tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28932160
29.07.2011
Khúc Hà Linh
Anh em nhà Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh): Ánh sáng và bóng tối (4)

Trong hồi ký " Nhất Linh - cha tôi” của Nguyễn Tường Thiết phát hành tại Sài Gòn năm 1964, những ngày cuối cùng của Nhất Linh được kể lại như sau:


 “... Buổi sáng ngày 7-7 1963, Nhất Linh đi thật sớm. Ông mở ngăn kéo, lấy mấy tập sách, tập bản thảo những tác phẩm cuối cùng, gói vào một tờ nhật báo. Các con đoán có lẽ ông đi họp ở đâu vì cũng đúng vào chủ nhật tuần trước, tức 30-6, ông đã tới dự phiên họp đặc biệt của nhóm Bút Việt. Khoảng gần 10 giờ Nhất Linh về. Ông không thay quần áo ngay như mọi lần, cứ để nguyên quần áo tây ngồi xuống ghế xích đu, bên cạnh người con trai. Điếu thuốc lá rung rung ở trên đầu hai ngón tay, ông mở bia, rót vào cốc nhỏ ra dáng suy nghĩ. Một sấp ronéo để trước mặt ông. Đó là bản cáo trạng khá dầy, trong đó có những lời kết tội như "phản quốc", "xâm phạm an ninh quốc gia". Trong suốt hơn một giờ, Nhất Linh vẫn giữ im lặng, suy nghĩ. Khoảng 11 giờ, với vẻ thảnh thơi, ông thay quần áo ngủ, rồi dặn người con trai Nguyễn Tường Thiết:" Chiều nay con lại luật sư Chính lấy hết các giấy bác sĩ về. Biết địa chỉ không?". Con trai nói: "Con đoán họ chẳng làm gì cậu đâu, nếu họ muốn bỏ tù thì họ đã bắt từ lâu rồi. Việc này họ đem ra xử cho có lẽ, rồi kết mình vô tội để hạ nhục chơi. Vả lại nếu có ra Côn Đảo thì cũng chả sao, chỉ làm giầu thêm cuộc đời tranh đấu của cậu. Cứ coi như là một dịp đi nghỉ mát". Nhất Linh đáp lại: "Cậu chẳng sợ kết quả ngày mai ra sao vì ở nhà hay ở tù thì cũng mất tự do như nhau. Có điều bực nhất là họ lấy tư cách gì mà lại đem xét xử những người quốc gia đối lập rồi gán cho họ tội phản quốc”.


Nhất Linh đã có chủ ý cho độc dược vào rượu uống. Khi gia đình phát hiện ra thì đã muộn: Cuối phòng, vẫn trên cái ghế xích đu buổi sáng ông gục đầu hơi ngoẹo về phía vai phải, một cánh tay buông lỏng thả xuống sàn nhà. Dáng điệu ấy thoạt trông thì khổ sở nhưng nhìn lên gương mặt thì tuyệt nhiên không một nét đau đớn. Ông như người ngủ gục. Gương mặt êm ả, bình thản. Để ý lắm mới thấy một ít nước bọt rỉ ra ở khóe mép... Thân thể ông mềm, trong túi có một tờ giấy, đó là Di ngôn. Ông đã viết hai bản di chúc, một để trong túi áo ngực, một tờ dặn  đưa cho bác sĩ Đặng Văn Sung, nhờ ông ấy chuyển ra ngoại quốc.


            Nhất Linh đã ra đi ở tuổi 58 để lại di chúc: “Đời tôi để  lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xử tôi cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng, sẽ làm cho nước mất về tay cộng sản. Tôi chống đối sự đó và tự huỷ mình cũng như Hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do. 7.7.1963 Nhất Linh Nguyễn Tường Tam”


          Chính quyền Ngô Đình Diệm đã tìm cách đối phó. Họ yêu cầu tang quyến phải an táng gấp, trong khi đó gia chủ đòi phải chờ đến ngày chủ nhật, đợi con cả Nhất Linh ở Pháp về chịu tang. Mật vụ được cài nhan nhản ở xung quanh nhà Nhất Linh, khu chợ An Đông. Người thăm viếng phần lớn đàn bà nhiều hơn đàn ông, bởi người ta phải đề phòng khủng bố. Nhà cầm quyền cũng từ chối không cho quan tài Nhất Linh đến chùa cầu siêu, bắt đám tang đi theo lộ trình, đi đúng giờ quy định sẵn. Gia quyến tìm  nhiều cách đấu tranh, sau cùng chính quyền phải  đồng ý cho quan tài ông ghé qua chùa Xá Lợi cầu siêu, nhưng không cho quan tài vào trong.


