tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27221527
01.08.2011
Khúc Hà Linh
Anh em nhà Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh): Ánh sáng và bóng tối (5)

2. Hoàng Đạo - đứng đầu gió.


Trong gia đình Nguyễn Tường ở Cẩm Giàng, Hoàng Đạo là con thứ tư của cụ thông phán Nguyễn Tường Nhu. Khi con chào đời, cụ Nhu đặt là Tứ cho thuận. Bởi bên trên đã có Nguyễn Tường Tam rồi.  Sau nghĩ lại, mới thấy tên này trùng tên người bạn thân của mình, nên cụ Nhu bắt cả nhà gọi chệch thành Tư. Sau ngày cha mất, Nguyễn Tường Tam mới đặt tên lại cho các em , trong đó Tư được khai tên mới Nguyễn Tường Long.


Nguyễn Tường Long đi làm báo, làm văn mới có tên Hoàng Đạo, và những bút danh khác, như Tứ Ly, Tường Ninh.


Hoàng Đạo sinh ngày 16-11-1907. Học xong bậc tiểu học thì bị ốm, học tại nhà. Năm 1924 Hoàng Đạo đỗ bằng Cao học tiểu học Pháp, được bổ làm tham tá ngân khố Hà Nội, có bằng Tú tài Pháp. Năm 1930 thi vào trường Luật Đông Dương tại Hà Nội, sau khi đỗ cử nhân luật, làm tham tá lục sự toà án Đà Nẵng, rồi Hà Nội. Học xong trường luật một năm, Hoàng Đạo từng được  bổ đi tri huyện có mức lương 140 đồng, Hoàng Đạo xin ý kiến mẹ có nên nhận hay không. Bà Nhu bảo: Khi con còn nhỏ, bổn phận mẹ phải lo, nay con thành đạt rồi mỗi người có chí hướng riêng, tuỳ con định đoạt. Ông cha ngày xưa nổi tiếng thanh liêm, làm quan thương dân  để đức cho con cháu . Các con đừng làm gì hại đến thanh danh tiên tổ. Bây giò mẹ buôn bán đủ tiêu, các con không phải biếu tiền nữa.


Hoàng Đạo là người được giáo dục khuôn phép, ý thức được tình yêu và sự nghiệp, với truyền thống gia phong. Ngày còn làm lục sự toà án Đà Nẵng, có người bạn cùng sở muốn làm mối cho một cô gái Huế, con một vị Hồng lô tự khanh. Cô gái xinh đẹp, lại con quan ở Hồng lô tự, bên cạnh bộ Lễ rất có vị thế, nhưng Hoàng Đạo không ưng. Người con chí hiếu viết thư về cho mẹ, nói rằng không thích lấy vợ Huế, mà muốn về Bắc kỳ tìm vợ,  ta về ta tắm ao ta vậy. Thì ra đến lúc ấy Hoàng Đạo chỉ biết mình quê ở Cẩm Giàng, Hải Dương, chứ biết đâu tổ tiên xa xôi từ cụ tổ Nguyễn Tường Phổ người xứ Quảng ra Bắc khởi nghiệp.


Hoàng Đạo tốt nghiệp trường luật không ra làm quan, năm 1932 viết báo Phong Hoá, khi TLVĐ ra đời ông cùng Nhất Linh, Khái Hưng chủ trì nhóm này.


Trên báo Phong Hoá, Hoàng Đạo lấy bút hiệu là Tứ Ly, viết những bài đả kích châm biếm hệ thống quan lại của chính quyền thuộc địa và triều đình Huế, bài trừ hủ tục trong xã hội Việt Nam. Năm 1936 tờ Phong Hóa bị đóng cửa vì Hoàng Đạo viết bài châm biếm Hoàng Trọng Phu. Năm 1940 Hoàng Đạo gia nhập Đảng Đại Việt. Vì công khai chống Pháp và lật đổ triều đình Huế, năm 1940 Hoàng Đạo cùng bị bắt với Nguyễn Gia Trí, Khái Hưng và đày đi Sơn La. Năm 1943 bị giải về quản thúc tại Hà Nội.


Được một người bạn của mẹ làm mối, Hoàng Đạo lấy con gái một bà quả phụ nhưng kinh tế khá giả, có bốn nhà ở Hà Nội và một ở gần bãi biển Sầm Sơn, Thanh Hoá. Người cha khi còn sống vào làng tây, nền nếp gia đình theo phong cách mới, tân tiến.


Đó là một người phụ nữ cao, hơi gầy, tiếng nói trong trẻo, dáng nhanh nhẹn. Hai mẹ con nàng sống với nhau ở phố Hàng Vôi trong cảnh neo người nên bình lặng. Cưới vợ cho con xong, bà Nhu bằng lòng cho Hoàng Đạo về ở rể vì nhà gái hiếm hoi.


Hoàng Đạo và vợ - Marie Nguyễn Bình sống hạnh phúc, có với nhau bốn người con: ba gái và một trai. Có những lần cả nhà đi chơi, ai đó còn lừng chừng sợ gió mưa cản trở, Hoàng Đạo cười nói rất vui: “Chẳng có gì đáng ngại, có tôi cùng đi thì chỉ may mắn và đẹp đẽ”. Bởi Hoàng Đạo là ngày đẹp!


Sau cách mạng thámg Tám thành công, Hoàng Đạo được bổ sung (không phải bầu) làm đại biểu Quốc hội khoá I, từng giữ chức Bộ trưởng kinh tế một thời gian ngắn. Sau kỳ họp thứ nhất của Quốc hội ngày 2-3-1946 thì Chu Bá Phượng thay. Một lần được cử lên Vĩnh Yên giải quyết việc một nhóm Việt quốc gây lộn xộn trong vùng giải  phóng, nhân thể Hoàng Đạo đã tìm cách ra ở nước ngoài. Nửa năm sau mới báo tin đang ở Côn Minh, Trung Quốc.


Vợ Hoàng Đạo từng đưa con trai lớn sang thăm cha. Năm 1948, sau khi đưa vợ con sang Hồng Công để bay về nước, Hoàng Đạo đi xe lửa về Quảng Châu, vừa tới ga Thạch Long, bị co giật tim rồi mất, hưởng dương 42 tuổi. 


Đó là  ngày 22-7-1948 tức 16 tháng 6 năm Mậu Tý.


Nhân viên hoả xa đưa thi hài Hoàng Đạo xuống ga và đánh điện về nước báo tin dữ. Bà Nhu khi ấy đang tu ở chùa Hai Bà, Hà Nội. Người mẹ già khổ đau đã nhờ nhà chùa làm cỗ chay để cúng và làm lễ phát tang.


Gia đình Nguyễn Tường khi ấy đã ly tán, chỉ có thể cử hai vợ chồng bác sĩ Nguyễn Tường Bách và bà Phạm Thị Nguyên (vợ Nhất Linh) sang Thạch Long lo hậu sự cho Hoàng Đạo. Một năm sau, vợ Hoàng Đạo sang Quảng Châu, xây mộ cẩn thận cho chồng ở  trấn Thạch Long.


