tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29498133
Tiểu thuyết
08.05.2011
Franz Kafka
Vụ án, Hóa thân

LỜI GIỚI THIỆU


Vào những năm 60 của thế kỷ này, vấn đề FRANZ KAFKA bỗng nổi lên một hiện tượng đặc biệt, tuy trước đó mấy chục năm, kể từ khi ông qua đời năm 1924, tên tuổi và sự nghiệp sáng tác của nhà văn này ít được mọi người biết đến. Chỉ trong một thời gian ngắn, các tác phẩm của Kapka được in lại dồn dập, Kapka đi vào chương trình của các trường đại học, trở thành đề tài cho hàng chục luận án tiến sĩ ở Mỹ, ở Cộng hòa liên bang Đức và Cộng hòa dân chủ Đức; hai cuộc hội thảo quốc tế về Kapka được tổ chức ở Liblixơ (Tiệp Khắc) năm 1963 và ở Tây Berlin năm 1966...


FRANZ KAFKA (1883-1924) là nhà văn Tiệp gốc Do Thái, sinh ở Praha vào thời kỳ nước Tiệp còn là một bộ phận của đế quốc Áo - Hung (1867-1918). Cha ông thuở nhỏ nghèo khổ, về sau khá giả, làm nghề buôn bán giày vải và gia nhập cộng đồng người Đức ở đây, FRANZ KAFKA học xong trung học, vào đại học Đức, theo ngành luật, đỗ tiến sĩ năm 1906. Ông làm việc trong một hãng bảo hiểm tai nạn công nhân ở Praha, song vẫn theo đuổi sự nghiệp văn chương vốn yêu thích. Năm 1917, Kapka bị bệnh lao. Bảy năm sau, ông qua đời trong một viện điều dưỡng ở Kierling gần Viên, thủ đô Áo, vào lúc tưởng chừng ông tìm thấy cuộc sống hạnh phúc với một thiếu nữ Do Thái tên là Đôra Đimăng ông gặp năm 1923, sau nhiều lần tình yêu trắc trở trước kia.


Kapka viết văn bằng tiếng Đức. Trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, ông sáng tác không nhiều. Đã thế, lúc sinh thời, ông lại tự tay đốt nhiều bản thảo, nên độc giả chỉ được biết đến ông qua vài truyện ngắn, truyện vừa như Lời phán xét, Hóa thân... và tập truyện ngắn đầu tiên nhan đề Thầy thuốc nông thôn xuất bản năm 1919. Sau khi ông qua đời, một người bạn thân của ông là Măc Brôt đã cho in những bản thảo còn lại, tuy ông để lại di chúc đề nghị thiêu hủy tất cả tác phẩm của mình. Các tác phẩm quan trọng nhất của ông được ra đời trong hoàn cảnh ấy. Đó là những tiểu thuyết Vụ án, Lâu đài, Châu Mỹ và một số truyện ngắn khác. Ngoài ra còn một cuốn Nhật ký riêng tư ông ghi chép đều đặn từ năm 1910 cho đến lúc qua đời.


Sống trong một xã hội quân chủ suy tàn trong lòng của chủ nghĩa tư bản đang ngày càng bộc lộ những mâu thuẫn gay gắt dẫn tới cuộc bùng nổ ở Đại chiến I và Cách mạng tháng Mười Nga, lại ở vào vị trí giao lưu của các nền văn hóa Xlavơ, Do Thái và Đức, tư tưởng của Kapka là cả một khối mâu thuẫn. Ông thấy rõ những mặt xấu xa của chủ nghĩa tư bản hàng ngày diễn ra trước mắt ông, ngay cả ở cách làm ăn của cha ông, một trong những nguyên nhân khiến cho quan hệ cha con luôn luôn căng thẳng. Ông khao khát một xã hội công bằng và có lúc đã tìm thấy ở Cách mạng tháng Mười Nga nguồn hy vọng chứa tran và tìm thấy hạnh phúc ở đấu tranh. Ông đã ghi trong Nhật ký riêng tư: “Con đường đấu tranh đã đưa lại cho tôi một niềm vui tràn ngập”.


Nhưng nỗi đau của một con người lúc đó không có tổ quốc cộng với bệnh tật và các dằn vặt khác trong đời tư đã vít Kapka xuống, đẩy ông vào tâm trạng bi quan không lối thoát, nó được tô đậm thêm bằng màu sắc của đạo Do Thái , và cả của tư tưởng hiện sinh bắt nguồn từ Kierkơgô. Niềm phấn khởi của ông trước sự kiện Cách mạng tháng Mười không đủ sức nâng đỡ cho tâm hồn ông. Thậm chí ông còn xem cách mạng như một vấn đề tôn giáo và có lần đã nói với nữ văn sĩ Tiệp Milêna Pôlăc: “Bản chất tôi chính là lo âu”.


Trong hầu hết các tác phẩm của Kapka, những tư tưởng bi quan ấy được khái quát lên thành vấn đề “thân phận con người” và được diễn tả bằng những biểu tượng, hay có thể nói là bằng hình thức huyền thoại hiểu theo nghĩa là những hình tượng nghệ thuật gián tiếp có quy mô lớn lung linh nhiều ý nghĩa mơ hồ.


*


*           *


Vụ án được viết vào khoảng năm 1914 và in lần đầu năm 1926 ở Đức. Cũng như các bản thảo khác còn lưu lại của Kapka sau khi ông qua đời, Vụ án chưa phải là một bản thảo hoàn chỉnh. Theo Măc Brôt cho biết, cuốn tiểu thuyết chưa có cả nhan đề, nhưng lúc sinh thời, Kapka vẫn thường nói với ông rằng tác phẩm ấy tên là “Vụ án”. Tiểu thuyết có 10 chương trọn vẹn, tiêu đề của từng chương là của tác giả nhưng thứ tự các chương chưa được sắp xếp. Ngoài ra còn một số chương đang viết dở dang. Măc Brôt đã chỉnh lý, sắp xếp và gạt ra ngoài những chương còn dang dở. Tuy thế, do phong cách của Kapka ở đây, thêm bớt chương này hay chương khác dường như không ảnh hưởng mấy đến cơ cấu của toàn cục nên tác phẩm như ta có hiện nay vẫn có thể coi là một đơn vị tiểu thuyết trọn vẹn.


