tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28969593
Lý luận phê bình văn học
03.11.2008
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học Hegel (28)

Chương thứ nhất


TÍNH TƯỢNG TRƯNG KHÔNG CÓ Ý THỨC


Bây giờ, khi đề cập tới việc khảo sát kỹ hơn các trình độ phát triển của nghệ thuật tượng trưng, chúng ta phải xuất phát ngay từ hình thức đầu tiên của nghệ thuật, là hình thức xuất phát từ bản thân ý niệm nghệ thuật. Vậy mà, như chúng ta đã thấy, nghệ thuật bắt đầu bằng hình thức tượng trưng, hay chính xác hơn, bằng cái tượng trưng không có ý thức, trong đó hình thức vẫn chưa được quan niệm là một hình ảnh đơn thuần hay là một so sánh mà lại được xem là một biểu hiện thích hợp của một nội dung nào đó. Nhưng muốn cho cái chủ nghĩa tượng trưng không tự giác này biểu lộ cho chúng ta thấy tính chất thực sự tượng trưng và muốn cho tượng trưng có thể trở thành đối tượng một sự khảo sát thực sự khoa học thì chúng ta phải đưa ra nhiều nhận xét sơ bộ và bao nhiêu nhận xét này đều sẽ là bấy nhiêu tiền đề cần thiết.


Chúng ta hãy bắt đầu bằng một định nghĩa chính xác hơn về xuất phát điểm của chúng ta. Chúng tôi đã nói, tượng trưng dựa trên mối liên tưởng trực tiếp giữa cái ý nghĩa phổ biến và do đó có tính tinh thần, với hình thức, cái này có thể là thích hợp hay không thích hợp, nhưng ý thức vẫn chưa có khả năng nhận thấy được tính không thích hợp. Nhưng mặt khác, mối liên tưởng này phải được quan niệm như là một hiện thực thần linh tồn tại trực tiếp. Kết quả là, nghệ thuật tượng trưng muốn trở thành đối tượng của nghệ thuật đã phải chịu một sự phân chia giữa cái ý nghĩa chung với sự có mặt trực tiếp trong tự nhiên thành ra cái tuyệt đối được tiếp cận bởi hư cấu xem như quan niệm rằng Đấng tuyệt đối là thực sự có mặt ở trong sự tồn tại tự nhiên này.


Như vậy, tiền đề đầu tiên cho phép nghệ thuật tượng trưng xuất hiện không phải là do nghệ thuật sơm sinh ra, mà được tìm thấy ở bên ngoài nghệ thuật trong những đối tượng hiện thực của tự nhiên và hoạt động của con người: đó là tính thống nhất trực tiếp của cái tuyệt đối với sự tồn tại của nó trong thế giới các hiện tượng.


 


SỰ THỐNG NHẤT TRỰC TIẾP GIỮA Ý NGHĨA VÀ HÌNH THỨC


 


Ở trong cái trực giác trực tiếp này trong đó yếu tố thần linh mà con người nhận thức là một thể duy nhất gắn bó với các biểu hiện của yếu tố thần linh trong tự nhiên và con người thì tự nhiên không xuất hiện như nó tồn tại và Đấng tuyệt đối xét ở mình cũng vẫn chưa tách khỏi tự nhiên và trở thành độc lập. Nói khác đi, lúc bấy giờ vẫn chưa có thể nói tới một sự phân biệt thực sự giữa cái bên ngoài với cái bên trong, giữa ý nghĩa và hình tượng, bởi vì một lần nữa cái bên trong vẫn còn chưa tách khỏi cái hiện thực trực tiếp ở trong thế giới thực tại. Do đó, nếu như ở đây chúng ta nói đến ý nghĩa thì sở dĩ thế là vì sự suy nghĩ của chúng ta. Sự suy nghĩ này là xuất phát từ đòi hỏi chúng ta muốn quan niệm cái hình thức dùng để biểu đạt tinh thần chỉ là cái vỏ bên ngoài giúp ta nhìn cái nội dung, linh hồn và ý nghĩa bên trong. Khi chúng ta đứng trước những trực giác phổ biến như thế, chúng ta không nên quên sự phân biệt chủ yếu cần phải làm đối với chúng: vấn đề là tìm hiểu xem phải chăng các dân tộc lần đầu tiên đã có những trực giác này thực sự có ý định khách thể hóa một cơ sở bên trong và một ý nghĩa sâu xa, hay phải chăng chính chúng ta đã cấp cho các thể hiện của chúng một ý nghĩa mà có lẽ chúng không có, và phải chăng chẳng qua vì chúng ta thấy ở đấy sự thể một ý nghĩa nào đó đã được thể hiện ra ngoài.