Ngày Hoàng Đạo còn nhỏ, bà Nhu có đi xem lá số cho con, cũng biết là số con không được thọ. Nhưng bà không thể ngờ rằng con bà là Tường Long lại  nằm vĩnh viễn ở đất  trùng tên Long (Thạch Long)  xa xôi nào đó!


Hoàng Đạo để lại 10 cuốn sách đủ các thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn,  phóng sự, tiểu luận, khái luận chính trị xã hội, và 5 tập truyện cho thiếu nhi. Bạn đọc ngày ấy còn nhớ cuốn sách Mười điều tâm niệm, đã tỏ rõ đường lối xã hội của ông: Theo mới, hoàn toàn theo mới, không do dự. Tin ở sự tiến bộ. Sống theo một lý tưởng. Làm công tác xã hội. Luyện tinh khí. Phụ nữ và xã hội sống hoà hợp ra sao? Luyện có óc khoa học. Cần sự nghiệp không ham danh vọng. Luyện thân thể mạnh mẽ. Cần có trí điều khiển công việc…Người ta gọi ông là lý luận gia của nhóm kể không ngoa.


Con đường sáng là tác phẩm tiêu biểu cho sự nghiệp của ông. Ông muốn hướng con người vươn lên tạo một sự nghiệp vì vậy truyện của ông có ý thức sâu sắc trong xây dựng xã hội.


3. Thạch Lam tài hoa, gần gũi bình dân.


Là con thứ sáu, Thạch Lam lúc còn nhỏ có tên là Sáu. Khi đi học lấy tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh. Mãi sau này muốn thi nhảy cấp nên khai tăng tuổi và làm khai sinh lại là Nguyễn Tường Lân. Tuy Thạch Lam vào nghề văn muộn, nhưng năm 1937 ông cho ra mắt bạn đọc tập truyện ngắn Gió đầu mùa. Trong lời nói đầu, Thạch Lam đã bộc lộ quan niệm của mình: Văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và  thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác. Vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn… Thiên chức của nhà văn là phải nâng đỡ những cái tốt để trong đời có nhiều công bằng thương yêu hơn.


Để ý kỹ mới thấy rằng, nhân vật trong tác phẩm Thạch Lam không có những ông hàn, ông tham, bà phán, ông nghị, ông huyện, cụ thượng… những thành phần trung, thượng lưu có đời sống sinh hoat khá giả, lời ăn tiếng nói cao sang hoặc giả dối như các nhân vật  trong tác  phẩm  của  nhà văn trong nhóm. Người đọc bắt gặp nhân vật chủ yếu là những con người bình dân: cô  hàng xén từ trẻ đến già, toàn khó nhọc và lo sợ, ngày nọ dệt ngày kia, như tấm vải thô. Rồi những đứa trẻ con nhà nghèo, khi mùa đông giá lạnh không có tấm áo che thân. Hoặc một người nông dân thất nghiệp thành túng bấn; cô gái bán thân. Ngoài phụ nữ và trẻ em, trong truyện của Thạch Lam còn thấy những ông Tú ngơ ngác, u hoài;  ông bố suốt ngày ngồi ôm chiếc ống điếu ngẫm nghĩ, đến anh chàng nghèo, khi bị tai nạn cưa chân , được đền tiền thì ăn chơi hoang phí, trở lại nghèo như trước. Cũng có khi là bác kéo xe, con sen, vú già và những con người lầm than nơi quê nghèo quanh quẩn bên cái chợ lèo tèo và chiếc ga xép, lọt thỏm trong vùng quê mờ nhạt v.v.


Mỗi nhân vật đều có số phận tạo nên những hoàn cảnh điển hình.


Đó là bởi Thạch Lam có những tháng năm sống nơi thôn dã, chứa chất nhiều bóng hình con người và đời sống làng quê. Giới nghiên cứu văn học,  có người cho rằng mỗi nhà văn đều có vùng quê thông thuộc của mình, chứa chất kỷ niệm đời mình cũng là có lý. Thạch Lam đi tìm cái đẹp bình thường giản dị trong tâm hồn, thân phận nhân vật; cách ứng xử, mối quan hệ, tình cảm con người với con người, và con người với thiên nhiên. Văn ông hài hoà giữa lãng mạn và chân thực, mà vẫn nồng nàn tình quê da diết, nặng lòng với dân tộc. Ông tả nội tâm nhân vật tài tình, nhuần nhị tinh tế. Ông mô tả vùng quê trong trẻo, dân dã, không ồn ào, bụi bặm, tả trận gió lạnh đầu mùa vẫn vương vấn hơi ấm của tình người.


Hãy đọc lại đoạn này: Trông thấy con bé co ro đứng bên cột quán, chỉ có manh áo rách tả tơi hở cả lưng và tay. Chị Lan hỏi: Sao áo mày rách thế? Áo lành đâu không mặc.


Con bé lịu xịu nói: Hết áo rồi chỉ còn cái này.


Sơn chợt nhớ ra mẹ cái Hiên rất nghèo, chỉ có mò cua bắt ốc thì còn lấy đâu ra tiền mà sắm áo cho con nữa. Một ý nghĩ tốt bỗng thoáng qua trong trí, Sơn lại gần chị thì thầm:


- Hay là chúng ta đem cho nó cái áo bông cũ, chị ạ


- Ừ phải đấy. Để chị về lấy.


Sơn đứng lặng yên đợi,  trong lòng tự nhiên thấy ấm áp vui vui…


Chi tiết chị em Lan và Sơn dấu mẹ cho Hiên chiếc áo bông cũ trong truyện  rất đẹp của tình thương đồng loại, thấm nỗi day dứt của Sơn, mẹ Sơn và đó là lòng nhân ái của nhà văn gửi gắm.


Thạch Lam viết truyện không có xung đột, giật gân, tình tiết éo le, mùi mẫn, trang viết của ông mang chất thơ, cảm xúc như thơ và lay động cái thẳm sâu bên trong tâm hồn. Truyện ngắn Dưới bóng hoàng lan có  nhiều câu văn đẹp như thơ: “Thanh tiễn Nga ra cổng, đi qua hai bên bờ lá đã ướt sương. Mùi hoàng lan thoang thoảng bay trong gió ngát”, hoặc là “Mỗi mùa lại giắt hoàng lan trong mái tóc để nhớ mùi hương”. Thậm chí cả chuyện Hai đứa trẻ vốn là cảnh khó nghèo nhưng ông vẫn dành những câu văn đầy chất thơ miêu tả: Trời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát…Vòm trời hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh, lẫn với vệt sáng của những con đom đóm bay là trên mặt đất hay len vào cành cây v.v.