Thông thường, mỗi tác phẩm là một thế giới do nhà văn dựng lên theo những quy luật riêng nhằm phản ánh một mảng hiện thực hoặc diễn tả một vấn đề gì đấy. Có thể nói mỗi tác phẩm là một hệ thống ký hiệu nhằm đem đến cho bạn đọc một thông báo. Quan hệ giữa ký hiệu và thông báo, hay cũng có thể nói quan hệ giữa chữnghĩa, là quan hệ giữa tác phẩm và điều tác phẩm muốn nói với chúng ta. Hai mặt đó không trùng khít mà luôn có khoảng cách. Chính vì thế, Aragông, nhà văn Pháp đã viết: “Tiểu thuyết là một ngôn ngữ trong đó các từ mang nghĩa không hoàn toàn khớp, thậm chí khác hẳn với nghĩa được xác định trong các từ điển”. Đó cũng chính là khoảng cách nghệ thuật giữa cái thế giới được sáng tạo trong tác phẩm và cái thế giới tương ứng có thực ở ngoài đời.


Mỗi trường phái, mỗi nhà văn có cách riêng xây dựng thế giới nghệ thuật của mình. Nói chung, người ta dùng các chất liệu do thế giới hiện thực cung cấp; các hạng người với tư tưởng, tình cảm, quan hệ xã hội của họ, không gian, thời gian, đường phố, làng quê, nhà cửa, cây cối, đồ đạc, súc vật... Các chất liệu ấy được tổ chức lại theo quy luật thông thường. Có khi người ta đưa vào tác phẩm những chất liệu không có trong thực tế như thần thánh, ma quỷ, những con người khổng lồ, những súc vật biết nói, các chốn bồng lai và các tầng địa ngục, nhưng vẫn tổ chức theo cung cách quen thuộc của đời thường. Chẳng hạn, các thần thánh cũng yêu đương, căm giận, ghen tuông... như con người.


Cách làm của Kapka trong Vụ án có khác. Ở đây, nhà văn sử dụng chất liệu hiện thực; đường phố, nhà trọ, tòa án, ngân hàng, khu văn phòng, chỗ ở của họa sĩ, các ông chánh phó giám đốc, các nhân viên, kỹ nghệ gia, linh mục, đao phủ... Không có những chất liệu hoang đường như kiểu người biến thành gián trong truyện Hóa thân. Nhưng các chất liệu ấy lại được nhà văn làm biến dạng đi, tổ chức lại theo một kiểu cách riêng, khác hẳn với kiểu cách vốn có của đời sống thực, Kapka đưa các tòa án ra các vùng ngoại ô nhớp nhúa, lên tầng áp mái của những khu cư xá; ông bố trí phòng xử án trong căn buồng vừa chật, vừa tối, vừa thấp lè tè; ông sắp xếp khu văn phòng tòa dọc các dãy hành lang cửa đóng kín mít; ông để cho họa sĩ sống trong căn phòng bé như cái hộp không có lỗ thông hơi...


Trong cái khung cảnh thực mà hư, hư mà thực hoàn toàn biến dạng đi dưới ngòi bút nghệ thuật của nhà văn là một sự việc diễn ra cũng không theo nếp thông thường. Trong truyện có một người bị bắt, nhưng lại có thể nói Jôzep K. không bị bắt. Rõ ràng, anh không bị giam, anh vẫn được tự do, vẫn đi làm bình thường, thậm chí có thể nói anh muốn đến hầu tòa hay không cũng được. Đúng là Jôzep K. có một lần bị xử ở tòa, nhưng cũng có thể nói anh chưa được xét xử, vì hôm ấy tòa chỉ hỏi anh một câu hết sức vu vơ, hoàn toàn sai sự thật rồi chấm dứt luôn ở đó... cho đến gần một năm sau, anh bị dao thọc vào tim.


Nhà văn còn dùng nhiều biện pháp để làm cho cái thế giới nghệ thuật được xây dựng trong tiểu thuyết càng mờ ảo hơn nữa. Cái thành phố nơi xảy ra “vụ án” không được nêu tên và nhà văn cũng chẳng nhắc đến tên một đường phố nào. Nhân vật chính mang một cái tên viết tắt, không quê quán, lai lịch; ta chỉ biết anh có một ông chú, anh ba mươi tuổi, là nhân viên ngân hàng và vướng vào một vụ án cũng mơ hồ nốt, thế thôi. Người yêu của anh, ta chỉ được nghe nhắc đến loáng thoáng. Nhiều nhân vật khác không có tên, hoặc nếu có tên thì hình ảnh nhân vật cũng mơ hồ chẳng kém. Và hầu như chẳng nhân vật nào làm cái công việc của mình. Ta không thấy Jôzep K. hiện ra với tư cách nhân viên nhà ngân hàng; các ông chánh phó giám đốc không được miêu tả ở cương vị của họ; luật sư Hun không bào chữa cho bị cáo; họa sĩ Titoreli không vẽ tranh; hai tên đao phủ thực ra chẳng phải vốn là đao phủ...


Toàn bộ tác phẩm trở thành một huyền thoại có thể giải mã theo nhiều cách khác nhau. Có thể hiểu sự việc không thật được đặt vào trong khung cảnh không thật kể trên lại nhằm diễn tả một thực tế có thực là cuộc sống ngột ngạt trong xã hội tư sản Tiệp Khắc dưới thời đế quốc Áo - Hung. Những con người hiền lành như Jôzep K. trở thành nạn nhân đau khổ của một thiết chế xã hội đầy bất công phi lý. Kapka dùng biện pháp nghệ thuật độc đáo nhằm tạo hiệu quả tâm lý ở bạn đọc. Để diễn tả tình cảnh gay go không lối thoát của Jôzep K., tiểu thuyết đem lại cho chúng ta cảm giác rõ rệt tòa án có mặt khắp nơi, ở mọi khu cư xá, và già trẻ, lớn bé, đàn ông đàn bà đều là người của tòa, kể cả nghệ sĩ, kể cả linh mục. Để truyền cho chúng ta cảm giác về cuộc sống ngột ngạt, tù túng của Jôzep K., nhà văn đưa không khí ngột ngạt và kích thước chật hẹp vào khắp nơi, từ phòng xử án đến khu văn phòng tòa, từ nhà luật sư đến phòng họa sĩ, từ nhà thờ tối om đến tòa giảng vừa thấp vừa chật...


