứ lâm vào tình trạng giam cầm. Cuối cùng, chán ngán, hay đúng hơn là điên tiết vì thấy mình bị tù đày quá lâu, ta thề nếu từ đây ai giải thoát ta, ta sẽ giết chết không chút xót thương và sẽ không ban cho một ân huệ nào khác ngoài việc cho phép tự lựa chọn cách chết. Chính vì vậy mà ta cho phép mày tự chọn, xem mày muốn được ta giết bằng cách nào".


Những lời của vị thần làm lão đánh cá rất lo âu.


- Khốn nạn thân tôi! - Lão kêu lên. - Sao tôi lại đến chốn này làm ơn cho một kẻ vong ân bội nghĩa. Xin ngài hãy xót thương, hãy nhận ra sự bất công của ngài, và hãy xóa bỏ lời thề quá ư vô lý. Hãy tha tội cho lão. Thượng đế sẽ đại xá cho ngài. Nếu ngài rộng lượng cho lão được sống, thì Thượng đế sẽ che chở cho ngài tránh khỏi mọi mưu toan ám hại.


- Không, - vị thần nói, - mày nhất định phải chết. Mày muốn được cái chết nào thì hãy chọn đi, để tao kết liễu đời mày.


Thấy vị thần khăng khăng muốn giết mình, lão đánh cá đau đớn vô cùng. Lão tiếc thương thân mình thì ít mà thương cho ba đứa con sẽ lâm vào cảnh khốn cùng sau khi mất bố thì nhiều. Lão cố gắng tìm cách làm cho vị thần bớt giận: "Ngài ôi! Xin ngài hãy nghĩ đến việc tôi vừa làm cho ngài mà đoái thương".


- Thì ta đã chẳng bảo, chính vì việc làm của mày mà tao bắt buộc phải kết liễu đời mày đó sao.


- Thật là lạ lùng làm sao. - Lão đánh cá đáp. - Ai lại khăng khăng lấy oán báo ân đến mức ấy bao giờ. Tục ngữ có câu: người nào làm điều lành cho kẻ không đáng được hưởng thì bao giờ cũng bị đền đáp không hay. Thú thật, trước đây lão cho rằng câu tục ngữ đó sai. Không có gì xúc phạm lẽ phải và luật lệ xã hội hơn là câu nói đó. Thế mà giờ đây lão phải đau đớn mà nhận ra rằng nó quá ư đúng đắn.


Vị thần ngắt lời:


- Chớ để mất thời giờ, mọi lý lẽ đều không làm thay đổi chủ định của ta đâu. Hãy nói nhanh lên, mày muốn được ta giết chết bằng cách nào?


Sự bức bách làm nảy trí thông minh. Lão đánh cá nghĩ ra một mẹo. Lão nói với thần: "Vì không có cách nào tránh khỏi chết, thôi thì lão đành phục tùng ý Trời vậy. Nhưng trước khi chọn cách chết, lão cầu xin ngài, hãy vì uy danh vĩ đại của Thượng đế đã được khắc vào con ấn của đấng tiên tri Xalômông, con trai Đavít, mà trả lời thật thà cho lão biết câu lão hỏi ngài sau đây".


Thấy mình lâm vào thế không thể khước từ lời cầu xin nhân danh Thượng đế, hung thần run sợ trong lòng. Hắn bảo lão đánh cá: "Nào, mày muốn hỏi gì ta thì hỏi nhanh lên!".


Được thần cho phép, lão đánh cá liền hỏi: "Lão muốn biết có đúng ngài đã ở trong cái lọ ấy không? Ngài có dám thề trước Thượng đế rằng quả đúng như vậy không?".


- Đúng, ta xin thề trước Thượng đế rằng ta đã ở trong cái lọ, điều đó hoàn toàn đúng sự thật.


- Thật thà mà nói lão không sao tin được lời ngài. Cái lọ một bàn chân của ngài thôi cũng không đút lọt, làm sao có thể chứa đựng toàn bộ thân thể ngài cơ chứ!


- Nhưng ta thề độc với mày, đúng là với cái hình dạng như mày thấy ta đây, ta đã ở trong ấy. Ta đã thề long trọng như vậy, mày vẫn không tin ư?


- Vâng, đúng thế. - Lão nói. - Lão sẽ chẳng bao giờ tin đâu, trừ phi ngài cho lão tận mắt trông thấy.


Thế là thân thể hung thần tự nhiên tan ra, biến thành khói trải dài trên mặt nước và ven bờ biển rồi sau đó tụ tập lại và chui trở vào trong lọ một cách chậm rãi và đều đều cho đến khi không còn sót gì bên ngoài.