 Theo Thế Uyên trong bài “Người bác” (TLVĐ trong tiến trình văn học dân tộc-NXB VHTT, năm 2000), đám tang ông có nhiều cảnh sát chiến đấu và mật vụ đi lẫn trong những người đưa đám. Đoàn đưa tang đầu tiên là một vòng hoa lớn, sau là một người mang ảnh Nguyễn Thái Học, tiếp theo là tấm ảnh chụp lại hình Nhất Linh do Nguyễn Gia Trí vẽ dở như nói phần trên.


Vũ Hoàng Chương viếng Nhất linh bằng đôi câu đối rất sâu sắc:


* Người quay tơ, đôi bạn, tối tăm, anh phải sống chứ sao đoạn tuyệt


* Đời mưa gió, lạnh lùng, bướm trắng, buổi chiều vàng đâu chỉ nắng thu.


Trừ bốn chữ “chứ sao, đâu chỉ” ra, còn toàn bộ là tên tác phẩm của ông.


Ngày 8-7-1963 tại phiên toà, những người bị xét xử trong đó có Phan Khắc Sửu đã xé một chiếc áo đen, đeo cánh tay trái làm băng tang Nhất Linh, khiến cho chủ toạ phiên toà ngỡ ngàng. Uỷ viên chính phủ Lê Nguyên Phu nói: “Bọn Quốc dân Đảng để tang Nguyễn Tường Tam”. Nhưng thực ra gần 30 người chính trị phạm hôm đó đều đeo băng tang, chỉ trừ Phan Quang Đán. Kết thúc phiên toà, mỗi bị can bị tù 5 năm đầy đi Côn Đảo.(Theo Trương Bảo Sơn).


Thi hài Nhất Linh được an táng tại nghĩa trang Giác Minh, sau được  hỏa thiêu di cốt, gửi bình tro tại chùa Kim Cương đường Trần Quang Diệu quận 3 Sài Gòn. Năm 1981, bà Nhất Linh từ Sài Gòn sang Pháp đoàn tụ với con, đã qua đời và được an táng ở đấy. Hai mươi năm sau, tức 2001, các con của ông bà Nhất Linh đã quyết định dời mộ cha mẹ và chị gái lớn là Nguyễn Thị  Thư về Hội An - Quảng Nam, nguyên quán của gia tộc Nguyễn Tường. Mộ ông bà Nhất Linh nằm gần mộ cụ tổ là tiến sĩ Tam giáp Nguyễn Tường Phổ, người đầu tiên của họ Nguyễn Tường ra làm quan và lập nghiệp ở Cẩm Giàng Hải Dương, khi mất đã được triều đình nhà Nguyễn cho phép mang thi hài về an táng tại quê nhà.


Cuộc đời Nhất Linh đầy gian nan và phức tạp. Có lần ông ghi chép nhìn nhận cuộc đời mình, mà như một chúc thư:


“Những lúc ngoảnh về quá khứ, kiểm điểm công  việc mình đã làm tôi thấy rõ ràng công việc tốt đẹp, lâu bền và có ích nhất của đời tôi là sự thành lập được Tự Lực Văn Đoàn và công việc sáng tác...”


(Nhất Linh - 2 giờ sáng, mồng 1 Tết năm Quý Tỵ 14-2-1953)


Trước khi mất khoảng mấy giờ đồng hồ, Nhất Linh còn trò chuyện với con trai. Khi Nguyễn Tường Thiết hỏi cuộc đời cậu gian nan như thế, thì cái gì là tâm đắc nhất, ông không hề dấu diếm, trả lời con: "Thật ra thì chẳng có việc gì đáng tự hào vì chẳng có việc nào cậu cho là đến nơi đến chốn. Nhưng cậu vừa lòng nhất là việc thành lập được Tự Lực Văn Đoàn. Đến bây giờ cậu vẫn tha thiết nhất về việc này.