Có thể hiểu vụ án của Jôzep K. và khung cảnh nêu trong tiểu thuyết một cách xa xôi hơn. Jôzep K. là nạn nhân của một xã hội bị tha hóa. Trong xã hội tư sản, không phải ai cũng ý thức được điều này. Mọi người đã quá quen với tình trạng đó đến mức không còn cảm thấy nặng nề, cũng như họa sĩ Titoreli không cảm thấy chỗ ở của mình là ngột ngạt, và hai nhân viên khu văn phòng kia thậm chí có thể bị ngất khi ra chỗ thoáng khí. Jôzep K. là người duy nhất cảm nhận được sự thật, vì vậy anh trở thành một cá nhân cô đơn bị cả một xã hội bao vây và không thể tồn tại được.


Trong xã hội bị tha hóa, mỗi cá nhân chỉ còn là một cái bóng vật vờ, một hồ sơ, một con số, một kẻ không tên, một cái tên viết tắt như Jôzep K. Trong Vụ án hay K. trong Lâu đài. Nhưng Jôzep K. hay K. lại làm cho ta nghĩ tới Kapka và hướng ta về một cách giải mã khác. Vụ án nói về tình cảnh đau khổ của bản thân nhà văn, một người Do Thái thiếu tổ quốc, sống khắp nơi, và ở đâu cũng lạc loài, xa lạ với mọi người, một người thể chất yếu đuối, tuy lúc đó chưa phát hiện ra bệnh lao, nhưng luôn luôn cảm thấy cái chết lơ lửng trên đầu, truy nã khắp nơi, như chính ông sau khi chết một chục năm rồi, bọn phát xít Hitle còn thiêu đốt tác phẩm của ông như chúng đã giết hại những bà con của ông.


Một cái tên viết tắt còn có thể hiểu là bất cứ ai, như khi ta nói ông A ông B. Vụ án nhìn dưới góc độ ấy lại trở thành cuốn tiểu thuyết viết về vấn đề “thân phận con người” phảng phất màu sắc của tư tưởng hiện sinh. Thời gian gói tròn trong một năm dường như để diễn tả cuộc đời con người. Con người sinh ra ở đời là đã có cái án treo lơ lửng trên đầu mình, như kẻ phạm tội, tuy chẳng biết tội gì, chỉ có một điều chắc chắn là cuối cùng sẽ chết; những ngày đang sống trên thế gian chỉ là “hoãn xử” hoặc “tạm tha”. Đó là điều bí ẩn không tài nào hiểu nổi như câu chuyện kẻ đi tìm giáo pháp trong bài giảng đạo của linh mục ở nhà thờ. Jôzep K. quan niệm đó là điều phi lý khủng khiếp nhưng không thể nào tránh khỏi, nên qua một vài phản ứng khá mãnh liệt lúc ban đầu, về sau anh trở thành một con người dửng dưng đến kỳ lạ, nhẫn nhục, cam chịu, thậm chí “tự nguyện” chạy đến với cái chết, chạy trước cả đao phủ. Điều đó thể hiện cả ở giọng văn bằng phẳng, đều đều, không xúc cảm, rời rạc. Một cuốn tiểu thuyết chưa hoàn chỉnh, chưa sắp xếp mạch lạc dường như lại phát huy tác dụng ở đây.


Vụ án do đó trở thành một tiểu thuyết phức tạp lẫn lộn nhiều yếu tố tích cực và tiêu cực. Bên những giá trị hiện thực với ngòi bút sáng tạo tài tình là tư tưởng bi quan sâu sắc dẫn đến tuyệt vọng.          PHÙNG VĂN TỬU


 


Chương I


VỤ BẮT BỚ JÔZEP K...


CUỘC TRÒ CHUYỆN VỚI BÀ GRUBACH


 RỒI VỚI CÔ BƠCXNE


Chắc hẳn là người ta đã vu oan cho Jôzep K..., bởi vì chẳng làm điều gì nên tội, thế mà một buổi sáng kia anh bị bắt. Chị nấu bếp của bà Grubach, chủ cho thuê nhà, hàng ngày vẫn mang bữa ăn sáng đến cho anh vào lúc tám giờ, sớm hôm ấy không thấy tới. Trước đây có thế bao giờ đâu, K... đợi thêm một lúc nữa, đầu vẫn vùi trong gối nhìn bà già ở bên phòng đối diện đương tò mò soi mói anh mới kỳ lạ làm sao, rồi vừa đói vừa ngạc nhiên, anh bấm chuông gọi chị giúp việc. Đúng lúc ấy có tiếng đập cửa và một người đàn ông bước vào, anh chưa từng gặp nhân vật ấy trong tòa nhà này bao giờ. Hắn người mảnh khảnh nhưng chắc nịch, mặc chiếc áo đen bó lấy người, có thắt lưng và đủ thứ nào li áo, nào túi, nào khóa, nào khuy khiến cho bộ trang phục có vẻ như đặc biệt thực dụng lắm, song chẳng hiểu tất cả những thứ ấy dùng để làm gì.


- Ông là ai? - K... ngồi bật dậy hỏi.


Nhưng người đó lờ đi không trả lời, như thể đã vào nhà thì phải tiếp là chuyện đương nhiên, mà lại hỏi:


- Ông bấm chuông phải không?


- Anna phải mang bữa ăn sáng đến cho tôi. - K... nói, mới đầu cố lặng lẽ suy đoán xem cái ông này là ai. Nhưng hắn không để cho anh có thì giờ quan sát; hắn quay ra mở hé cửa nói với một người nào đấy chắc là đứng ngay bên ngoài:


- “Nó muốn Anna mang bữa ăn sáng đến cho nó!”.


Tiếp theo là tiếng cười khúc khích ở phòng bên cạnh; nghe tiếng, anh đoán bên đó có nhiều người. Mặc dầu người lạ chắc đã thừa biết tiếng cười ấy là thế nào rồi, hắn vẫn tuyên bố với K... “Không được” bằng một giọng hách dịch.


- Thế này thì quá lắm. - K... trả lời, nhảy ra khỏi giường để xỏ chân vào quần. - Tôi rất muốn biết những kẻ ở phòng bên cạnh kia là ai và bà Grubach sẽ giải thích làm sao bà lại có thể để cho người ta đến quấy rầy tôi thế này.


Anh chợt nghĩ lẽ ra chẳng nên nói to như vậy, vì làm thế có vẻ như đã vô hình trung thừa nhận quyền kiểm soát của người lạ, nhưng lúc ấy anh có đếm xỉa gì đâu. Song người kia như hiểu ý anh tuy đúng ra chẳng cần thiết, bởi vì hắn bảo anh:


- Ông không thích ở lại đây hơn ư?