Từ trong lọ vọng ra tiếng nói với người đánh cá: "Thế nào, hỡi người đánh cá hay hoài nghi kia, giờ ta đã vào trong lọ, mày tin rồi chứ?".


Không trả lời, người đánh cá vớ lấy cái nắp chụp nhanh lên miệng rồi kêu to: "Này hung thần, giờ đến lượt mày van ta, và cho mày lựa chọn lấy, mày muốn ta cho mày chết bằng cách nào? Nhưng mà thôi, tốt hơn ta lại ném mày trở về biển ngay ở chỗ ta vừa vớt mày lên. Rồi ta sẽ làm một cái nhà trên bờ này. Ta sẽ luôn luôn ở đây để báo cho tất cả những người đánh cá nào đến đây buông lưới, rằng hãy chớ có vớt lên một hung thần độc ác như mày, kẻ đã thề sẽ giết chết người nào cứu vớt nó và cho nó trở lại tự do".


Nghe những lời xúc phạm ấy, hung thần nổi xung, cố hết sức để thoát ra ngoài lọ nhưng không sao được vì bị cái dấu ấn của đấng tiên tri Xalômông, con vua Đavít cản trở.


Thấy người đánh cá có lợi thế hơn mình, hung thần đành nén lòng giấu cơn giận dữ. Hắn dịu giọng nói: "Hỡi người ngư phủ, bác hãy cẩn thận, chớ có làm điều bác vừa nói đấy nhé. Những việc ta làm vừa rồi chẳng qua là để đùa chơi một tí thôi, bác chớ coi là thật".


- Này hung thần, - lão đánh cá đáp, - cách đây một lát mày là đấng vĩ đại nhất, nhưng bây giờ là kẻ bé nhỏ nhất trong tất cả các thần linh. Mày hãy biết rằng những lời lẽ giả dối của mày chẳng giúp ích gì cho mày đâu. Mày sẽ trở về với biển cả. Nếu mày đã từng ở dưới biển suốt thời gian dài như mày đã kể cho ta nghe, thì mày cũng có thể ở đấy cho đến ngày tận thế. Ta đã nhân danh Thượng đế cầu xin mày chớ kết liễu đời ta, mày đã bác bỏ mọi lời cầu khẩn của ta, vậy thì giờ đến lượt ta sẽ đối xử với mày như mày đã đối xử với ta vậy.


Hung thần tìm hết cách làm động lòng người đánh cá: "Bác hãy mở cái nắp lọ, hãy trả tự do cho ta, ta van bác đấy. Ta xin hứa rằng ta sẽ làm hết sức mình cho bác hài lòng về ta".


- Mày chỉ là một tên phản trắc. - Lão trả lời. - Ta sẽ đáng chết, nếu ta còn bất cẩn mà tin lời mày. Rồi mày cũng giết chết ta như ông vua Hy Lạp nào đó đã giết viên thầy thuốc Đubăng mà thôi. Đây là một câu chuyện mà ta muốn kể cho mày. Hãy nghe đây.


CHUYỆN NHÀ VUA HY LẠP VÀ THẦY THUỐC ĐUBĂNG


Ngày xưa, ở xứ Zuman thuộc nước Ba Tư, có một nhà vua, con dân của vua xứ ấy đều là người gốc Hy Lạp. Nhà vua bị bệnh phong. Các ngự y của vua đã hết lòng chạy chữa nhưng bệnh vẫn không khỏi. Khi các lương y trong triều đều chịu bó tay thì có một thầy thuốc rất tài giỏi có tên là Đubăng từ xứ khác đến.


Vị thầy thuốc này đã đọc hết các sách y học bằng tiếng Hy Lạp, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Ả Rập, Latinh, Xiry và Hêbơrơ. Không những ông ta thuộc làu y lý mà còn nắm rất vững được chất độc hại cũng như tính tốt lành của mọi thứ thảo mộc trên đời.


Được tin nhà vua mắc bệnh và các ngự y đã chịu bó tay, thầy thuốc này cố gắng ăn mặc thật đàng hoàng và tìm cách để được giới thiệu ra mắt vua.


- Tâu bệ hạ, - ông nói, - tôi được biết rằng tất cả các vị lương y từng hầu hạ bệ hạ nay đều chịu bó tay không chữa nổi bệnh phong của ngài. Nếu bệ hạ cho phép kẻ này được làm việc ấy, thì tôi xin bảo đảm có thể chữa lành bệnh cho ngài mà không cần phải dùng một thứ thuốc nào trong uống hoặc ngoài xoa.