Như vậy, trong giai đoạn thống nhất đầu tiên này, không hề bao hàm một sự khác nhau nào giữa linh hồn với thể xác, giữa khái niệm và thực tại. Mặt thể xác và cảm quan, mặt tự nhiên và nhân tính không phải chỉ là biểu hiện của một thứ ý nghĩa mà ta phải tách rời khỏi cái hình thức biểu hiện, trái lại bản thân cái biểu hiện bên ngoài đều được xem là thực tại trực tiếp và là sự có mặt trực tiếp của Thượng đế hay Đấng tuyệt đối. Như vậy, Đấng tuyệt đối sẽ không có một tồn tại độc lập đối với các biểu hiện của mình, trái lại Đấng tuyệt đối sẽ có mặt thực sự ở trong một vật, vật này sẽ là Thượng đế hay yếu tố thần linh. Ở trong sự thờ phụng Lạt-ma([1]), con người có thực này như anh ta tồn tại với các nét cá nhân của anh ta được xem là một thần linh và được tôn thờ như thần linh. Cũng vậy trong các tôn giáo tự nhiên khác người ta cho các vật như là mặt trời, núi non, song ngòi, mặt trăng và một số động vật như là con bò, con khỉ… là những tồn tại thần linh và được tôn kính như là thiêng liêng.


Người ta gặp lại hiện tượng này nhưng với một hình thức sâu xa hơn ngay ở trong đạo Thiên Chúa. Chẳng hạn, theo học thuyết tôn giáo bánh thánh sẽ biểu hiện thân thể thực sự, rượu sẽ biểu hiện máu thực sự của Chúa và ngay cả theo tôn giáo của Luyte, bánh mì và rượu mà một người mộ đạo chân chính ăn và uống sẽ biến thành thân thể và máu thực sự. Tính đồng nhất huyền bí này không có một ý nghĩa thuần túy tượng trưng, là cái chỉ xuất hiện trong học thuyết Tin lành ở đấy cái tinh thần xét ở bản thân mình tách cái bên ngoài chỉ được xem là một lời bóng gió đơn thuần nhắc tới một ý nghĩa tách rời khỏi vật ấy. Ngay cả trong những bức tượng màu nhiệm của Đức mẹ đồng trinh sức mạnh của yếu tố thần linh vẫn tác động xem như một yếu tố cố hữu dường như thực sự có mặt ở đấy chứ không phải là chỉ gắn vào các bức tượng này như một ý nghĩa gắn vào cái hình ảnh tượng trưng của nó.


Dưới hình thức triệt để nhất và phổ biến nhất, chúng ta sẽ tìm thấy quan niệm này về tính thống nhất trực tiếp giữa nội dung với hình thức ở trong tôn giáo của Ba Tư cổ đại mà kinh Zenđơ Avexta([2]) đã truyền lại cho ta các biểu tượng và các thể chế.