- Tôi chẳng muốn ở lại đây mà cũng chẳng muốn nghe ông nói chừng nào ông không cho biết ông là ai.


- Tôi làm thế là với thiện ý. Người lạ nói, và hắn bỗng mở toang cửa.


Căn phòng bên mà K... cố ra vẻ chậm chạp bước vào, mới thoạt nhìn quang cảnh cũng gần giống như hôm trước. Đó là phòng khách của bà Grubach, có lẽ căn phòng bừa bộn những đồ đạc, đăng ten, đồ sứ và ảnh chụp ấy gọn gàng hơn thường ngày một chút, nhưng mới bước vào không ai để ý vì sự thay đổi chủ yếu là có một người đàn ông ngồi gần cửa sổ mở toang, tay cầm quyển sách, thấy Jôzep K... vào thì ngẩng đầu lên.


- Lẽ ra ông phải ở lại trong phòng của ông chứ, Franx không bảo cho ông biết ư?


- Các ông, tôi muốn được biết là các ông muốn gì. - K... nói, đưa mắt ra ngưỡng cửa nhìn người có tên là Franx, rồi quay lại ngay.


Nhìn qua cửa sổ, vẫn thấy bà già túc trực bên cửa sổ căn phòng của bà - lúc này ở ngay trước mặt  - đương tò mò nhìn hau háu để xem cho tường tận mọi chuyện sắp diễn ra.


- Dẫu sao, - K... nói - thì bà Grubach cũng phải...


Rồi anh quay ngoắt lại như muốn bứt ra khỏi hai người lạ để tiếp tục bước đi, tuy họ đứng cách xa anh.


- Chớ, - Gã đàn ông ngồi gần cửa sổ vừa nói vừa quẳng sách xuống chiếc bàn nhỏ và đứng lên - ông không có quyền đi ra, ông bị bắt.


- Tôi cũng đã cảm thấy như thế. - K... nói - Nhưng tại sao cơ chứ?


- Chúng tôi tới đây không phải để nói cho ông biết điều đó. Hãy quay về phòng của ông đi và đợi đấy. Việc xét xử đã bắt đầu, rồi ông sẽ biết rõ đầu đuôi. Tôi nói với ông nhã nhặn thế này là đã vượt quá nhiệm vụ của tôi rồi đấy. Nhưng tôi hy vọng là chẳng ai nghe thấy tôi nói trừ Franx là người cũng đối xử thân thiện với ông trái với mọi điều quy định. Nếu sau này ông vẫn gặp may mắn như thế với những kẻ canh giữ ông, thì thật là phúc cho ông đó.


K... muốn ngồi, nhưng anh liều nhận ra rằng trong phòng không có chiếc ghế nào, trừ chiếc ghế tựa ở gần cửa sổ.


- Rồi ông sẽ thấy rõ là chúng tôi đã nói rất thật với ông. - Franx nói và tiến lại gần anh, bạn hắn bước theo sau.


K... hết sức ngạc nhiên, nhất là về gã đi sau, hắn vỗ vỗ lên vai anh nhiều lần. Cả hai đứa nhìn chiếc áo ngủ anh đang mặc và bảo lẽ ra anh phải mặc một chiếc áo tồi hơn, nhưng thôi, chúng sẽ giữ gìn hết sức cẩn thận chiếc sơ mi ấy cũng như tất cả những quần áo khác của anh, và sẽ trả lại anh trong trường hợp vụ này kết thúc tốt đẹp.


- Đồ đạc ông nên gửi gắm cho chúng tôi thì hơn, -  Chúng bảo anh - vì để trong kho hay xảy ra những chuyện gian lận, vả chăng sau một thời gian nhất định, người ta mang bán lại tất, chẳng cần biết án xử đã xong chưa. Hơn nữa. Những vụ án như loại này chưa biết sẽ kéo dài bao lâu, nhất là trong thời gian gần đây. Nói cho cùng, bán được bao nhiêu, khó cũng sẽ trả lại cho ông, nhưng trước hết tiền nong chẳng được là bao, vì giá cả có phải do hàng tốt hay xấu quy định đâu mà do hối lộ ít hay nhiều, sau nữa kinh nghiệm cho thấy quá rõ rằng những món tiền ấy qua tay người này người khác mỗi năm cứ mòn dần đi.


K... hầu như không chú ý nghe những lời chúng nói; đối với, anh áo quần mất hay còn không quan trọng lắm; cái xem ra cần kíp hơn rất nhiều là hiểu được hoàn cảnh của mình; nhưng đứng trước bọn chúng, ngay đến cả suy nghĩ, anh cũng không suy nghĩ được; cái bụng của gã thanh tra thứ hai - rõ ràng đó chỉ có thể là những gã thanh tra - cứ chốc chốc lại áp vào người anh một cách hết sức thân thiết, nhưng khi ngước mắt lên, anh phát hiện thấy một cái đầu khô khốc và xương xẩu, có cái mũi vẹo vọ to tướng, chẳng hợp với tấm thân phốp pháp ấy chút nào, cái đầu bản thân nó như một người riêng biệt đương bàn tính với gã thanh tra thứ hai. Những đứa này là ai thế nhỉ? Chúng nói chuyện gì vậy? Chúng thuộc sở nào? K... sống trong một quốc gia lập hiến cơ mà. Cuộc sống thanh bình khắp nơi! Luật pháp được tôn trọng! Kẻ nào dám đến đây xông vào nhà anh? Anh vẫn có khuynh hướng xem nhẹ mọi việc, chỉ tin có chuyện chẳng lành khi chuyện đã xảy ra, và chẳng bao giờ phòng bị cho tương lai, ngay cả khi mối nguy cơ đe dọa; nhưng trong trường hợp này, anh cảm thấy thái độ đó không phù hợp; chắc đây chỉ là chuyện đùa nghịch, một trò đùa lỗ mãng do các bạn đồng nghiệp của anh ở nhà ngân hàng bày đặt ra vì những lý do gì anh không biết - có lẽ vì hôm ấy là ngày sinh nhật lần thứ ba mươi của anh cũng nên - có lẽ đúng thế rồi; có khi anh chỉ cần phá lên cười là mấy đứa canh giữ anh cũng phá lên cười theo; có thể mấy tên thanh tra ra dáng kia chỉ là mấy gã cớm quèn ở phố; trông bọn chúng giống lắm; song, từ lúc thấy Franx, K... đã quyết định không chịu lép với bọn chúng. Nếu sau này có ai chê anh là người ta đùa mà cóc biết, thì cũng được thôi, chẳng phải chuyện nguy hiểm to tát gì; vốn là người ít gặp may mắn nhờ có kinh nghiệm, anh nhớ lại có một số trường hợp cố tình xử sự một cách khinh suất, đối lập với bạn bè, hóa đâm dại. Sẽ không để tái diễn như thế nữa, ít nhất là lần này. Họ đóng kịch ư, thì anh cũng đóng kịch.