Thế nhưng Thạch Lam không thi vị hoá cuộc sống. Ông chân thực vẽ lên cảnh khó nghèo, trớ trêu số phận, mà không bi quan, cực đoan, tàn lụi,  vẫn phả vào hồn nhân vật một niềm tin, ước mơ cháy bỏng , vẫn gây một lòng trân trọng yêu thương của người đọc vào một niềm tin về ngày mai tốt đẹp, vẫn thấy phía trước  ấm áp ngọn lửa hồng , xoá đi những góc tối của tâm hồn con người trong cảnh cùng cực . Chúng ta  thương cảnh nhà bác Lê với mười một đứa con, sống trong đói khổ, người mẹ đi vay ăn rồi bị chó cắn, hoặc cám cảnh đêm ba mươi trong căn gác xép, càng thương cảm đôi bạn gái Liên và Huệ sống trong nỗi tủi nhục không có cái bát hương để cúng tổ tiên đúng vào ngày tất niên( Tối ba mươi). Chúng ta xao xuyến bâng khuâng nghĩ về cảnh hai chị em Liên và An , nghe lời mẹ dặn phải thức khuya chờ tàu Hà Nội về , để bán ấm trà hay khúc mía kiếm tiền. Nhưng con tàu dửng dưng đi qua, để lại phía sau một phố nhỏ tẻ buồn, trống vắng. Nhưng chúng ta vẫn ấm lòng khi bắt gặp ngọn đèn chị Tý, dù chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ, nhưng không bị tắt lụi, cứ lung linh đón đợi niềm tin. Y như con tàu đã đến, đã đi , nhưng Liên và An (Hai đứa trẻ) cứ chờ đợi. Nhà văn gửi gắm ý tưởng của mình rằng con người hãy nuôi niềm tin. Ông không muốn con người đánh mất niềm tin, bởi mất nó, sẽ mất hết.


Với quan niệm như thế, tác phẩm Thạch Lam thể hiện  những số phận con người bằng thái độ cảm thông, bằng trái tim nhân hậu chứ không phải của kẻ ban ơn, khinh bỉ. Những tác phẩm Hai đứa trẻ, Nhà mẹ Lê, Gió lạnh đầu mùa, Tối ba mươi  rất rõ điều này.


Thạch Lam không chỉ nổi tiếng về truyện ngắn, ông còn rất thành công trong thể bút ký. Hà Nội ba mươi sáu phố phường là tác phẩm cuốn hút người đọc nửa thế kỷ qua. Tập bút ký gồm nhiều  mẩu ngắn mà sinh động thể hiện vốn sống phong phú và tài hoa của ông. Ông luận đàm, nói tới các món ăn, một dạng văn hoá ẩm thực đặc sắc Hà Nội. Không dài dòng, chỉ cần chấm phá đôi nét, thì các loại quà rong, loại đặc sản ấy có cả mùi vị, màu sắc hiện trên trang viết  như có phép thần, và kỳ thay, sản vật quê hương như có tâm hồn quyến rũ con người. Tỷ như tả về bánh cốm: Vuông vắn như quyển sách vàng, bọc lá chuối xanh buộc lạt đỏ, cái dây lạt đỏ như sợi tơ hồng buộc chặt lấy những cái ái ân…Và đây là bún chả: Cũng rau ấy, bún ấy, thế mà sao bún chả Hà Nội ngon và đậm thế, ngon từ cái mùi thơm, từ cái nước chấm ngon đi.


Và đây là bánh cuốn Thanh Trì: mỏng như tờ giấy và trong như lụa. Người bán bánh cuốn Thanh Trì đội mẹt và rổ trên đầu, từng tụm năm, bảy người từ phía lò lợn đi vào thành phố, dáng điệu uỷên chuyển và nhanh nhẹn. Đến cô hàng bán nước chè dưới ngòi bút Thạch Lam cũng trở nên ý vị: Cô hàng nước Việt Nam - dù ở dưới bóng đa, bên ruộng lúa, hay ở dưới mái hiên của thành phố, ở đâu cũng vậy, miệng cười tươi của cô hàng là dây liên lạc khắp cả mọi người. Cô hàng nước Việt Nam từ trước đến nay đã chiếm một địa vị quan hệ trong  lịch sử và trong văn chương: đã có nhiều tiểu thuyết đã bắt đầu từ đấy và kết cục cũng ở đấy


Nâng niu trân trọng những nét đẹp mang tầm vóc lịch sử văn hoá dân tộc, Thạch Lam không đồng tình với một số việc, một số hiện tượng chưa đẹp: “bây giờ các biển hàng viết chữ Pháp chiếm đến chín phần mười trong các biển hàng. Nhiều hàng, tuy chỉ giao thiệp với khách hàng Việt Nam thôi, cũng toàn chữ Pháp, cũng như ngày xưa họ đã dùng toàn chữ Nho”. Ông không phải là người hoài cổ, nhưng ông thực sự tiếc những cái đẹp mang chiều sâu văn hoá của dân tộc bị mai một, khi quan sát và suy ngẫm về những biển hàng. Ông nâng niu, trân trọng giá trị văn hóa, những nét đẹp ẩn chứa trong từng vật thể này. Bởi ở đó kết đọng những phẩm chất tốt đẹp của một thương hiệu, là kết tinh những giá trị thư pháp, là truyền thống quý báu, là công sức của nhiều thế hệ vun đắp mới có được. Ông  luôn có ý thức nâng niu và bảo tồn truyền thống: Đó có thể là vẻ yên tĩnh của một Thăng Long- Hà Nội cổ kính mang vẻ đẹp xưa, với một lối kiến trúc riêng. Và có khi chỉ là cảnh gia đình cụ thể “Giữa nhà, mảnh sân vuông lộ thiên, có bể non bộ và cá vàng, có dãy chậu lan, có bể đựng nước và trên tường có câu đối chữ Nho. Đôi khi đi qua một cánh cửa hé mở chúng ta thoáng nhìn vào: bóng một thiếu nữ nhẹ qua sân, hình dáng một cụ già cúi mình trên cây cảnh. Tất cả cuộc đời của những kẻ bên trong, cuộc đời xưa, những ý nghĩ cũ, những hy vọng và mong ước khác bây giờ”.


Hình ảnh Hồ Gươm, Tháp Rùa, Đền Ngọc Sơn là một cái gì thiêng liêng, cao quý trong tâm thức của người Hà Nội nói riêng, người Việt nói chung. Thạch Lam sớm nhận ra nét đẹp hoàn mĩ và giá trị thực của các di sản văn hoá này.  Với ông, những việc làm cho dù với dụng ý tốt đẹp như mắc thêm đèn điện chiếu sáng, đắp tượng đài, làm bót cảnh sát để giữ gìn an ninh... nhưng thiếu mất cái nhìn của người có con mắt văn hoá sắp đặt thì đều chỉ là “sự thêm thắt xấu xa”, là “bôi nhọ vẻ đẹp”. Nhìn những cột điện thẳng tắp, sừng sững, dây điện nhằng nhịt, với những cái “bình tích” bằng sứ trắng, ông thấy cột điện “như một thứ cây già mọi rợ, vụng về. Cái cây đó làm cho vẻ đẹp của cổng đền Ngọc Sơn giảm  mất đến chín phần mười”.