Nhất Linh đã nói thực lòng. Ngay từ ngày ông còn lưu vong trên hòn đảo Sường Châu, một lần vợ ông, bà Phạm Thị Nguyên đã sang thăm chồng và tiếp tế tiền để chồng sinh hoạt, bà không khỏi bồn chồn khi thấy chồng sống cô độc trên đất khách. Bà luôn tìm cách nhắc lại về thời làm báo, viết sách. Chỉ những khi đó, như một phép lạ, nét mặt Nhất Linh vui, tươi sáng. Bà tâm sự với bạn của chồng rằng, nhẽ ra Nhất Linh không nên đụng vào chính trị, chỉ viết văn, làm báo cũng vất vả rồi! 


Cũng đã nhiều lần Nhất Linh thường trao đổi với bạn hữu rằng: Văn hoá có sức mạnh thay đổi lâu bền hơn chính trị. Làm chính trị có ích một thời, làm văn hoá mà thành công, có ích mãi mãi. Văn chương vượt thời gian, không gian.


Trưa ngày 7-7-1963, khi Nhất Linh còn ngồi nói chuyện với con trai là Nguyễn Tường Thiết,  nghe con gợi ý ông nên viết hồi ký thì Nhất Linh đã bộc lộ ý mình: “Cậu cũng có dự tính viết ba quyển: Cuộc đời làm báo của Nhất Linh, cuộc đời làm cách mạng của Nguyễn Tường Tam, và quyển thứ ba  cậu viết về hoa phong lan”. Nhưng rồi ông chưa thực hiện được ý nguyện ấy, ngậm ngùi để đời mình cho lịch sử xét xử.


Đúng như di chúc Nhất Linh để lại, đời ông lịch sử sẽ phán xét. Thế nhưng ông đã tự nhận ra rằng: trong cuộc đời của mình, Nguyễn Tường Tam  đã thất bại khi làm chính trị, chỉ còn một nhà văn Nhất Linh sống mãi trên văn đàn Việt Nam.


Nhất Linh thích vẽ, thổi kèn và thích nhất hai câu thơ của Huy Cận, trong bài Chiều xưa:           


Đồn xa quằn quại bóng cờ


Phất phơ buồn tự thời xưa thổi về.[3]


Vợ ông là bà Phạm Thị Nguyên (1909-1981), quê làng Phượng Dực,  Thường Tín, tỉnh Hà Đông, trước năm 1945 là chủ hiệu buôn cau khô có tiếng ở Hà Nội mang tên Cẩm Lợi. Bà mất tại Pháp ngày 6 tháng 5 năm 1981.


Là một người Tây học, từng trải, nhưng việc hôn nhân của mình, Nhất Linh lại nghe theo sắp đặt của gia đình. Về việc ông lấy vợ, bà Nguyễn Thị Thế em ruột Nhất Linh kể: “Mẹ dục mãi anh mới chịu đi coi mặt. Đám cưới xong, mẹ tôi lại đi cân gạo với các bà bạn. Anh Tam cũng thôi đi làm, xin vào học trường Cao Đẳng Hội Họa. Chị Tam dọn hàng bán cau ở ngay nhà...”. Sau khi kết hôn, ông bà ở nhà 15 phố Hàng Bè, Hà Nội, bà vẫn bán cau khô, có quan hệ buôn bán với bạn hàng trong Nam và Quảng Nam.


Ông bà Nhất Linh có đông con. Theo Nguyễn Tường Thiết, một lần về thăm Huy Cận ở Hà Nội được nhà thơ vui vẻ kể lại rằng "Bố mẹ cháu có trên mười người con. Cháu có biết vì sao cháu có đông anh em thế không? Mỗi lần bà Nhất Linh mang bầu thì ông Nhất Linh lại nói với tôi là sau mỗi lần sinh đẻ bà khỏe hẳn ra chứ không như những người đàn bà khác ngại đẻ, cho nên có nhiều con cũng là một cách tốt để bả sống lâu."


Trong số ấy, con gái lớn là Nguyễn Thị Thư, con gái thứ hai mất ở Cẩm Giàng, con trai út là Nguyễn Tường Thái bị bệnh tê liệt chết khi tám tuổi, Nguyễn Tường Thiết áp út bị đôn xuống là em út trong gia đình.