Lúc đó, anh còn được tự do.


“Cho phép tôi”, anh nói, và lách qua bọn canh giữ, anh bước vội về phòng mình.


“Hắn xem ra biết điều đấy”, anh nghe sau lưng có người nói.


Vừa về đến phòng, anh sầm sầm mở các ngăn kéo bàn giấy: tất cả đều hết sức ngăn nắp gọn gàng, nhưng vì xúc động, anh tìm mãi không ra giấy căn cước. Cuối cùng vớ được giấy đăng ký xe đạp, anh đã định xuất trình cho tên canh giữ, nhưng lại thôi vì xét thấy giấy tờ như thế chưa đủ và tiếp tục lục lọi cho đến khi tìm thấy một bản sao giấy khai sinh. Khi anh trở lại phòng bên, cái cửa phía trước mặt mở ra và bà Grubach đương sắp sửa bước vào. Song, người đàn bà ấy chỉ xuất hiện thoáng một lát, vì vừa nhận ra anh, bà lúng túng ra mặt, xin lỗi, biến đi và đóng cửa lại hết sức cẩn thận.


“Bà cứ vào!”


K... chỉ kịp nói với bà có thế. Anh đứng sững ở giữa phòng, giấy tờ cầm trong tay, nhìn cánh cửa không mở ra nữa; một tiếng gọi của bọn canh giữ làm cho anh sực tỉnh; chúng đương ngồi chén bữa ăn sáng của anh bên chiếc bàn kê trước cửa sổ mở rộng.


- Tại sao bà ta không vào? Anh hỏi.


- Bà ấy không có quyền, người canh giữa cao lớn hơn nói. Ông biết rằng ông bị bắt.


- Sao tôi lại bị bắt? Hơn nữa, còn theo kiểu như thế này?


- Đấy đấy, ông lại bắt đầu rồi! - Gã thanh tra nói và nhúng lát bánh mì có phết bơ vào trong bình mật ong nhỏ. - Chúng tôi không trả lời những câu hỏi như thế đâu.


- Các người buộc phải trả lời. - K... nói - Các giấy tờ căn cước của tôi đây; giờ thì hãy đưa tôi xem giấy tờ của các người, nhất là trát bắt giam.


- Trời đất ơi! Trời đất ơi! - Tên canh giữ nói - Mãi ông không chịu nghe ra cho! Ông dường như chỉ tìm cách trêu tức chúng tôi vô ích, thế mà chúng tôi lúc này đây chắc lại là những người đối xử tốt nhất với ông trên đời.


- Vì người ta bảo ông điều đó. - Franx giải thích, và đáng lẽ đưa tách cà phê đương cầm trong tay lên môi, hắn lại đưa mắt nhìn K... một cái rất lâu có lẽ chứa đầy ý nghĩa, nhưng K... chẳng hiểu gì hết.


Tiếp đó hai người còn đối thoại với nhau bằng mắt mãi tuy K... không muốn, song cuối cùng anh cũng đưa giấy tờ ra và nói:


- Giấy tờ của tôi đây.


- Bọn này cần gì đến những thứ đó? - Gã cao lớn liền thốt lên - Ông xử sự thật tệ hơn con nít. Thế ông muốn gì nào? Ông tưởng rằng cãi vã với bọn tôi, những kẻ canh giữ ông, về trát bắt giam và các giấy tờ căn cước là có thể làm cho vụ án đáng nguyền rủa này sớm kết thúc được hay sao? Bọn tôi chỉ là các nhân viên cấp dưới; bọn tôi hầu như chẳng hiểu gì về những giấy tờ căn cước và chẳng phải làm gì khác ngoài việc canh giữa ông mỗi ngày mười tiếng và sau đó lĩnh tiền công. Chỉ có thế; nhưng chẳng phải vì vậy mà bọn tôi không biết rằng các nhà chức trách giao bọn tôi công việc này đã điều tra rất tỉ mỉ những lý do bắt giam trước khi phát lệnh bắt. Không thể nào có chuyện lầm lẫn được. Các nhà chức trách mà bọn tôi đại diện, mà bọn tôi cũng chỉ biết qua các cấp dưới của họ mà thôi, không phải loại người đi bới những tội trạng trong dân gian, mà là loại người, như luật phát nói, bị “lôi cuốn”, bị sử dụng vào tội trạng, vì thế họ phải phái bọn tôi đi, bọn tôi, những kẻ gác tù. Luật pháp là thế, làm sao có thề lầm lẫn vào đâu được?


- Tôi không biết cái luật ấy. - K... nói.


- Ông sẽ phải hối hận. - Gã canh giữ bảo.


- Chắc chắn nó chỉ tồn tại trong đầu ông thôi. - K... đáp.


Anh chỉ muốn tìm cách len vào trong ý nghĩ của mấy gã canh giữ, xoay chuyển ý nghĩ ấy theo hướng chiếu cố đến anh, hoặc hiểu thật rõ chúng đương nghĩ gì. Nhưng gã canh giữ khéo lẩn tránh mọi sự giải thích bằng cách tuyên bố:


- Rồi ông sẽ rõ, khi nào ông cảm thấy luật ấy đi qua!


Franx xen vào:


- Cậu thấy không, Vilem, hắn nói, nó thừa nhận là chẳng biết luật lệ gì cả, nhưng đồng thời lại cứ khăng khăng là không có tội!


- Cậu chí lý lắm, gã kia nói, chẳng có gì làm cho nó hiểu ra được.


K... không trả lời nữa.


“Chẳng lẽ cứ để cho những lời ba hoa của lũ nhân viên cấp dưới kia quấy rầy mình ư, - Anh nghĩ - vì bản thân chúng cũng thừa nhận chúng không là cái gì khác? Xét ra, chúng nói về những chuyện chúng hoàn toàn chẳng hiểu mô tê gì. Chúng vững tin chẳng qua chỉ là do chúng ngốc nghếch mà thôi. Vài ba lời trao đổi với một viên chức bằng vai phải lứa với ta sẽ giúp ta hiểu rõ cảnh ngộ của mình hơn rất nhiều những lời lẽ dông dài của hai thằng cha ấy”.