Ông nói  rõ: “Muốn sáng cổng, sáng cầu thì thiếu gì cách: mắc đèn vào những chỗ lõm, khuất khúc của cổng và của cầu: đèn để như thế vừa được kín đáo, vừa không làm giảm vẻ đẹp,  lại dịu dàng và làm tôn cảnh  lên. Đằng này, mắc những vòng sắt với cách hoa hoét rẻ tiền kia vào cái cổng đẹp đẽ có lối kiến trúc riêng, có vẻ cổ sơ ấy, thực là một cách đập phá mĩ thuật tai hại không gì bằng”…


Thạch Lam tài hoa. Ông có con mắt của một nhà hội hoạ chân chính, dù không theo nghiệp vẽ. Năm 1936 Hội mỹ thuật, mỹ nghệ Việt Nam tổ chức triển lãm tác phẩm của các hội viên. Thạch Lam với tư cách nhà báo, đã viết bài nhận xét đánh giá thật sâu sắc. Ông phân tích về chất liệu của từng tác phẩm, giản dị mà trung thực  nhưng vẫn toát ra nét thần của các hoạ sĩ nổi danh bấy giờ. Như tranh sơn dầu của Lê Phổ, Tô Ngọc Vân, Lưu Văn Sìn, Nguyễn Cát Tường, Nguyễn Tường Lân (Trùng tên với Thạch Lam). Ông khen ngợi bức tranh Cây chuối đầy thi vị của Nguyễn Đỗ Cung và tác phẩm Túp lều tranh của Trần Bình Lộc…Thạch Lam cho rằng tranh lụa rất đẹp mà còn dễ đi vào lòng người, dễ bán. Ông băn khoăn vì tranh lụa của một hoạ sĩ  lặp theo lối cũ, màu sắc, hình vẽ phảng phất giống nhau “ ngót mười bức tranh của ông ta đều giống nhau từ hình thể đến màu sắc. Hình như từ độ được hoan nghênh mấy bức vẽ đầu tiên, nhà hoạ sĩ không chịu tìm tòi hơn nữa…”. Với một cách chân thành như thế, Thạch Lam nhận xét cả tác phẩm điêu khắc, đồ sơn, kỹ nghệ thực hành như hàng ren, hàng thuỷ tinh, hàng thêu, và nghệ thuật nhiếp ảnh… một cách thận trọng và tinh tế.


Thạch Lam từng được ra tỉnh học tại trường Nam tiểu học Hải Dương (nay là trường tiểu học Tô Hiệu, nhìn thẳng ra phố An Ninh tới ga Hải Dương), rồi tiếp đó chuyển sang Tân Đệ, Thái Bình học tập. Ông sớm mồ côi cha khi mới lên 8 tuổi. Người mẹ goá bụa 37 tuổi, phải tần tảo gánh vác cơ nghiệp họ Nguyễn Tường trong hoàn cảnh đông con nhỏ. Thạch Lam chủ yếu sống bằng tình thương mẫu mực, nhân hậu của người mẹ và các anh chị trong phố huyện Cẩm Giàng nghèo mà buồn thiu, heo hút cảnh nông thôn, với người dân lam lũ.


Sau khi đỗ tú tài phần nhất, ông bỏ ngang đi làm báo với các anh. Tháng hai năm 1935 Thạch Lam từng được giao làm chủ bút báo Ngày Nay của TLVĐ.


Năm tháng ở Cẩm Giàng khó nghèo, nhưng cảnh vật, con người ở đây đã in đậm trong ký ức và có ý nghĩa tác động sâu sắc trong đời viết văn của ông, trở thành máu thịt sống động trong văn chương sau này. Người đọc gặp nhân vật trong truyện thấy có đủ lai lịch xuất xứ, mà Thạch Lam lấy nguyên mẫu trong phố huyện nghèo. Đấy là nhà chị Lê ở gần cánh đồng, chị Đối ở xóm chợ Cẩm giàng, ông Chiểu đan lờ bên gốc na, trước mặt là con đường đất khô trắng. Cũng có khi là chị Lựu hay hát bài ngày xưa có anh Trương Chi, người thì thậm xấu hát thì thậm hay.


Truyện Hai đứa trẻ là hồi ức của ông, hình ảnh đứa chị chính là bà chị Nguyễn Thị Thế, tức cô Năm, và đứa em là Thạch Lam thời thơ ấu. Trong Hồi ký họ Nguyễn Tường, bà Nguyễn Thị Thế cũng khẳng định điều này: Tôi không ngờ em Sáu (Thạch Lam) có trí nhớ dai thế, như truyện em tôi tả hai chị em thức đợi chuyến tầu đêm qua rồi mới đi ngủ. Năm đó tôi mới có chín tuổi, em tôi lên tám mà tối đến mẹ đã giao cho hai chị em phải ngủ lại để trông hàng…


Ngày ấy bà thông Nhu có một chõng hàng ở trước cửa ga xép Cẩm Giàng. Gọi là cửa hàng cho sang chứ thực ra chỉ bán dăm cút rượu, vài phong bánh khảo, vài gói thuốc lào… cốt là gặp khách quen đưa vào nhà bà ngoại (cụ quản Thuật) để nghỉ lại qua đêm. Cũng là hoạ hoằn có ông khách lỡ tàu ngủ lại, hoặc là ông lý, ông chánh ở các làng xa lên huyện có việc không về kịp. Nhưng cũng chỉ ào lên được ít ngày vào vụ thu thuế.. Thời ấy từ thuế người, thuế ruộng đều phải đem nộp quan, rồi quan huyện lại phải đem ra tỉnh nộp cho công sứ… Còn những ngày thường khách vắng teo.


Không say đắm như Xuân Diệu; quặn đau như Hàn Mặc Tử; cũng không xê dịch như Thế Lữ, văn chương Thạch Lam sâu sắc dịu dàng mà cứ như giọt nước thánh thót ngân nga trong lòng người đọc trên nửa thế kỷ qua. Văn chương Thạch Lam không gượng ép, thật hồn nhiên. Những hàng chữ đều mà nhanh, nét nhỏ thanh tú. Câu văn thắm thiết, có khi đĩnh đạc. Ông viết thận trọng, chưa chín thì chưa viết… nhẹ nhàng khoan thai như con người của ông vậy. Bởi vậy có lần chậm nộp bài, trễ hẹn, khiến cho Nhất Linh giận, sau hai anh em mới làm lành với nhau.


Thế Phong có lần nhận xét rằng, không có một sáng tác nào của Thạch Lam mà không có rất nhiều Thạch Lam trong đó. Cũng vẫn chỉ là chuyện luỹ tre, cô hàng xén, cái sân ga, đứa trẻ con sống trong thị trấn nghèo, tẻ nhạt… mà vẫn bừng sáng lên phẩm chất đẹp của con người. Dòng văn học 1930-1945, hay nói rộng hơn nền văn chương nước nhà thật tự hào có một Thạch Lam.


Khoảng năm 1935 khi đã 25 tuổi, Thạch Lam lấy vợ. Chị ruột là Nguyễn Thị Thế sinh con đầu lòng, mới để lại ngôi nhà ven hồ Tây cho cậu em Thạch Lam và tìm nơi khác.