 


Tôn giáo của Zôrôat.([3])


 


Theo tôn giáo của Zôrôat ánh sáng tự nhiên, mặt trời, tinh tú, ngọn lửa soi sáng và bùng cháy là đại biểu Đấng tuyệt đối. Nó không tách yếu tố thần linh này khỏi ánh sáng chỉ được xem như là một biểu hiện, một phản ánh, một biểu trưng. Yếu tố thần linh, ý nghĩa không tồn tại độc lập ở bên ngoài ánh sáng. Nếu như ánh sáng cũng được xem là một biểu hiện của cái thiện, của công lí, là cái ban cấp hạn phúc, duy trì phát huy sự sống thì đó không phải bởi vì người ta xem ánh sáng chỉ là một hình ảnh đơn thuần của cái thiện, mà bởi vì người ta xem ánh sáng chính là cái thiện. Vấn đề cũng hệt như vậy đối với cái đối lập với ánh sáng là bóng tối: cái này trùng làm một với sự hỗn trọc, sự tai hại, cái xấu trùng với cái phá hoại, giết chết,…


Xét kỹ hơn, quan niệm này xuất hiện dưới ba mặt sau đây:


Trước hết, yếu tố thần linh như ánh sáng và bản thân sự thuần khiết, và cái đối lập với nó là bóng tối và sự ô trọc đều được nhân cách hóa rõ ràng: cái thứ nhất mang tên là Ormuzđ, cái thứ hai mang tên là Ariman. Nhưng sự nhân cách hóa này vẫn hết sức phiến diện. Ormuzđ không phải là một chủ thể tự do, hoàn toàn xa lạ đối với cái cảm quan như Thượng đế của người Do Thái, hay là một chủ thể thực sự có tính tinh thần và cá nhân như là Thượng đế của người Thiên Chúa giáo ở đấy Thượng đế đóng vai một tinh thần có ý thức  về bản thân mình và về cá tính thực tế của mình. Trong khi người ta gọi Ormuzđ bằng những danh từ vua, quan tòa, thần linh vĩ đại… nhưng với tính cách là nguồn ánh sáng và những ánh sáng, Ormuzđ vẫn gắn liền với các sự vật cảm quan. Do đó ở đây ông ta chỉ là yếu tố phổ biến của tất cả các tồn tại cá biệt trong đó yếu tố thần linh và sự tinh khiết đóng vai ánh sáng và những ánh sáng, trong lúc đó yếu tố phổ biến này vẫn không bị quan niệm như là có thể tách ra khỏi các đối tượng chứa đựng nó và độc lập với các đối tượng ấy. Nó vẫn tiếp tục tồn tại ở trong cái cá biệt và cái đặc thù chẳng khác gì loài tồn tại ở trong giống và trong các vật cá biệt. Khi đại diện cho yếu tố phổ biến này Ormuzđ đứng cao hơn hẳn cái riêng biệt và được xem như là cái đầu tiên, cái cao nhất, vị chúa tể của mọi vua chúa, rực sáng như vàng, thuần túy nhất, ưu tú nhất… nhưng chỉ tồn tại trong cái gì ngời sáng u ám, tối tăm, bênh hoạn và chết chóc.


Quan niệm này phát triển và mở rộng trở thành một thế giới, một vương quốc của ánh sáng và một vương quốc của bóng tối đấu tranh với nhau. Trong vương quốc của Ormuzđ đó là của Amsapan, hay bảy ánh sáng chính của bầu trời được tôn thờ như những thần linh bởi vì họ thể hiện bảy tồn tại chính riêng biệt của ánh sáng và với tính cách một nhóm thần linh vĩ đại và tinh khiết họ hợp nhất lại làm thành bản chất của yếu tố thần linh. Mỗi Amsapan, và bản thân Ormuzđ cũng là một Amsapan có ngày xuất hiện, ngày ban phúc và ngày làm việc tốt. Những chi tiết riêng biệt hơn là thuộc các Yzet và các Fecve, các vị thần này cũng như Ormuzđ đều được cá nhân hóa song vẫn không có được một biểu hiện hình tượng chính xác cho phép ta chiêm ngưỡng được bằng trực giác trạng thái chủ thể và tinh thần, thể xác họ. Họ chỉ biểu lộ với tính cách ánh sáng, hào quang, như mọi cái lấp lánh, chiếu sáng, tỏa sáng…