Anh đi bách bộ một lúc trong khoảng trống của căn phòng và nhìn thấy bà lão ở phòng phía trước kéo một ông lão còn lụ khụ hơn bà đến tận cửa sổ, tay quàng qua người ông.


K... cảm thấy cần thiết phải chấm dứt cái trò này đi:


- Dẫn tôi đến gặp cấp trên của các người. - Anh nói.


- Khi nào cấp trên đòi hãy hay. - Gã canh giữ có tên là Vilem nói - Còn bây giờ, tôi khuyên ông, hắn thêm, hãy quay về phòng mình và bình tĩnh đợi người ta xét xử. Đừng lo lắng cho mệt người vô ích, chúng tôi khuyên ông như thế đấy; ông nên chuẩn bị sức khỏe thì hơn, vì sẽ rất cần lắm đấy. Nãy giờ, ông đối xử không xứng đáng với sự có mặt của chúng tôi ở đây, ông quên rằng dù là người thế nào đi nữa thì ít nhất lúc này đây, trước mặt ông, chúng tôi cũng là những con người tự do, và ưu thế ấy đâu phải là nhỏ. Song chúng tôi cũng sẵn sàng, nếu ông có tiền, bảo người sang tiệm cà phê trước mặt kia kiếm về cho ông chút gì ăn lót dạ.


K... không trả lời đề nghị ấy; anh đứng lặng một lúc không nói gì. Có thể hai tên canh giữ cũng chẳng ngăn cản nếu anh tìm cách mở cửa phòng bên cạnh, hay thậm chí mở cửa ra ngoài tiền sảnh! Có lẽ cần phải làm toáng lên muốn ra sao thì ra? Biết đâu đó chính là chìa khóa của tình huống này.


Nhưng cũng rất có thể bọn canh giữ sẽ chặn lại ngay nếu anh dở dói điều gì: lúc ấy thì ôi thôi đi đời cái ưu thế anh dẫu sao vẫn giữ đối với bọn chúng về một số phương diện nào đấy! Vì vậy, anh đành đợi một giải phát ít bấp bênh hơn, cứ để cho sự việc diễn tiến tự nhiên đến đâu hay đấy. Anh liền quay về phòng không nói thêm một lời nào nữa.


Tại đây, anh ngồi phịch xuống giường, với tay lên bàn cạo râu lấy một quả táo rất ngon, hôm trước anh để dành sớm mai ăn lót dạ. Anh chỉ còn mỗi quả táo ấy, nhưng vừa cắn một miếng, anh thấy ngay nó còn giá trị hơn rất nhiều so với đồ ăn thức uống mà bọn canh giữ có thể ban ơn sai người đến một tiệm cà phê đêm bẩn thỉu nào đó kiếm mang về cho anh. Anh cảm thấy dễ chịu và yên tâm; sáng nay thế là rõ ràng nhỡ buổi đến ngân hàng làm việc, nhưng do anh giữ một chức vụ tương đối cao, người ta chắc sẽ dễ dàng miễn thứ cho anh. Có nên nói rõ lý do ra không? Anh định sẽ nói. Nếu mọi người không tin, kể ra cũng là lẽ đương nhiên, anh có thể dẫn ra mấy người làm chứng là bà Grubach hay hai ông bà lão hiện đương đi tới đứng bên cửa sổ ngay trước phòng của anh. Đặt mình vào địa vị mấy tên canh giữ, K... lấy làm lạ tại sao chúng lại đuổi anh về phòng một mình, nếu anh muốn tự tử thì dễ quá. Nhưng đồng thời, ở vào địa vị của chính mình, anh lại tự hỏi việc gì mà phải chết. Chẳng lẽ tự tử vì hai đứa ấy chén mất bữa ăn sáng của anh trong phòng bên cạnh hay sao! Tự tử vô lý quá đến nỗi dù anh có muốn tự tử, anh cũng thấy thật là ngớ ngẩn đến mức sẽ chẳng bao giờ tự tử nổi. Nếu bọn canh giữ kia chẳng phải là những kẻ thiển cận sờ sờ ra đấy, ta có thể nghĩ rằng cũng chính vì lý do đó nên chúng mới không thấy có gì nguy hiểm khi để mặc anh một mình. Nếu thích, chúng có thể cứ việc nhìn anh! Chúng sẽ nhìn thấy anh đi lấy chai rượu mạnh để lâu ngày rất ngon cất tận trong cùng chiếc tủ nhỏ, cạn một cốc để thay cho bữa ăn sáng, và một cốc thứ hai để lấy can đảm, nhưng chỉ là do cẩn thận đề phòng trường hợp vạn nhất cần thiết đến sự can đảm ấy.


Vừa lúc đó, anh sợ hãi giật nảy mình đến nỗi cốc va vào răng khi nghe phòng bên có người gọi:


“Ngài đội cho đòi ông lên”.


Anh sợ chỉ là do tiếng gọi ấy, tiếng gọi cộc lốc như một mệnh lệnh nhà binh anh chẳng bao giờ nghĩ rằng lại có thể là tiếng gọi của tên canh giữ Franx. Còn bản thân mệnh lệnh thì lại làm cho anh thích thú; anh trả lời “rồi!” bằng một giọng khoan khoái, khóa cái tủ nhỏ lại và bước vội sang phòng bên. Anh thấy ở đấy hai gã thanh tra, chúng lập tức xua đuổi anh trở về phòng, như đó là lẽ đương nhiên:


- Hay nhỉ, - Chúng thét - ông định mặc áo lót lên gặp ngài đội hay sao? Ngài sẽ tẩn cho ông một trận và nhân dịp tẩn cả bọn tôi nữa.


- Để cho tôi yên thân vậy, mẹ kiếp! - K... kêu lên, anh bị dồn đến sát chiếc tủ - Đến bắt người ta khi đang ngủ trên giường thì trông chờ thấy người ta mặc bộ đồ khiêu vũ thế nào được!


- Bọn tôi biết làm sao. - Hai gã thanh tra nói, chúng có vẻ buồn bã mỗi lần K... kêu lên, khiến cho anh bối rối hoặc trở nên biết điều đôi chút.


- Nghi thức lố bịch. - Anh còn lầu bầu, nhưng cũng đã cầm lấy chiếc áo vét trên lưng ghế; anh giữ nguyên chiếc áo buông thõng một lúc bằng cả hai bàn tay như để cho mấy gã thanh tra xem có được không. Chúng lắc đầu.