Từ đây Thạch Lam mới có nhà riêng, bước vào cuộc sống tự lập.


Nhiều người  vẫn gọi ngôi nhà Thạch Lam là nhà cây liễu. Vì  trong  sân  sát hồ có cây liễu lớn, thân nâu sần sùi nứt nẻ, bóng rủ thướt tha. Cây liễu ấy do Thạch Lam trồng khi mới đến đây. Nhà thơ Huyền Kiêu ngày ấy có bài thơ chấm phá về cái ngôi nhà:


Tây hồ có danh sĩ


Nhà thì ở nhà tranh


Cửa trúc cài phên gió


Trước thềm bóng liễu xanh…


Ngôi nhà nhỏ nên thơ có cửa kính cửa chớp, tuy lợp rạ vách gỗ. Ở ngay đầu cổng có một lùm tre khác biệt với căn nhà chung quanh. Một cái sân nho nhỏ, ba phía móng nhà suốt đêm ngày ì oạp sóng nước hồ Tây. Ngôi nhà đơn sơ nhưng sáng sủa, ngăn nắp, sạch sẽ, nhà có cổng gỗ ra vào. Bên trong bày một bộ bàn ghế bằng mây, trên đặt vài cái bát da lươn uống chè xanh; trên tường thấp thoáng mấy bức tranh tĩnh vật. Nhà văn Đinh Hùng kể rằng, đứng trên sân thượng, ông nhìn về phía nhà Thạch Lam, theo đường chim bay hai nhà chỉ cách nhau chừng hơn trăm mét. Những ngày trời quang có thể nhìn rõ sợi khói lam chiều bảng lảng bay lên từ mái bếp nhà Thạch Lam và cả ngọn khóm tre đầu cổng nhà in trên nền trời. Ông cũng nhìn thấy Thạch Lam thong thả đi trên con đường lát gạch màu đỏ từ nhà ra phố hoặc từ phố trở về. Yên Phụ thời ấy là một làng ngoại ô sạch sẽ, thoáng đãng êm đềm và thơ mộng. Gần một nửa làng chạy vòng theo mép nước hồ. Ngôi nhà Thạch Lam xinh xắn, ở ngay đẩu làng Yên Phụ. Nhà thềm rộng trông  ra mặt hồ, phía trước là trường Bưởi, bên trái là con đường Cổ Ngư. Mùa xuân về, làng Yên Phụ bừng lên sức sống thanh tân  bởi muôn màu hoa cùng hương thơm các loài cẩm chướng, phù dung, lan huệ và đặc biệt hoa đào phô bầy sung mãn. Những ngày ấy Yên Phụ là cô gái đẹp, kiêu kỳ nhất, khiến cho các vùng ven ghen tỵ và thèm khát. Nhà Thạch Lam ở khúc đầu làng, gần một sân đình, ra vào thành phố thuận tiện. Tuy nhà rạ vách gỗ nhưng ông rất tự hào tìm thấy nguồn vui  từ hoàn cảnh thực của mình chứ  không phải  kiểu  học đòi, giả tạo. Nhiều lần Thạch Lam nói với bạn bè rằng: Con người ăn được rau quả,  ở trong nhà lá, nằm trên giường tre mà cảm thấy ngon, lòng thấy mát, mình thấy êm mới là sống nghệ thuật. Khi nơi ở có linh hồn thì chẳng cần gì cao sang…


Nhà Thạch Lam nghèo nhất trong gia đình. Nhà tranh vách đất thậm chí cái mền không có tiền mua. Nhìn thấy con đắp chăn dạ mỏng, lạnh quá phải đắp thêm khăn giải bàn và áo mưa trong căn nhà cạnh hồ Tây lộng gió lạnh thấu xương, bà Nhu thương con đi mua cái mền bông khác dầy dặn hơn cho ấm áp mùa đông. Thế nhưng nhà cây liễu ven hồ Tây đã là nơi gửi gắm nhiều kỷ niệm. Ngoài mấy anh em ruột Nhất Linh, Hoàng Đạo, người thân thiết như Khái Hưng  còn có Trần Tiêu, Song Kim - Thế Lữ, Huyền Kiêu, Nguyễn Xuân Sanh, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Tuân… khi thì bên khay trà, khi thì quanh bàn tổ tôm hay bên mâm rượu. Thạch Lam nghèo một phần vì sách bán ế, nhưng không vì thế mà người vợ hiền thục kém mặn mà với khách của chồng. Những bữa rượu cứ tiếp diễn, và bao giờ Thạch Lam cũng  mời mọc thịnh tình cho đến lúc các thực khách say mềm, có khi sinh sự với nhau trong âm thanh hỗn độn. Những khi ấy Thạch Lam vẫn chỉ điềm nhiên nâng chén, không nói lớn, càng mỉm cười, có khi như khuyến khích bạn bè cứ việc hết mình. Có người bạn văn chương bảo nhà cây liễu là ngôi nhà lịch sử, bởi nó chứng kiến vui buồn của những văn nghệ sĩ trong khoảnh khắc giao thời.


Cây giống bóng, cảnh giống người, ngôi nhà cây liểu đầy âm thanh và hương vị thiên nhiên. Đêm, nghe tiếng sóng vỗ xao xuyền mơ hồ, xen vào  tiếng gió xạc xào lọt qua khóm tre đầu cổng. Đêm, dìu dặt thứ hương của đất, của nước, của loài hoa thích toả vào sương lấp lánh ánh trăng. Phải vậy không mà trang viết Thạch Lam đầm đìa tình đời tình ái ? Phải vậy chăng, mà Thạch Lam không muốn dời đi nơi khác, mặc dù ngày ấy tuy nghèo nhưng ông vẫn có thể xoay sở đi tìm một ngôi ở nhà ngoài phố sang trọng hơn ?


Ngôi nhà ấy dường như quên cả thời gian lấp ló bao nhiêu giông bão, vẫn  thánh thót tiếng đàn nhịp phách, tiếng ngâm thơ và tiếng cười thù tạc, có cả những cuộc say tình nghĩa tình người…Từ đây đã có người ra đi không trở lại...


Bẵng đi một dạo, bạn bè không gặp nhau, một hôm nhà văn Đinh Hùng  tới thăm bạn. Nhà cây liễu cổng không cài then. Bên  trong nhà le lói ngọn đèn dầu hoả vàng vọt. Góc trong nhà một cánh màn buông kín giường,  Thạch Lam mặt trắng bệch nằm thoi thóp. Những người thân yêu của Thạch Lam lúc này chỉ có bà mẹ già ngoài sáu chục tuổi, anh cả Nguyễn Tường Thuỵ, chị gái Nguyễn Thị Thế, người vợ vừa sinh con và người em trai, bác sĩ Nguyễn Tường Bách ở bên. Nhà văn âu yếm nhìn đứa con thứ ba mới ra đời, khen nó khoẻ mạnh (sau này là Nguyễn Tường Giang) rồi ngước mắt nhìn lần cuối cùng người mẹ già, người vợ trẻ vừa ở nhà hộ sinh về, rồi lịm đi. Căn bệnh lao phổi đã xé ngang tiếng thở đời ông. Đó là ngày 27- 6-1942. Thật không ai ngờ rằng mới hôm trước, Thạch Lam còn bảo chị gái đỡ mình ngồi cao lên để nhìn cho rõ cây liễu ven hồ, và phàn nàn rằng có ai đã phạt một cành rủ sát mặt nước làm giảm đi vẻ đẹp tự nhiên.