Cũng vậy, mọi vật tự nhiên nào không tồn tại bên ngoài thành những vật chiếu sáng và chói sáng – tức là cây cỏ, súc vật, động vật cũng như mọi cái gì làm thành thế giới con người dưới các phương diện tinh thần và thể xác  của nó, mọi hành động và mọi biến cố, tất cả đời sống quốc gia, nhà vua ở giữa bảy vị thượng quan của nhà vua, sự phân chia thành giai cấp, các thành phố, các quận huyện với những người cầm đầu là những người phải làm gương và phải lo che chở cho dân bởi vì họ là những người ưu tú nhất và thuần túy nhất, tóm lại toàn bộ thực tại đều được quan niệm là sự tồn tại của Ormuzđ. Bởi vì mọi cái gì tồn tại  đều là cội nguồn của sự phồn vinh, sự sống, sự duy trì, mọi cái gì góp phần phát huy sự phồn vinh và sự sống và đảm bảo duy trì nếu đều tập trung vào ánh sáng  và sự thuần khiết, và do đó, tập trung vào trong Ormuzđ: chân lí, tình yêu, công lí… tất cả những cái đó đều được Zôrôat xem là ngời sáng và thần linh ở bản thân nó. Vương quốc của Ormuzđ được tạo nên bởi tất cả những gì tồn tại thực tế với tính cách sự thuần khiết và sự ngời sáng, không hề biết đến sự phân biệt giữa các biểu hiện của tự nhiên và các biểu hiện của tinh thần, cũng hệt như ánh sáng và lòng tốt, những phẩm chất cảm quan và những phẩm chất tinh thần là trùng với nhau làm một và hòa lẫn với nhau ở trong bản thân Ormuzđ. Sự rực rỡ của bất kỳ tạo vật nào theo Zôrôat cũng là biểu hiện cái bản chất của tinh thần, của sức mạnh, của mọi biểu hiện của sự sống, chính trong chừng mực chúng có xu hướng duy trì cái gì tốt và loại trừ cái gì bản thân là xấu xa và nguy hại. Bởi vì cái hiện thực và tốt trong động vật, trong con người, và trong thực vật chẳng qua đó là ánh sáng và sự rực rỡ sáng nhiều hay ít của các sự vật là tùy theo phẩm chất và trình độ ngời sáng này.


Người ta gặp lại cũng cái thứ tự tiến dần như vậy, cũng cái tôn ty ấy ở trong cái vương quốc của Ariman chỉ khác có một điều: ở đây cái ác về tinh thần và tự nhiên, và nói chung mọi cái gì phá hoại và phủ định và hiện thực thực sự và chiếm ưu thế. Nhưng quyền lực của Ariman không thể mở rộng lĩnh vực của y và toàn bộ thế giới chỉ có một mục đích duy nhất, một nhiệm vụ duy nhất là phá hủy, thủ tiêu ảnh hưởng của Ariman và bảo đảm sao cho sự sống, sự có mặt và sự thống trị của Ormuzđ diễn ra khắp nơi và ở mọi vật.