“Phải mặc chiếc áo đen”, chúng nói.


K... liền vứt áo vét xuống đất và nói, mà bản thân anh chẳng hiểu là nói gì: “Nào có phải chuyện gì to tát trọng thể đâu!”.


Mấy gã thanh tra mỉm cười, nhưng cố nén lại:


- Phải mặc áo vét đen. - Chúng nói.


- Nếu nhờ vậy mà mọi việc chóng vánh thì cũng được thôi. - K... nói, và anh tự mình mở tủ, tìm rất lâu trong đống quần áo, chọn bộ đồ đen đẹp nhất của anh, một chiếc áo Jaket may bó sát lấy người đã từng làm cho bạn bè quen biết của anh phải trầm trồ, anh cũng lấy ra một chiếc áo sơ mi sạch và bắt đầu đóng bộ rất cẩn thận. Trong thâm tâm, anh còn nghĩ đã đẩy nhanh được mọi việc bằng cách làm cho bọn thanh tra quên không bắt anh tắm rửa. Anh để ý dò xét xem liệu chúng có sắp sửa nhắc anh phải đi tắm không, nhưng tất nhiên là chúng không nghĩ đến; ngược lại Vilem không quên cử Franx đến báo cho ngài đội biết là K... đương mặc quần áo.


Khi đã quần áo chỉnh tề, anh phải đi ngang qua phòng bên cạnh, có Vilem kèm sát, để tới phòng kế tiếp, cửa đã mở rộng cả hai cánh. Căn phòng ấy, K... biết rất rõ, là phòng ít lâu nay cô Bơcxne ở, cô là thư ký đánh máy, hàng ngày đi làm từ tờ mờ sáng cho mãi tới khuya mới về, khi gặp nhau, hai người chỉ gật đầu chào hỏi. Cái bàn để đèn đêm trước vẫn kê ở đầu giường, nay được kéo ra giữa phòng để dùng làm bàn giấy cho ngài đội đương ngồi phía sau. Hai chân lão bắt chéo, một cánh tay tỳ lên lưng ghế tựa.


Trong một góc phòng, có ba thanh niên đương xem ảnh cô Bơcxne; các ảnh treo vào một chiếc mành nhỏ trên tường. Một chiếc áo choàng trắng móc ở quả đấm cửa sổ để mở. Phía trước mặt, hai ông bà lão đã lại đến xem; cả hai cúi gập người trên bậu cửa sổ, nhưng phía sau lưng các cụ bây giờ còn có thêm một tay đàn ông cao lớn vượt hơn các cụ hẳn nửa người, áo sơ-mi để phanh trước ngực, tay rứt rứt bộ ria mép màu hung.


- Jôzep K... hả? - Viên đội hỏi, có lẽ chỉ là để cho bị cáo đương nhìn lơ đãng phải chú ý đến y.


K... gật đầu.


- Chắc ông ngạc nhiên lắm về những sự kiện xảy ra sáng nay? - Viên đội hỏi, hai tay xê dịch mấy thứ đồ vật trên chiếc bàn để đèn đêm - cây nến, những que diêm, quyển sách và hộp kim chỉ - dường như lão cần dùng đến những dụng cụ ấy trong lúc xét hỏi.


- Nhất định rồi, - K... nói, anh sung sướng được đối diện với một con người biết điều và có thể nói với người ấy về vụ việc của anh - nhất định rồi, tôi ngạc nhiên nhưng không phải là ngạc nhiên lắm.


- Không ngạc nhiên lắm? - Viên đội hỏi và đặt lại cây nến ra giữa chiếc bàn con, còn mấy thứ kia thì xếp chung quanh.


- Có lẽ ông hiểu lầm ý tôi định nói. - K... vội giải thích - Tôi muốn nói. Nhưng đến đây anh ngừng lại để tìm một chiếc ghế - Tôi có thể ngồi, phải không ạ?


- Thường lệ không thế. - Viên đội trả lời.


- Tôi muốn nói, - K... nhắc lại và không ngừng lời nữa - tuy tôi rất ngạc nhiên, nhưng đã ba mươi năm sống ở trên đời và phải hoàn toàn tự lực cánh sinh, tôi đã ít nhiều chai sạn với những sự ngạc nhiên, nên cũng xem thường nhất là chuyện ngạc nhiên ngày hôm nay.


- Tại sao nhất là chuyện ngạc nhiên ngày hôm nay?


- Tôi không muốn nói tôi xem chuyện xảy ra đây là một trò đùa; người ta dàn ra lắm thứ thế này chắc không phải chuyện đùa. Nếu là đóng kịch thì ắt tất cả những người trong nhà đều tham gia, kể cả ông nữa; như thế sẽ vượt những giới hạn của một trò đùa. Vì vậy tôi không muốn nói đây là một trò đùa.


- Rất đúng. - Viên đội vừa nói vừa đếm diêm trong bao.


- Nhưng mặt khác, - K... quay về phía mọi người nói tiếp, anh rất muốn mấy tay thanh niên xem ảnh cũng quay lại nghe - việc này xem ra cũng chẳng có gì quan trọng lắm. Sở dĩ nói thế vì tôi bị buộc tội mà chẳng thấy mình có một chút lỗi lầm nào đáng trách cả. Nhưng đó vẫn chỉ là điều thứ yếu. Cái chính là tôi muốn biết ai buộc tội tôi? Cơ quan nào điều khiển vụ án? Các ông có phải là viên chức không? Chẳng ai mặc đồng phục cả, trừ phi gọi là đồng phục bộ quần áo này - và anh chỉ quần áo Franx đương mặc - bộ quần áo du lịch bình thường thì đúng hơn. Đó là những điểm tôi yêu cầu ông nói rõ; tôi tin rằng sau khi giải thích đâu vào đấy, chúng ta có thể hết sức thân ái chia tay nhau.


Viên đội lại đặt bao diêm trên bàn.