     Từ khi viết cuốn Nho Phong đầu tay (1926) đến khi ngừng thở (1963), Nhất Linh để lại 17 tác phẩm chính, chủ yếu là tiểu thuyết. Trừ hai cuốn Nho phong, Người quay tơ xuất bản trước khi thành lập TLVĐ, còn lại 10 cuốn đều in ở nhà xuất bản Đời Nay. Sau này vào Sài Gòn ông hoàn chỉnh một số tiểu thuyết dang dở và in thêm 5 cuốn nữa trên nhà xuất bản Phượng Giang.


Nhất Linh, ngoài những tấm hình được công bố rộng rãi, qua nhiều ký ức của đồng chí, bạn bè và người thân trong gia đình, thì ông là người dáng dong dỏng quắc thước, khuôn mặt phong sương, có cặp mắt sâu, đôi mày rậm, vầng trán cao, nụ cười cởi mở dưới hàng râu mép. Nhất Linh có cái nhìn đặc biệt, nhìn thẳng và sâu vào đôi mắt người đối diện, nhưng lúc nào cũng phảng phất vẻ mơ màng, xa xăm.


Nhất Linh tinh tế và mực thước. Là người có khiếu thẩm mỹ, nên dù trong không gian chật hẹp thế nào ông vẫn tạo nên một khung cảnh tươi tắn và ấm cúng. Cầm tinh con ngựa, tuổi Bính Ngọ, mệnh Thiên hà thuỷ - nước sông trời, cuộc đời ngựa bay nhảy trên đồng cỏ, nay đây mai đó. Ngay từ khi xây dựng gia đình, ông đã nói với người vợ rằng, mỗi người có bổn phận. Ông có bổn phận đối với xã hội, còn bà có bổn phận đối với gia đình. Thật vậy những năm tháng, chồng mải mê làm báo, xoay sở nhiều bề nhưng vợ ông, bà Phạm Thị Nguyên tất tả vật lộn với nghề buôn bán cau, sinh đẻ (13 lần sinh đẻ nhưng chỉ nuôi được 7) nuôi đàn con và làm hậu thuẫn cho chồng thi thố giữa cuộc đời. Nguyễn Hải Thần từng là phó chủ tịch chính phủ liên hiệp kháng chiến, có lần nói về bà Nhất Linh: “Anh Tam nếu không có chị ấy thì không thể làm nên sự nghiệp này”. Quả vậy! Thi sĩ Anh Thơ, người phụ nữ  nhận giải thưởng văn chương Tự Lực văn đoàn năm 1939, sau từng làm phóng viên báo Đông Tây ở Hà Nội thời bấy giờ,  đã viết loạt bài phỏng vấn vợ các nhà văn, nhà thơ như bà Tản Đà, bà Song Kim vợ Thế Lữ… Khi phóng viên phỏng vấn về vai trò người vợ nhà văn nổi tiếng như Nhất Linh, bà đã trả lời:  Tôi lấy nhà tôi là do hai bên cha mẹ có mối manh, dạm hỏi và cưới xin linh đình. Khi tôi về nhà chồng rồi, thì chỉ biết lo buôn bán để gánh vác giang sơn nhà chồng”. Câu trả lời tự nhiên, thô mộc dân dã ấy đã làm cho Anh Thơ rất cảm kích. Nữ nhà báo có ấn tượng rất đẹp về bà: Đôi mắt bà chớp chớp… Một đôi mắt to mênh mông, có hàng mi dài óng ả. Ánh sáng vừa dịu, vừa như có một cái gì như sẵn sàng vì mọi người… Tôi nhớ mãi cặp mắt ấy. Cặp mắt có vẻ chịu đựng mọi hy sinh, vì người thân yêu của mình. Cặp mắt của người đàn bà Việt Nam, cũ kỹ, tảo tần, không ý thức được rằng những việc mình làm đã đóng góp cho sự nghiệp của chồng không nhỏ.”


 (Trích từ cuốn sách Từ bến sông Thương- Anh Thơ- hồi ký 1986,)


Nhất Linh yêu vợ bằng cách riêng của một con người lịch lãm. Mỗi lần viết xong và xuất bản được một cuốn truyện mới thì dù vợ ông bận rộn đến đâu, ông vẫn tìm cách đưa bà đi bãi biển Sầm Sơn cùng mình nghỉ ít ngày cho thanh thoả. Đôi lần ông tập cho vợ hút thuốc lá, uống rượu, thưởng thức thú pha và uống trà tàu buổi sáng. Hồi ở Đà Lạt an nhàn giữa thiên nhiên ngoạn mục, ông không quên tìm bà lên nhiều lần cùng thưởng thú chơi phong lan. Có những ngày lạnh lẽo, những buổi sớm mai khi con còn trong giấc ngủ, thì hai ông bà đã bên nhau uống trà nóng, rất là tương đắc.