Thạch Lam hưởng dương 32 tuổi tại nhà riêng - nhà cây liễu, làng  Yên Phụ, ven hồ Tây - Hà Nội, tạo ra một chỗ ngoặt, hẫng hụt trong TLVĐ. Ông ra đi để lại ba đứa con, hai trai một gái cho người vợ trẻ trong cảnh nghèo.


Ngôi mộ Thạch Lam đặt ở nghĩa địa Hợp Thiện, gần ô Đống Mác, nơi người vợ trước của Nguyễn Tường Thuỵ nằm tại đó.


4. Khái Hưng - Cậu ấm làm văn chương


Trong bát tú của TLVĐ ngoài ba anh em ruột Nhất Linh, còn lại năm người không cùng dòng tộc. Trong số ấy có một người nhiều tuổi nhất, là Khái Hưng.


Khái Hưng là con quan tuần phủ Trần Mỹ, cử nhân Hán học từng có thơ in trên Nam Phong, quê làng Cổ Am, Vĩnh Bảo, Hải phòng (Trước thuộc tỉnh Hải Dương). Cụ tuần có 5 người vợ. Bà cả sinh được ba trai một gái. Người con trai đầu Trần Xuân là thương tá nhưng mất sớm, đã đôn Trần Giư lên thành con trưởng trong gia đình, là anh của Trần Tiêu và em gái  Trần Thị Ngọc.


Sinh năm 1895, thuở nhỏ Khái Hưng tên là Trần Dư (Giư). Chỉ vì thích tính cách của vị tướng đời Trần là Trần Khánh Giư, nên ông tự thêm chữ Khánh làm đệm thành Trần Khánh Giư. Ông tháo rời các chữ cái trong hai chữ Khánh Giư ra, rồi ghép lại thành bút danh Khái Hưng. Hồi nhỏ ông học chữ Hán, sau mới chuyển sang học chữ Tây, trường Anbe Sarô. Lấy bằng tú tài phần một ban cổ điển, ông về Ninh Giang mở đại lý bán dầu hoả. Đây là phố phủ chứa nhiều hình mẫu số phận con người mà sau này ông xây dựng nên cuốn tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa mang tên Thoát Ly gây tiếng vang. Ông say mê thể thao, mê quần vợt, bơi ếch rất tài, thích đi bộ. Sau ra Hà Nội dạy học tại trường tư thục Thăng Long, tham gia viết cho tờ Văn Học của anh em ông Dương Bá Trạc và Dương Tụ Quán. Cũng trong khoảng thời gian 1930 đến 1932, Nhất Linh từ Pháp về nước và cũng dạy tại trường này. Nhất Linh để ý tới một bài khảo luận ngắn trên báo Văn Học, ký tên BánThan, rất có cảm tình. Về sau biết là Trần Khánh Giư cùng trường, là một người kín đáo, dễ mến và tin cậy. Nhất Linh thấy Khái Hưng có những khả năng hiếm có về văn chương, có đủ điều kiện và thế lực ra làm quan, mà từ chối. Nhất Linh kết bạn với Khái Hưng mau chóng trở thành một cặp tác giả nổi tiếng.


Trong văn chương của Khái Hưng có hai phần: văn học cổ điển và  văn học Âu châu cấp tiến. Vốn là người học hành căn bản lại từng trải cho nên  văn ông vừa bao quát không khí mới mẻ lại giữ được nét truyền thống phương Đông trữ tình lãng mạn.


Khái Hưng lấy vợ là con gái vị thượng thư từng đậu cử nhân triều Nguyễn, tổng đốc Bắc Ninh. Bà tên là Lê Thị Hoà, biệt hiệu Nhã Khanh. Ngày vu quy, nhà gái còn cho vợ chồng Khái Hưng hơn 50 mẫu ruộng ở miền Quế Phương, chợ Cồn - Nam Định để làm vốn. Con nhà quan, lại thông thạo Hán văn, viết chữ nho rất đẹp, bà tâm đầu ý hợp với chồng, thường đàm đạo văn chương. Khi sáng tác nếu có chương đoạn nào viết về các bà phái thượng lưu, Khái Hưng thường hỏi thêm ý kiến vợ cho cẩn thận. Có lần Khái Hưng viết truyện Bông cúc huyền có đoạn “ đôi ủng đan bằng kim tuyến” bị vợ chê là sai, bởi kim tuyến không thể đan được, phải sửa. Vợ chồng sống  với nhau thuận hoà, rất thương yêu như vậy nhưng Khái Hưng không có con. Nhất Linh đã cho người con trai của mình là Nguyễn Tường Triệu làm con nuôi Khái Hưng, và sau này đổi tên là Trần Khánh Triệu. Vì thế, Khái Hưng được con gọi là “papa toà báo” để phân biệt với “cậu Nhà Bè” là Nhất Linh, cha đẻ.


Văn chương Khái Hưng chủ yếu là tiểu thuyết, mà ái tình làm đề tài chính. Hầu như tác phẩm của ông thường xoáy vào chủ đề: đề cao tình yêu tự do, chống lễ giáo phong kiến, một phần cải cách xã hội.


Nói như Vũ Ngọc Phan thì, Khái Hưng là văn sĩ của thanh niên Việt Nam, cũng như Alfed de Musset là thi sĩ của thanh niên Pháp thuở xưa.


Khái Hưng rất hiểu tâm lý phụ nữ, cả tuổi trẻ và tuổi già. Trong truyện của ông phần kết bao giờ cũng gây cảm giác bâng khuâng, man mác cho bạn đọc. Vũ Ngọc Phan nhận xét: Khái Hưng viết truyện ngắn tuyệt hay, linh hoạt và cảm người ta hơn là truyện dài. Vì nó vui tươi và rộng mở. Khái Hưng quan sát lão luyện và dùng ngòi bút tài tình. Truyện ngắn Khái Hưng có một đặc biệt là ông tìm ra ý nghĩa của mọi việc trên đời, dùng ngôn ngữ gỉan dị trong sáng ghi lại,  làm cho người ta cảm nhận chứ không gò ép cám dỗ người ta bằng lý trí.


Là một người từng trải, tài hoa Khái Hưng viết đủ các thể loại, mà đều hay gây ấn tượng. Là một người thông minh, nhạy cảm, Khái Hưng từng làm cho mọi người bất ngờ. Năm 1933 một lần cùng anh em toà báo đi lễ chùa ở Bắc Ninh, Khái Hưng đã xúc động trước con người và phong cảnh, để rồi ít lâu sau ông cho ra đời tiểu thuyết, hay còn là một bản tình trường thật độc đáo. Hồn bướm mơ tiên là tác phẩm đầu tay của Khái Hưng, cũng là tác phẩm đầu tiên của TLVĐ. Câu chuyện tình xảy ra ở chốn chùa chiền, đã cuốn hút thanh niên vào tình ái lý tưởng, với đủ tâm trạng, cung bậc .