- Ông lầm to. - Y nói - Trong vụ này, mấy người kia và cả tôi đều giữ vai trò hoàn toàn thứ yếu. Chúng tôi thậm chí hầu như không biết gì. Dù chúng tôi có mặc đồng phục hết sức đúng quy cách chăng nữa thì việc của ông cũng chẳng bớt đáng buồn đi một tí nào. Tôi cũng không thể nói là ông bị buộc tội, hay đúng hơn tôi không biết là ông có bị buộc tội hay không. Ông bị bắt, điều đó đúng, tôi không biết gì hơn. Nếu mấy viên thanh tra có nói gì thêm với ông, thì chỉ là ba hoa đấy thôi. Nhưng tuy không trả lời những câu hỏi của ông, tôi vẫn có thể khuyên ông nên bớt nghĩ đến chúng tôi đi và giữ mình nhiều hơn chút nữa. Và đừng lải nhải mãi là không có tội gì, chỉ tổ làm hại đến cái ấn tượng tạm gọi là tốt đẹp của mọi người đối với ông. Ông cũng nên ăn nói dè dặt hơn; giả sử ông có không nhiều lời đi nữa, thì thái độ của ông hầu như  cũng đủ cho mọi người hiểu tất cả những điều ông giải thích từ nãy đến giờ, và những điều ấy lại chẳng có lợi gì cho ông.


K... trố mắt nhìn viên đội. Anh chàng này có lẽ còn ít tuổi hơn anh, thế mà ở đây lại giở giọng lên lớp với anh như với một cậu học trò. Họ trách mắng anh về tính ngay thẳng của anh ư? Và họ chẳng cho anh biết tí gì về lý do cũng như cơ quan hữu trách quyết định việc bắt giữ!


Bực mình, anh liền đi đi lại lại có vẻ bứt rứt khó chịu, điều đó thì chẳng ai ngăn cấm; anh vén cổ tay áo, sờ nắn tấm áo lót trước ngực, vuốt vuốt mái tóc, đi ngang qua chỗ ba tay thanh niên và nói: “Thật là vô lý hết sức”, khiến cho cả ba quay lại nhìn anh vừa ân cần nhưng cũng vừa nghiêm nghị, và cuối cùng anh quay về dừng lại trước bàn giấy của viên đội.


- Ông biện lý Haxtêre là chỗ bạn thân của tôi, - Anh nói - tôi gọi điện thoại cho ông ấy có được không?


- Được chứ, - Viên đội bảo - nhưng tôi chẳng hiểu là được tích sự gì, trừ phi để nói chuyện riêng tư thì không kể.


- Được tích sự gì ư? - K... thốt lên, ngơ ngác nhiều hơn là bực tức - Thế ông là ai? Ông muốn tôi nói chuyện bằng điện thoại phải được tích sự, còn ông thì ông hành động thật quá ư vô tích sự? Ông xem thế có kỳ không? Thoạt đầu, họ bất thình lình xông vào nhà tôi, rồi bao vây quanh tôi, rồi cho là tôi tội nặng! Gọi dây nói cho một ông biện lý thì được tích sự gì ư khi người ta khẳng định rằng tôi bị bắt? Thôi được, tôi sẽ không gọi dây nói nữa.


- Cứ việc gọi chứ. - Viên đội bảo anh và trở ra ngoài tiền sảnh. - Ở đấy có máy điện thoại, tôi xin ông cứ gọi dây nói đi.


- Không, tôi không muốn nữa. - K... nói và bước về phía cửa sổ.


Phía bên kia, ba nhân vật tò mò vẫn đứng ở cửa sổ; họ bình thản đứng xem và chỉ có vẻ bối rối khi K... tới nhìn họ. Hai ông bà lão muốn bỏ đi, nhưng tay đàn ông đứng phía sau làm cho hai cụ an tâm.


- Chúng ta có những khán giả quá quắt thật! - K... kêu to lên và vừa quay về phía viên đội vừa giơ tay chỉ mấy người kia. Anh thét bảo họ: - Đi đi!


Họ liền lùi ngay lại mấy bước; hai ông bà lão thậm chí lần sau người đàn ông, gã che kín hai cụ bằng tấm thân hộ pháp của mình, còn miệng thì mấp máy như nói gì, nhưng vì chúng xa nên K... nghe không rõ. Tuy thế họ không bỏ đi hẳn; hình như họ đợi thời cơ để có thể quay trở lại chỗ cửa sổ mà không ai nhìn thấy.


“Đồ mất dạy!”, K... quay lại nói.


Liếc nhìn viên đội, anh thấy gã cảnh sát ấy có vẻ như tán đồng với anh. Nhưng cũng rất có thể viên đội không nghe thấy, vì y đã đặt bàn tay trên mặt bàn và hình như đương so xem ngón tay nào dài ngắn. Hai gã thanh tra thì ngồi trên chiếc ghế phủ tấm thảm và xoa bóp đầu gối. Ba tay thanh niên đứng chống nạnh nhìn lơ đãng khắp nơi. Yên lặng như tờ giống một văn phòng bị bỏ quên không có người làm việc.


“Các ông ạ, - K... nói, và có lúc anh cảm thấy như tất cả bọn họ đè nặng trên vai anh - qua thái độ của các ông, vụ việc của tôi xem chừng kết thúc rồi. Theo ý kiến tôi, tốt hơn hết là chẳng nên nghĩ xem cách thức tiến hành của các ông là có hay không có căn cứ, mà ta nên bắt tay nhau để chấm dứt câu chuyện này một cách nhã nhặn. Nếu các ông cũng đồng ý như thế, thì nào”.


Và anh giơ tay bước về phía bàn viên đội.


Viên đội ngước lông mày, cắn môi và nhìn bàn tay K..., anh vẫn nghĩ rằng y sắp nắm lấy bàn tay ấy. Nhưng viên đội đứng dậy, cầm lấy chiếc mũ quả dưa trên giường cô Bơcxne và nâng cả hai tay đội lên đầu hết sức thận trọng như khi ta đội thử mũ mới.


Mọi việc đối với ông có vẻ đơn giản quá, y đồng thời nói với K... Theo ý ông, chúng ta phải chấm dứt vụ này một cách nhã nhặn ư? Nhưng không, này, không được đâu! Song như thế cũng không có nghĩa là ông phải thất vọng. Mà việc gì phải thất vọng? Ông chỉ bị bắt thôi mà. Đó là điều tôi phải báo cho ông biết; tôi thấy ông đã biết điều đó rồi, hôm nay thế là đủ, và chúng ta có thể chia tay nhau, tất nhiên là tạm thời. Chắc bây giờ ông muốn đi đến ngân hàng?


- Đến ngân hàng? - K... hỏi - Tôi tưởng là tôi bị bắt.


(còn tiếp)


Nguồn: Vụ án, Hóa thân. Tiểu thuyết của Franz Kafka. Phùng Văn Tửu dịch theo bản tiếng Pháp: LE PROCÈS. NXB Gallimard, Paris 1957. NXB Văn học, 1999, đang tái bản, 2011.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 28.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 23.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
xem thêm »