Bản thảo tiểu thuyết Xóm Cầu Mới, vẫn còn những dòng chữ đề tặng vợ như sau: Tặng Nguyên, người rất thân yêu, đã khuyên tôi trở lại đời văn sĩ và nhờ thế cuốn Xóm Cầu Mới này khởi đầu từ 1940 mới được viết tiếp theo. Hương Cảng trên núi, ngày 16-10 -1949. Nhất Linh. Trước lúc ra đi , Nhất Linh vẫn không quên dành cho vợ một lời di ngôn:


“ Mình, Mối tình của đôi ta hàng bao năm  đẹp đẽ lắm rồi, không …mong ước gì hơn nữa.


 Anh, Nhất Linh. 7.7.1963”.


 Đôi vợ chồng họ  do gia đình sắp đặt, chứ không phải tự tìm  nhau.


Nhất Linh, khối mâu thuẫn lớn.


Đọc đến đây có người hỏi vậy Nhất Linh thực chất là người như thế nào?


Ngay từ nhỏ, ở quê Cẩm Giàng, Nhất Linh đã tỏ ra một con người chất phác và rất tình cảm với cha mẹ, anh chị em trong gia đình. Nhất Linh quan tâm đến người em gái Nguyễn Thị Thế hơn cả. Những lần em giã vừng cho mẹ, người anh thường ở bên giúp đỡ. Nhất Linh rất thích ăn cơm trộn vừng khi còn trong cối, vì thế mỗi khi lấy vừng ra, cô em vẫn để lại một ít và cho cơm nóng vào cối trộn cho anh. Chính chi tiết nhỏ ấy, sau này Nhất Linh có cái  biệt hiệu Tam cối kéo dài quãng tuổi thơ, cho đến khi ra Hà Nội học. Nhưng với công việc thì Nhất Linh cứng nhắc đến cực đoan.


Thời kỳ còn làm báo Phong Hoá, Ngày Nay, có lần Thạch Lam trễ hẹn nộp bài cho toà soạn, Nhất Linh tức giận đến tận nhà em ở Yên Phụ hỏi tại sao không viết. Nghe trả lời là chưa thể viết được, thì ông bỏ về và cắt tiền tháng của em trai, đến khi có bài mới trả.


Nhất Linh là con người có chí hướng rõ rệt và quyết tâm đi theo lý tưởng của mình. Đỗ bằng Đíp lôm, Nhất Linh vào Sở tài chính Hà Nội làm việc chờ thời. Có người hỏi vì sao không đi học Cao đẳng, sau này đường tiến thân rộng mở, Nhất Linh đáp rằng: không muốn làm ông tham, ông đốc, nguyện vọng tha thiết là viết văn làm báo, sống bằng ngòi bút của mình, sống bằng nghề tự do, ngoài vòng cương toả.


Lý tưởng ấy đã được thực hiện. Năm 1930 sau  khi đỗ bằng cử nhân khoa học từ Pháp trở về nước, Nhất Linh hăng hái đứng ra làm báo với mục đích làm cách mạng văn hoá, dùng văn chương báo chí để vận động cải cách xã hội, nâng cao dân trí. Nhất Linh đã nhận rõ điều căn bản là: người Việt Nam bị đô hộ, nô lệ một phần vì thất học và tục lệ hủ lậu, mê tín dị đoan. Muốn thoát ra trước hết phải nâng cao dân trí, thì mới có dân quyền, dân sinh... Vì thế cải cách xã hội là rất cần thiết. Những chuyên mục trên báo chí, và hoạt động của trào lưu văn chương TLVĐ và  phong trào ánh sáng như phân tích bên trên đã nói rõ.


Bây giờ nhìn lại, đường lối dân tộc, khoa học, đại chúng mà đảng ta nêu trong Đề cương văn hoá 1942 thì TLVĐ đã thực hành từ trước. Quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh, tuy TLVĐ không nói rõ trong tôn chỉ của mình, nhưng thực tế văn đoàn này đã hành động theo quan điểm đó, cách đây hơn bẩy thập kỷ.