Nghe tâu, vua Hy Lạp rất mừng:


- Nếu ông tài giỏi đến mức như ông vừa nói thì ta hứa sẽ làm cho ông giàu có. Ngoài những của cải mà ta ban thưởng cho ông, ta sẽ coi ông là vị đệ nhất sủng thần của ta. Vậy ông bảo đảm có thể làm cho ta khỏi bệnh phong mà không cần phải dùng đến phép chữa nội khoa hoặc ngoại khoa?


- Đúng như vậy, tâu bệ hạ. Và tôi tin chắc là nhờ ơn trên phù hộ, tôi sẽ đạt thành, và ngay ngày mai thôi, sẽ thấy rõ công hiệu.


Thầy thuốc Đubăng lui về, thửa một chiếc gậy chơi cầu rỗng ruột, bên trong chứa liều thuốc ông bào chế sẵn. Ông cũng làm một quả cầu theo cách của mình. Xong đâu đấy, ngay sáng hôm sau, vào ra mắt vua, phủ phục xuống đất, rồi mời vua lên ngựa ra bãi cầu. Thầy thuốc đưa gậy và cầu cho nhà vua và nói:


- Xin bệ hạ hãy cầm lấy và bắt đầu đánh cầu, đánh cho kỳ đến lúc bàn tay cũng như toàn thân ngài đều toát mồ hôi. Thuốc mà tôi để sẵn trong cán gậy đánh cầu này gặp hơi nóng bàn tay sẽ thấm vào cơ thể của ngài. Chừng nào bệ hạ đã thấy vã hết mồ hôi, ngài có thể ngừng chơi, vì thuốc đã công hiệu rồi đấy. Trở về cung, xin bệ hạ hãy tắm, hãy sai người kỳ cọ thật kỹ. Sau đấy xin mời ngài đi nghỉ. Sáng sớm mai, tỉnh giấc, ngài đã khỏi bệnh.


Nhà vua đón gậy, tung quả cầu rồi thúc ngựa đuổi theo đánh. Quả cầu được các quan hầu cùng chơi đánh lại. Cứ thế hai bên chơi cầu hồi lâu, cho đến khi toàn thân nhà vua mồ hôi đầm đìa. Thuốc đựng trong cán gậy công hiệu đúng như thầy thuốc nói. Thế là vua trở về cung tắm rửa và nhất nhất thực hiện đúng tất cả mọi điều thầy thuốc dặn.


Sáng hôm sau, tỉnh dậy, vua cực kỳ ngạc nhiên và mừng rỡ thấy mình đã khỏi bệnh. Thân thể vua hoàn toàn lành mạnh, như thể chưa bao giờ mắc phải chứng bệnh quái ác ấy.


Mặc xong áo quần, vua đến ngay phòng thiết triều, ngồi lên ngai và trỏ cho quần thần trông thấy. Mọi người nôn nóng muốn xem kết quả của phương thuốc đã tề tựu từ sớm. Thấy nhà vua đã hoàn toàn khỏi bệnh, ai nấy đều hết sức mừng rỡ.


Vừa lúc ấy, thầy thuốc Đubăng bước vào, phủ phục trước ngai. Trông thấy, vua gọi đến gần, cho ngồi cạnh mình, giới thiệu ông với mọi người. Trước mặt quần thần, vua không tiếc lời khen ngợi ông. Không chỉ có vậy. Hôm ấy, để ăn mừng, vua thết tiệc cả triều đình. Riêng thầy thuốc Đubăng vua cho ngồi riêng cùng mâm với mình. Lúc bãi triều, vua ban cho thầy thuốc một chiếc áo rất đẹp giống như áo mà các vị đại thần vẫn mặc khi vào chầu, ngoài ra, còn cho thêm hai nghìn đồng xơcanh. Tóm lại, nhà vua không biết làm sao nói hết lòng biết ơn của mình đối với thầy thuốc, cho nên ngày nào cũng ban thưởng cho ông nhiều tặng phẩm mới.


Nhà vua ấy có một tể tướng tính tình bủn xỉn, hay ghen ghét. Lão có thể làm đủ mọi thứ để hãm hại người. Lão không sao chịu nổi khi thấy nhà vua ban thưởng cho thầy thuốc nhiều đến vậy. Thấy vai vế của mình có nguy cơ bị viên thầy thuốc lấn át, lão quyết định tìm cách làm cho nhà vua nghi kỵ ông. Để thực hiện mưu đồ ấy, lão đến xin được gặp riêng vua, nói có việc cực kỳ hệ trọng xin được trình bày để vua tường. Vua hỏi có việc gì vậy, lão đáp:


- Tâu bệ hạ, thật là nguy hiểm cho một đấng quân vương nếu quá tin cẩn một người mà ta chưa thử thách được lòng trung thành. Bệ hạ đã ban ơn rất hậu và khen ngợi viên thầy thuốc, nhưng ngài chưa biết rằng y là một kẻ phản bội cố tìm cách lọt vào triều đình để kiếm dịp ám hại bệ hạ.