Khái Hưng là nhà văn của thanh niên trí  thức thành thị. Mọi góc cạnh cuộc đời, mọi tình huống đời sống đều thành tác phẩm. Nửa chừng xuân là chuyện về con người và gia đình  bị kẹp vào luân  lý, lễ giáo nên tình yêu giữa Lộc và Mai phải lìa nhau. Gánh Hàng Hoa ca ngợi vẻ đẹp ngây thơ, hết lòng yêu chồng của cô gái quê trẻ đẹp tên Liên nhưng lại chịu nhiều bất hạnh. Đời mưa gió một câu chuyên tình rùng rợn giữa anh giáo Chương và cô gái giang hồ Tuyết. Trống Mái kể chuyện yêu đương giữa Hiền cô gái  Hà thành và chàng Vọi thanh niên ngư dân. Mỗi người có vẻ đẹp riêng bù đắp cho nhau cùng tận hưởng những giờ phút tuyệt vời giữa thiên nhiên phóng khoáng.


Khái Hưng có cái nhìn cuộc đời đầy khám phá, tìm tòi sáng tạo. Chỉ một lần đi thăm cảnh một ngôi chùa, có những ngôi tháp cổ kính đầy huyền bí. Vậy mà sau đó ông  đã tạo ra bối cảnh cho cuốn tiểu thuyết lịch sử Tiêu Sơn tráng sĩ, gồm 50 chương, có 81 nhân vật với một không gian rộng dài, đồ sộ. Ban đầu cuốn sách được đăng tải từng kỳ trên báo Phong Hoá năm 1934 rồi in thành sách năm 1935, từng gây bao tranh luận, tốn nhiều giấy mực của các nhà nghiên cứu văn học sử một thời...


Tuy là con quan, nhưng ngay từ tấm bé Khái Hưng đã chịu cảnh hành hạ của bà dì ghẻ khắc nghiệt đã để lại trong ký ức ông những nỗi xót xa . Từ vốn  sống ấy về sau ông  viết nên hai cuốn tiểu thuyết Thoát Ly và Thừa Tự…


Thực vậy, Thoát ly là tấn bi kịch chuyện dì ghẻ con chồng trong những gia đình phong kiến.


Thoát Ly được lấy bối cảnh từ phố phủ Ninh Giang, thời Khái Hưng còn làm đại lý dầu hoả. Ngày ấy phố phủ có nhiều hạng người: Quan thì có quan phủ, quan đốc, quan chủ, quan huấn và quan phán đầu toà. Kế đến xã hội mô phạm của các nhà giáo, bọn tổ tôm một đồng,  xã hội trưởng phố rất hách dịch đối với những nhà buôn nhỏ và quá lễ phép nhiều khi khúm núm nữa đối với những bề trên. Ấy là chưa kể  một xã hội khách trọ tả pí lù, chiếm đến một phần tư dân số... và xã hội tài xế, khách hàng rất trung thành và rất hào phóng.


Chính ở cái phố phủ ẩy, đội xếp có thể tự do tung hoành cùng quản phố bắt giải lên phủ bất cứ người nữ sinh nào đang đêm nói chuyện với nhân tình trong sân trường. Hồng mồ côi mẹ khi 6 tuổi, và từ khi là thiếu nữ cô đã bị cha lạnh lùng, dì ghẻ cay độc đay nghiến. Hai con người ấy về hùa với nhau để ruồng rẫy đánh đập cô... Đang học trường Nữ sư phạm, Hồng bị cha và dì ghẻ gọi về Ninh Giang, bắt nhuộm răng đen và tước đoạt các nhân quyền, kể cả quyền hôn nhân. Hồng bị dì ghẻ tìm mọi cách phá đám các mối tình của cô rồi gả ép cô cho đứa cháu mình, đó là một tên lêu lổng và dốt nát...


Số phận con người bị đẩy dồn đến cùng đường, Hồng phải thốt lên chua xót: Làm gì cũng được, kể cả gái giang hồ, nhưng đừng ở trong gia đình có một người dì ghẻ như dì ghẻ của tôi!


Để chuyển tải nội dung, Khái Hưng viết kỹ thuật tinh xảo, bố cục truyện giản dị, khéo léo. Tình tiết truyện thưa ít, động tác nhân vật ngắn gọn. Nhân vật trong truyện thường có tác phong cử chỉ thanh thoát, lời nói hóm hỉnh duyên dáng, hoa lệ của tầng lớp trí thức. Ông không quen tả nhân vật tâm trạng căng cứng tàn ác, đen tối, hay tả nỗi niềm bâng khuâng êm dịu thầm kín... Văn ông có chất thơ, giàu trí tưởng tượng, bay bướm, có hình ảnh nhạc điệu, hợp với truyện tâm lý. Có nhiều trang viêt đẹp như tranh, tươi mát cảnh làng quê Việt Nam, ví như truyện Gia Đình, có đoạn tả thế này: Những cây cau thân thẳng và mảnh toả từng buồng hoa vàng xuống  một mùi thơm phảng phất, thanh thanh của hoa chè: hai hương vị của nơi thôn dã.


Trong Trống Mái, những câu văn chứa chất hội họa: Mặt trời vừa mọc và ẩn sau  đám mây tím trải ngang trên làn nước đủ màu, từ màu lam sẫm, lam nhạt ngoài xa cho đến các màu hồng, màu vàng ở gần bờ. Trên nền trời sắc da cam chói lọi, những vạch đỏ thẫm xoè ra như bộ nan quạt là bằng ngọc lựu.


Là một trong những cây bút chính của nhóm, một trong những người sáng lập TLVĐ, ông viết cho tờ Phong hoá, Ngày nay, thường giữ mục Câu chuyện hàng tuần. Thời kỳ đầu, TLVĐ có 6 người, Khái Hưng đã giới thiệu người em là Trần Tiêu, giáo viên trường huyện, đang viết tiểu thuyết CON TRÂU gia nhập, được anh em trong đoàn nhất trí thành Thất tinh - 7 ngôi sao.


Về sau theo đề nghị của Nhất Linh, kết nạp thêm Xuân Diệu thành bát tú. Vậy là trong bát tú ấy, có ba anh em nhà Nhất Linh, và hai anh em Khái Hưng.


Theo Trần Khánh Triệu kể, thì Khái Hưng thường viết văn vào sáng sớm, hoặc về khuya. Nếu trời lạnh, ông  xếp bằng trên ghế mây, trước hết gây cảm hứng bằng cách ngâm nga vài câu chèo cổ hay trống quân, rồi nhả khói thuốc thành vòng tròn trên trần nhà. Khái Hưng dùng bút máy ngòi vàng loại Watermann, giấy dùng pelure dày để sáng tác. Khái Hưng yêu con vật  thích mèo, ghét chó vì ông cho rằng chó là loài nịnh bợ, bị đá vào mõm nó vẫn ve vẩy đuôi, hí hởn, lè lưỡi liếm ngoen ngoét. Còn mèo thái độ dứt khoát, ai yêu nó, nó âu yếm, ai trêu nó, nó cào hoặc gầm gừ. Ông ra Hà Nội dạy học tư ở trường Thăng Long, rồi viết báo làm văn.