Tất cả cuộc đời con người  là dành cho cái mục đích duy nhất ấy. Nhiệm cụ của mỗi người tóm lại là làm sao cho tinh thần và thể xác mình được thuần khiết, mở rộng cái ân huệ này ra xung quanh mình và chiến đấu chống lại Ariman và các biểu hiện của trong mọi hoàn cảnh và mọi hoạt động của con người. Nhiệm vụ cao nhất và thiêng liêng nhất tóm lại là ca ngợi Ormuzđ trong các sáng tạo của Người, yêu mến tất cả những cái gì toát ra từ ánh sáng của Người, yêu tất cả những cái gì thuần khiết và làm vừa lòng Người. Người tăng lữ, do đó, trước hết phải dùng tư duy và ngôn ngữ cầu Ormuzđ, cầu nguyện với Người. Sau khi ca ngợi Đấng là cội nguồn làm tất cả thế giới của sự thuần khiết tỏa sáng, ông ta phải dùng những lời cầu nguyện để nói với các sự vật cá biệt theo trình độ vĩ đại, phẩm giá và sự hoàn thiện của chúng: bởi vì như vị tăng lữ Cảnh giáo nói, nếu chúng ta là tốt và thuần khiết thì Ormuzđ tồn tại ở chúng và yêu chúng như yêu những đứa con của mình về mặt thuần khiết và Người vui sướng dường như chúng vừa mới nảy sinh, bởi vì tất cả những cái gì tồn tại đều toát ra ở Người ở trạng thái mới mẻ, thuần khiết. Chính vì vậy mà lời cầu nguyệ trước hết là bày tỏ với các Amsapan là những biểu hiện đầu tiên của Ormuzđ, những biểu hiện cao nhất và rực rỡ nhất, những biểu hiện bao quanh ngai vàng của Người và giúp Người trong việc trị vì thế giới. Lời cầu nguyện dâng lên cho các thần linh thượng giới này nói đến các đặc tính của họ, các công việc của họ, và khi các thần linh này là những tinh tú thì nói đến sự xuất hiện của họ. Mặt trời được cầu nguyện lúc ban ngày một cách khác nhau tùy theo chỗ mặt trời mọc hay ở đỉnh đầu lúc giữa trưa, hay lúc mặt trời lặn. Giữa buổi sáng và buổi trưa, vị tăng lữ chủ yếu cầu thần Ormuzđ tăng thêm ánh sáng của mình buổi chiều ông ta cầu nguyện để cho mặt trời cỏ thê hoàn thành chuyến đi của nó dưới sự che chở của Ormuzđ và các Yzet. Nhưng chủ yếu thần Mitra được thờ phụng xem như vị thần đã làm cho mặt đất và các sa mạc có sự sống, vị thần gieo những thức ăn nuôi sống tất cả tự nhiên, và vị thần chiến đấu hùng mạnh bảo vệ hòa bình chống lại các Đêva là những vị thần của sự xung đột, chiến tranh, và hủy diệt.


Ngoài ra, những lời cầu nguyện của các tăng lữ Cảnh giáo vốn là những tụng ca nói chung khá đơn điệu, nói về các lí tưởng, về cái gì thuần khiết nhất, chân thực nhất ở con người về những tinh thần thuần túy của con người bất họ sống hay đã sống ở nơi nào trên thế giới. Người ta chủ yếu nói đến cái tinh thần thuần túy của Zôrôat, nhưng cũng nói đến những người cầm đầu các giai cấp xã hội, các thành phố, các quận huyện, và các tinh thần của tất cả mọi người từ trước đến nay đã được xem là liên kết chặt chẽ, là những thành viên của cái xã hội sinh động của những ánh sáng mà một ngày kia sẽ trở thành hợp nhất hơn nữa ở trong Gôrôtmat([4]). Người ta không quên cả các động vật, núi non, cây cối… mà người ta nhắc đến nhân danh Ormuzđ bằng cách ca ngợi việc tốt của chúng, những công việc chúng đã đem đến cho con người, nhất là những điều tuyệt mĩ đầu tiên và lớn nhất của chúng là chứng tỏ sự tồn tại của Ormuzđ. Ngoài những lời cầu nguyện Ormuzđ và tất cả những tạo vật thuần khiết và làm việc thiện, kinh zenđơ Avexta còn nhấn mạnh yêu cầu làm việc thiện, giữ tư tưởng, ngôn ngữ và hành động cho thuần khiết trong tất cả hành vi bên ngoài và bên trong phải như ánh sáng, như Ormuzđ, như các Amsapan, các Yzet, anh ta phải sống và hành động như Zôrôat và tất cả những người thiện. Bởi vì những người này đã sống và đang sống trong ánh sáng, tất cả các ngôi sao của họ đều là ánh sáng; cho nên mỗi người phải nhìn những tấm gương của họ và theo họ. Con người càng biểu lộ sự thuần khiết sáng ngời và lòng tốt trong cuộc đời và trong các hành động của mình, thì càng gần các thần linh thượng giới. Cũng như các Yzet biểu lộ lòng nhân đức của họ bằng cách ban phúc, làm cho mọi vật sống dồi dào, phát triển và hòa bình, cũng vậy con người phải tìm cách làm cho tự nhiênthuần khiết, làm cho nó thành cao thượng và phát huy ở tất cả mọi nơi sự sống đầy ánh sáng và sự phồn vinh vui vẻ. Chính vì để đảm nhiệm nhiệm vụ này mà anh ta nuôi nấng những người đói, cứu chữa những người ốm đau, đưa nước cho người khát uống, cho người hành hương được vào nhà nghỉ ngơi. Anh ta gieo những hạt giống thuần khiết xuống đất, đào những con sông sạch sẽ, trồng cây ngoài sa mạc, giúp đỡ cho sự sinh trưởng ở bất cứ nơi nào anh ta có thể làm, chú ý đến việc nuôi nấng và sự sinh trưởng của mọi sinh vật, chú ý đến ánh sáng thuần khiết của lửa, đưa những con vật chết và nhơ bẩn đi xa, kết hôn, và bản thân nữ thần Sapanđômat, thần Yzet của mặt đất vui sướng về điều đó và làm cho những điều thiệt hại mà các Đêva([5]) và các Dacvan trù tính và sắp thực hiện sẽ bị thất bại.