Trong hồi ký về những năm tháng làm báo Phong Hoá và TLVĐ, khi nhắc tới Nhất Linh, Tú Mỡ trân trọng cho rằng, đó là một người trí tuệ thông minh, ưa hoạt động, yêu đời , có chí lớn, yêu nước, nể phục người cộng sản. Tú Mỡ viết “ Tôi còn nhớ, anh Tam sau khi ở trại tập trung Sơn La về có  nói với tôi: chung sống một thời gian  trong căng với mấy anh đảng viên  cộng sản, mới biết họ giỏi, có tinh thần cao, bất khuất gan dạ, đồng tâm nhất trí, và  dù gian khổ đến  đâu  vẫn lạc quan.”- trang 400, sdd. Vậy vì sao Nhất Linh lại không thể là bạn chiến đấu trong hàng ngũ cộng sản? Theo Tú Mỡ, phải chăng vì tự ái sai, chỉ muốn người phục tùng mình mà không chịu phục tùng người khác. Phải chăng ngại gian khổ, sợ chiến tranh, sợ chết?


Có lẽ Nhất Linh không sợ chết. Năm 1963 ông đã lấy cái chết để tố cáo chế độ gia đình trị của Ngô Đình Diệm độc tài.


Cuộc đời Nhất Linh là khối mâu thuẫn lớn!


  Ông yêu nước, chống Pháp, nể phục trân trọng người cộng sản, nhưng không đủ bản lĩnh ngồi cùng con thuyền với họ. Và Nhất Linh dù là con người cực đoan, bảo thủ đến cùng trước nếp nghĩ của mình, nhưng cuối đời ông thừa nhận cuộc đời ông chỉ là tác phẩm dở dang những công việc dở dang "Thật ra thì chẳng có việc gì đáng tự hào vì chẳng có việc nào cậu cho là đến nơi đến chốn.”


Vẫn theo “ Trong bếp núc của TLVĐ " hồi ký của Tú Mỡ thì  TLVĐ khi ra đời chỉ có chủ định làm việc văn chương. Nhưng hoàn cảnh thúc đẩy, một số anh em bước vào đường làm chính trị dù muốn hay không muốn: Một buổi tối họp mặt, anh Tam bảo: Đã đến lúc chúng ta phải hoạt động chính trị giành lấy chính quyền. Cái chính phủ Trần Trọng Kim không làm nên trò trống gì đâu. Nhật không nuốt nước ta được, vì Mỹ không để cho nó chiếm cái cửa ngõ Á Đông. Chúng ta cần phải vào một tổ chức cách mạng để khi thời cơ đến, sẽ đứng ra giành chính quyền..”. Tú Mỡ hỏi: “ Sao anh không vào Việt Minh?”, Nhất Linh trả lời: “Việt Minh là cộng sản, họ chủ trương giành chính quyền bằng súng, sẽ gây ra chiến tranh chết chóc, và tàn phá. Vả lại Mỹ sẽ chống Cộng, Mỹ vừa giàu vừa mạnh.Ta đi với một Đảng thân Mỹ rất có lợi, ta sẽ đấu bằng chính trị, không phải bằng đổ máu ít ra cũng giành được tự trị. Mỹ nó chả cần cướp nước  để cai trị ta như Tây. Ta đi với Mỹ,  để cho nó buôn bán với ta, đem tiền của mở mang kỹ nghệ, nó có lợi mà ta cũng có lợi..”.Quan niệm của Nhất Linh bấy gìơ là thế.


Có lẽ vì cực đoan, thiếu mềm dẻo, thiếu cách nhìn toàn cục, nên Nhất Linh chỉ cho rằng, phải mất 80 năm gian khổ đấu tranh, hy sinh bao nhiêu xương máu dân tộc Việt Nam mới giành được độc lập, mới đuổi Pháp ra khỏi đất nước. Đến sau này  khi trở thành bộ trưởng ngoại giao, lại phải ngồi bàn và thoả hiệp với Pháp, phải chăng ông viết thư xin từ chức là vì vậy?


"Hà Nội ngày 5 tháng 3 năm 1946


Kính gửi: Cụ Chủ Tịch


Chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến.