Có thể nói trong TLVĐ, Khái Hưng là nhà văn viết nhiều nhất.


Tính từ năm 1934 đến 1942 ông đã xuất bản  trên hai mươi cuốn sách, gồm 12 truyện dài, 5 tập truyện ngắn, 3 vở kịch, 4 tập truyện thiếu nhi. Ngoài ra viết chung với Nhất Linh ba tiểu thuyết nổi tiếng: Anh phải sống, Gánh hàng hoa, Đời mưa gió, đã làm cho tên tuổi ông sáng lên và chiếm được tình cảm của bạn đọc, nhất là bạn đọc thanh niên. Tú Mỡ kể rằng khi viết chung Đời Mưa Gió, hai người thường gặp nhau vào tối thứ bẩy tại toà soạn - số 80 phố Quán Thánh. Họ bàn nhau xem số này cho Chương và Tuyết làm gì, gặp nhau ở đâu. Rồi phân công thay nhau chấp bút cho kịp bài lên mặt báo.Tiểu thuyết Đời mưa gió đăng dần  trên báo Phong Hoá trước, sau mới in thành sách.


Khái Hưng còn là một dịch giả. Bài Tình tuyệt vọng ông dịch từ thơ của Félix Arvers rất nổi tiếng.


Lòng ta chôn một khối tình


Tình trong giây phút mà thành thiên thâu


Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu


Mà người gieo thảm như hầu không hay


Mấy chục năm qua, đã có biết bao bài nghiên cứu về văn chương Khái Hưng. Chỉ một cuốn sách “Khái Hưng nhà tiểu thuyết xuất sắc” có tới  ba chục bài của gần ba chục tác giả: Vũ Ngọc Phan, Trần Khánh Triệu, Dương Nghiễm Mậu, Hồ Hữu Từơng, Vu Gia, Nguyễn Vỹ...


Vu Gia trong bài: Khái Hưng - nhà tiểu thuyết xuất sắc, cho rằng kết cấu tiểu thuyết của ông đạt đến mức điêu luyện tinh vi.


Trương Chính trong Dưới mắt tôi, ca ngợi Khái Hưng có lối văn giản dị thanh tao, bóng bẩy nhưng trong sáng, nhịp nhàng nhưng không mất vẻ tự nhiên. Nhiều câu văn phảng phất âm điệu thơm tho, thấm vào hồn ta như mùi hương đượm... Ông có thể thu một cảnh bằng vài nét đơn sơ, nhưng mềm mại, nhưng trong trẻo và tình tứ. Ông kết tinh được cả cái hồn thơ man mác bao trùm  cảnh vật và ghi được mầu sắc rất hay biến đổi bằng một ngòi bút điêu luyện... Vào hồi 1933 một quyển như Hồn Bướm Mơ Tiên là một hòn châu báu.


 (Tổng tập Văn học Việt Nam tập 24B- NXB KHXH- 1997)


Còn đây: Với Khái Hưng, đó là một nhà tiểu thuyết có biệt tài, và người ta có thể gọi ông là nhà văn của thanh niên. Ông rất am hiểu tính tình tuổi trẻ. Phần đông thanh niên trí thức Việt Nam là những độc giả trung thành của ông và phụ nữ chiếm số đông nhất.(Nhà văn hiện đại, tập 2- NXB KHXH, 1989) .


Có lẽ it người biết Khái Hưng từng tham dự Đại hội văn hoá cứu quốc (tháng 10-1946- KHL chú). Sự việc này đã đăng trên báo Tiên phong số 22: Khi thấy Tố Hữu và Nguyễn Đình Thi bắt tay Khái Hưng đến dự thính Đại hội văn hoá cứu quốc thì có đồng chí sung sướng đến rơi nước mắt và viết “Trong cử chỉ ấy, phải nhận là có một chút huyênh hoang của cả hai bên, ai cũng muốn  tỏ ra mình  quân tử”. Trong cuốn Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại 1930-1945, tác giả Vũ Đức Phúc phê phán là cái nhìn hết sức lẫn lộn.


Trong đại chiến thế giới thứ hai, Khái Hưng tham gia hoạt động chính trị, có chân trong Đảng Đại Việt dân chính, nên bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam. Ban đầu giam tại Sở Liêm phóng, sau vài ba tháng thì bị đưa đi  trại An Trí ở Vụ Bản. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (tháng 3 năm 1945) mới được thả.


Ông cùng Hoàng Đạo, Nguyễn Tường Bách cho ra tờ Ngày Nay Kỷ Nguyên Mới.


Về cái chết của Khái Hưng có nhiều nguồn nói ông mất ngày 19-12-1946. Chúng tôi đọc bài “Pa pa toà báo "của Trần Khánh Triệu, con nuôi Khái Hưng mới biết rằng sau Tết Đinh Hợi, ông còn về với gia đình: “Rồi Tết qua đi trong chán nản, kinh hoàng. Sau tết một thời gian tàu Pháp chạy dọc theo sông Hồng bắn phá dữ dội, trong làng đang rục rịch tản cư thì bất chợt papa trở về…” . Qua đoạn hồi ký này có thể khẳng định tài liệu viết Khái Hưng mất tại huyện Xuân Trường, Nam Định ngày 19-12-1946 là không chính xác.


Người đời sau chẳng ai nhớ có một cậu ấm Trần Dư, con quan tuần phủ, nhưng người ta ghi mãi trong lòng một nhà văn Khái Hưng.


(còn tiếp)


phongdiep.net

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thương nhớ mười hai: Tháng Giêng mơ về trăng non rét ngọt - Vũ Bằng 03.02.2019
Bình “Đào lê mỹ tửu” của Thạch Lam - Vũ Bằng 27.01.2019
Tam Ích Lê Nguyên Tiệp - Một lời nguyện thiết tha: Xin cho tôi chết lẹ - Vũ Bằng 27.01.2019
Sương Xuân và hoa đào - Vũ Thư Hiên 27.01.2019
Doãn Mẫn - “Biệt ly” mà không biệt ly - Hoài Anh 22.01.2019
Lê Yên - nhạc sỹ thuộc thế hệ đầu của tân nhạc Việt Nam - Hoài Anh 22.01.2019
Dương Thiệu Tước và “Tiếng Xưa” - Hoài Anh 21.01.2019
Phù Dung ơi, vĩnh biệt! (tên cũ là "Cai" -Kỳ cuối) - Vũ Bằng 20.01.2019
Về miền an lành - Triệu Xuân 12.01.2019
Nguyễn Xuân Khoát - Người mở ra buổi “bình minh” của lịch sử tân nhạc - Hoài Anh 11.01.2019
xem thêm »