 


Tính phi tượng trưng của tôn giáo.


 


Trong những thế giới quan chủ yếu  này của tôn giáo Zôrôat vẫn hoàn toàn vắng mặt cái mà chúng ta gọi là tượng trưng. Một mặt, ánh sáng tồn tại xem như một hiện tượng tự nhiên, nhưng mặt khátc ánh sáng lại có nghĩa là cái thiện, đạo đức, yếu tố duy trì sự tồn tại, thành ra dường như ta có thể nói rằng sự tồn tại thực tế của ánh sáng chỉ là hình ảnh để thể hiện cái ý nghĩa chung diễn ra qua tất cả tự nhiên và thế giới nhân tính. Nhưng nếu như chúng ta xét thế giới quan của những người tăng lữ Cảnh giáo thì phải nói rằng không có một sự phân chia như vậy giữa tồn tại thực tế của sự vật và ý nghĩa của nó: bởi vì đối với họ, ánh sáng với tính cách ánh sáng là tồn tại và hành động ở trong tất cả các biểu hiện đặc thù của cái thiện, của tất cả những cái gì sống và có giá trị tích cực. Kể ra, cái chung và cái thần linh đều được thể hiện thông qua sự khác nhau của những tồn tại đặc thù trên thế giới, song tính thống nhất không thể phân chia giữa ý nghĩa và hình ảnh vẫn được duy trì trong mỗi tồn tại riêng biệt và cô lập. Những sự khác nhau mà chúng ta bắt gặp ở thể thống nhất này không phải liên quan tới những sự khác nhau giữa ý nghĩa với tính cách ý nghĩa và tới biểu hiện của ý nghĩa; trái lại đó chỉ là sự khác nhau của những đối tượng đang tồn tại, chẳng hạn sự khác nhau giữa các ngôi sao, cây cỏ, suy nghĩ và hành động của con người, ở đấy yếu tố thần linh đóng vai ánh sáng hay là bóng tối.