Thưa cụ,


Tôi tự xét bất tài, bất lực nên không thể đảm đương bộ Ngoại giao trong Chính phủ, vậy tôi xin từ chức Ngoại giao bộ trưởng kể từ hôm nay. Tôi không muốn sự từ chức của tôi có ảnh hưởng đến công việc chung nên tôi đề nghị cụ kiêm luôn chức Ngoại giao bộ trưởng hay một người trung lập nào. Về việc từ chức của tôi chỉ là việc làm của cá nhân, không có liên quan gì đến sự đoàn kết các đảng phái.


Kính chúc cụ và Nội các thành công trong việc đưa nước ta đến chỗ hoàn toàn độc lập.


Nguyễn Tường Tam


 


Từ chức và lưu vong xứ người, Nhất Linh muốn tìm một chỗ dựa mới để thực hiện ý nguyện làm cách mạng theo quan niệm của mình.                .


Nhưng thời điểm lịch sử bấy giờ không cho phép ông dựa vào Tưởng Giới Thạch. Từ năm 1946 Hồng quân dưới sự lãnh đạo cuả Đảng cộng sản Trung Quốc đang thừa thắng, thảo phạt quân Tưởng, tiêu diệt sinh lực địch khiến chúng chạy dài xuống phía Nam. Nhất Linh trôi dạt về Hồng Công chờ thời và ẩn dật. Ông ngồi tại Sường Châu sửa lại tác phẩm Xóm Cầu Mới.


Cuối năm 1950 trở về Hà Nội, nhất Linh tuyên bố không tham gia đảng phái chính trị nào. Việc này được Tú Mỡ, người bạn cộng sự thời TLVĐ kể lại một cách chân tình: "Còn anh Tam  nghe nói một dạo ở Hà Nội sống về in lại sách của TLVĐ... Điều khiến tôi vui lòng là anh không đóng vai gì  trong các chính phủ bù nhìn của Bảo Đại do giặc Pháp dựng lên, gây ra hoạ nồi da nấu thịt".


Con người ấy, dưới con mắt của Tú Mỡ là người vừa đáng yêu và đáng tiếc “Điều đáng tiếc là sau Kháng chiến, anh đã theo bè lũ Ngô Đình Diệm vào Nam để rồi bị bè lũ ấy chèn ép, cắt mất nguồn sống đến nỗi uất ức phải tự tử. "


Nhất Linh là con người hành động, có lẽ phải vào Nam chỉ vì quá cô đơn, lạc lõng. Ông tìm về nơi yên tĩnh là Đà Lạt lấy thiên nhiên khoả lấp nỗi trống trải đến ghê sợ. Từ khi em trai Thạch Lam mất vì bệnh tật năm 1942 ở Tây Hồ, rồi Hoàng Đạo người em, người đồng chí vốn là  cánh tay đắc lực của mình chết đột tử bên Tàu năn 1948, Nhất Linh trở thành cô đơn.


Trong gia đình, anh em đồng chí đều cho rằng, người ta trọng nể Nhất Linh, nhưng quý Hoàng Đạo, bởi Hoàng Đạo mới là người mưu lược linh hồn. Khi nhận được tin Hoàng Đạo chết, những người thân trong gia đình nhận định: Hoàng Đạo không còn, nhất định Nhất Linh sẽ từ bỏ chính trị. Quả như vậy. Về nước, gần 10 năm (1950 đến 1960) Nhất Linh xa lánh chính trị, tập trung vào viết sách báo, vui với thiên nhiên hoa cỏ, và làm chỗ dựa tinh thần cho các nhà văn trẻ , nhưng…


(còn tiếp)


KHL


phongdiep.net

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đông Tây cổ học tinh hoa (3) - Vũ Bằng 05.08.2019
Đông Tây cổ học tinh hoa (2) - Vũ Bằng 05.08.2019
Đông Tây cổ học tinh hoa (1) - Vũ Bằng 05.08.2019
Nói có sách (tiếp & hết) - Vũ Bằng 05.08.2019
Điếu văn tại Lễ truy điệu Nhất Linh - Vũ Hoàng Chương 01.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (5) - Huỳnh Quang 30.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (4) - Huỳnh Quang 30.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (3) - Huỳnh Quang 25.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (2) - Huỳnh Quang 25.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (1) - Huỳnh Quang 25.07.2019
xem thêm »