- Ông nghe tin từ đâu mà dám tâu với ta điều vừa nói đó? Nên nhớ là ông đang tâu với ta, và ta đâu phải là người nhẹ dạ cả tin.


- Tâu bệ hạ, - tể tướng quả quyết, - tôi hoàn toàn biết rõ điều tôi vừa được vinh hạnh trình bệ hạ. Xin bệ hạ chớ quá tin vào một kẻ nguy hiểm như vậy. Nếu bệ hạ chưa thấy ra, cúi mong ngài hãy sáng suốt. Bởi vì, tôi xin khẩn khoản tâu trình một lần nữa, viên thầy thuốc ấy chính là kẻ đã ra đi từ nơi tận cùng của nước Hy Lạp quê hương của hắn để đến triều đình ta với ý đồ đen tối mà tôi vừa nói đó.


- Không, không, tể tướng à, - vua ngắt lời, - ta tin chắc con người mà ông cho là xảo quyệt, là phản trắc ấy, là con người đạo đức nhất, cao thượng nhất trong tất cả mọi con người. Ông đã rõ ông ta đã chữa khỏi bệnh cho ta bằng cách thần diệu như thế nào rồi. Nếu ông ta muốn hãm hại ta thì tại sao ông ấy cứu sống ta? Chỉ cần để mặc ta với cơn bệnh, thế nào ta cũng không qua khỏi; hồi ấy ta đã thấy hầu như chết đến nửa người rồi. Vậy thì ông chớ có xui ta nghi ngờ bất công nữa. Không những ta không nghe lời ông, mà ta báo trước cho ông biết là ngay từ hôm nay, ta sẽ ban cho thầy thuốc một món bổng lộc một nghìn đồng xơcanh hàng tháng, được hưởng cho đến trọn đời. Cho dù ta có chia sẻ với ông ta mọi thứ của cải và ngay cả đất nước này nữa, cũng vẫn chưa đủ đền đáp những gì thầy thuốc đã làm cho ta. Ta thấy ra rồi đó, chính đức hạnh của ông ấy khiến cho ông đem lòng ghen ghét. Nhưng ông chớ có bao giờ quên những điều mà viên thượng thư nọ đã tâu với vua Xinbát của mình để can gián nhà vua chớ giết hại con trai.


Tể tướng nói:


- Xin bệ hạ xá tội cho nếu tôi mạo muội hỏi, vị thượng thư ấy đã nói gì với vua Xinbát để can gián ông ta chớ giết hại con trai của mình.


Nhà vua chấp thuận:


- Để can gián vua Xinbát chớ vì chuyện mẹ ghẻ con chồng mà đi tới một hành động có thể sẽ hối hận sau này, quan thượng thư ấy đã kể câu chuyện sau đây.




(còn tiếp)


Nguồn: Nghìn lẻ một đêm. Phan Quang dịch từ bản tiếng Pháp của Antoine Galland: LES MILLE ET UNE NUITS. NXB Văn học liên kết xuất bản cùng Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, in lần thứ 29, phát hành tháng 01-2012.  Edited: Nhà văn Triệu Xuân & Ngô Thanh Hương.


www.trieuxuan.info



 



 



[1] Xơcanh: đơn vị tiền cổ đúc bằng vàng.






[2] Đọc kinh cầu nguyện là một trong bốn điều răn chính của kinh Côran, kinh thánh đạo Hồi.




[3] Theo tín ngưỡng của những người Hồi giáo, Môidơ cùng với Đavít, Giêsu Crít và Môhamết là bốn đấng đại tiên tri (còn gọi là thiên sứ).



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Truyện cổ Grimm (100) - Anh em Grimm 31.05.2019
Thánh Gióng- Phù Đổng Thiên Vương - Nguyễn Đổng Chi 11.01.2019
Đọc Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam tập II của Nguyễn Đổng Chi - Maurice Durand 11.01.2019
Khảo dị về truyện Tấm Cám (1) - Nguyễn Đổng Chi 11.01.2019
Nghìn lẻ một đêm (21) - Antoine Galland 12.11.2018
Nghìn lẻ một đêm (20) - Antoine Galland 06.11.2018
Nghìn lẻ một đêm (19) - Antoine Galland 06.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (18) - Antoine Galland 04.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (17) - Antoine Galland 01.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (16) - Antoine Galland 01.10.2018
xem thêm »