Trong một vài biểu tượng xuất hiện sau này, quan điểm này chuyển sang một vài mầm mống của chủ nghĩa tượng trưng, song những mầm mống này vẫn không làm thành một điển hình thực sự của tất cả phương thức quan niệm này mà ta chỉ có thể thừa nhận rằng đó là những biểu hiện cá biệt. Chẳng hạn Ormuzđ có một lần nói về con người mình yêu quí là Đơjemsit: “Đơjemsit thần thánh mộ đạo, người con của Vivongan là to lớn trước mắt ta. Tay ta nhận con dao găm của ta có lưỡi dao bằng vàng và cán dao bằng bạc. Sau đó Đơjemsit ở trong ba trăm nơi của thế giới. Anh ta lấy con dao bằng vàng chặt đôi vương quốc của mình và nói: Sapanđômat, hãy vui vẻ lên! Anh ta đọc lời cầu nguyện và nói một lời thiêng liêng với các súc vật trong nhà, với các dã thú và với mọi người. Như vậy, khi anh ta đến thì hạnh phúc và phồn vinh đến với những đất nước này và những đất nước này đầy những gia súc đông đảo, những súc vật ngoài đồng và đầy những người”. Ở đây anh ta có thể giả thiết, con dao cắt đôi mặt đất là một hình tượng nói lên hoạt động nông nghiệp. Nông nghiệp vẫn chưa trở thành một hoạt động thực sự, nhưng nó cũng không phải là một cái gì thuần túy tự nhiên mà là lao động chung của con người dựa trên sự suy nghĩ, trí tuệ, kinh nghiệm và liên quan tới toàn bộ đời sống con người. Kể ra, trong việc miêu tả những cuộc phiêu lưu của Đơjemsit chẳng thấy ở đâu nói cụ thể rằng việc xoắn đôi mặt đất bằng con dao cần phải nói thêm một cách bóng gió về nông nghiệp, cũng như trong việc xoắn đôi mặt đất này không hề nói gì đến chỗ mặt đất vì thế mà trở thành phì nhiêu và mang đến những sản vật. Song bởi vì cái hành động đơn nhất này xem ra còn bao hàm một cái gì hơn là một cuộc phiêu lưu đơn thuần và cày đất đai, cho nên chúng ta cần phải nhìn thấy ở đấy một biểu tượng tượng trưng nhất định.


Người ta cũng có thể nói thế về những biểu tượng cá biệt khác mà chúng ta bắt gặp, nhất là trong giai đoạn sau này của sự phát triển trong việc thờ phụng Mitra([6]):ở đây Mitra được biểu hiện dưới hình dáng một chàng thiếu niên đứng ở trong hang đá tối mờ mờ, giơ cao cái đầu con bò, và tay đâm con dao vào cổ nó; trong lúc đó một con rắn hút máu bò và một con bò cạp gặm bộ phận sinh dục của con bò. Biểu hiện tượng trưng này được giải thích cho đó là một tượng trưng thiên văn học hay là một cái gì khác. Nhưng dưới một hình thức khái quát hơn và sâu sắc hơn, ta có thể quan niệm bò là yếu tố tự nhiên nói chung đã bị con người là yếu tố tinh thần chiến thắng, mặc dầu có thể có những nhận xét bóng gió có tính chất thiên văn học áp dụng ở đấy. Nhưng ta có thể giải thích biểu hiện này, theo nghĩa tinh thần chiến thắng tự nhiên và cái tên gọi Mitra có nghĩa là “người trung gian” đã nói lên điều đó, nhất là điều này là tiêu biểu cho một thời kì sau này khi việc vươn lên khỏi tự nhiên đã trở thành một nhu cầu của các dân tộc.


Song, như chúng ta đã nói, các tượng trưng như vậy chỉ xuất hiện một cách thoáng qua ở trong các thế giới quan của những người Cảnh giáo cổ, chứ không phải là cái nguyên lí chủ yếu xuyên qua mọi phương thức quan niệm của họ. Sự thờ phụng mà kinh Zenđơ Avexta([7]) chủ trương lại càng ít tính chất tượng trưng hơn. Ở đây, chẳng hạn, chúng ta không tìm thấy những điệu vũ tượng trưng để ca ngợi hay bắt chước sự vận hành phức tạp của tinh tú và các hoạt động khác mà ta có thể xem chỉ là những biểu tượng khái quát. Mọi hành vi mà người Cảnh giáo cho là làm thành một nhiệm vụ  tôn giáo đều nhằm mục đích phổ biến thực tế sự trong trắng trong đời sống bên trong của con người cũng như trong tự nhiên bên ngoài, và làm thành sự hiện thực có mục đích cái mục tiêu chung: thực hiện sự thống trị của Ormuzđ ở tất cả mọi người và ở tất cả các đối tượng của tự nhiên; do đó các hành động này không phải nói đến mục tiêu này, trái lại mục tiêu này được thực hiện hoàn toàn trong các hành động ấy.


 


Tính phi nghệ thuật của tôn giáo Zôrôat, và của phương thức miêu tả của nó.


 


Cũng như tất cả quan điểm này dều không có tính chất tượng trưng, cũng vậy chúng đều không có tính chất nghệ thuật thực sự. Kể ra, ta có thể gọi phương thức biểu hiện này là nên thơ, bởi vì các đối tượng riêng biệt của tự nhiên cũng như các suy nghĩ riêng biệt của con người, các hành động và những hành vi đều không đều không phải được xét dưới hình thức trực tiếp của chúng, và do đó, dưới hình thức ngẫu nhiên và có tính chất nôm na, không có một ý nghĩa trực tiếp gì hết. Trái lại, chúng được xét dựa trên bản chất chủ yếu của chúng dưới ánh sáng của Đấng tuyệt đối với tính cách ánh sáng. Và ngược lại, bản chất phổ biến của cái hiện thực cụ thể của tự nhiên và con người được quan niệm không phải theo ý nghĩa tính phổ biến không có sự tồn tại cũng không có hình tượng, mà cái phổ biến và cái đơn nhất nói đến ở đây được biểu hiện và được nêu thành một cái gì thống nhất trực tiếp. Chúng ta có thể xem một quan điểm như vậy là đẹp, rộng rãi và to lớn, nhưng so với những hình tượng ngu xuẩn và vô nghĩa của các ngẫu tượng thì ánh sáng với tính cách một cái gì thuần túy ở trong bản thân nó và phổ biến, hiển nhiên là tương ứng với cái thiện và cái chân.


Song theo quan điểm này thì thơ vẫn hoàn toàn dừng lại ở những biểu tượng chung chung chứ không đạt đến nghệ thuật và tác phẩm nghệ thuật. Bởi vì ở đây cái tốt và yếu tố thần linh không do tự bản thân nó qui định, cũng như hình tượng và hình thức của nội dung đều không nảy sinh từ tinh thần. Trái lại, như chúng ta đã thấy, bản thân những cái tồn tại, tức là mặt trời, sao, cây cỏ thực tế, súc vật, người, lửa đều bị gộp vào quan niệm này với tính cách một diện mạo thích hợp của Đấng tuyệt đối ở trong tính trực tiếp của Người. Sự biểu hiện cảm quan không được thể hiện, không được hình thành và không được sáng tạo bởi các sức mạnh của tinh thần như nghệ thuật dòi hỏi điều đó, trái lại, người ta tìm thấy nó trực tiếp như một biểu hiện thích hợp ở trong sự tồn tại bên ngoài và người ta biểu lộ nó với tính cách như vậy.


Kể ra, mặt khác, cái đơn nhất được biểu tượng ghi lại một cách độc lập đối với hiện thực của nó, như ta thấy điều đó chẳng hạn trong các biểu hiện về các Yzet, các Fecve, về các vị thần của từng người. Song sự sáng tạo nên thơ ở trong tình trạng sự phân chia bắt đầu xuất hiện này là hết sức yếu đuối, bởi vì sự khác nhau vẫn hoàn toàn hình thức, các vị thần, các Yzet, các Fecve đều không có và không được có một hình thức nào đặc thù, mà một phần chỉ được nói lên bởi một nội dung như nhau và một phần có một hình thức trần truồng và trống rỗng của tính chủ thể tiêu biểu cho mỗi cá nhân sống. Hư cấu ở đây không tạo nên cái gì khác có ý nghĩa sâu sắc hơn cũng không tạo nên một hình thức độc lập của một cá tính phong phú hơn ở trong bản thân nó. Và mặc dầu chúng ta còn thấy rằng những sự tồn tại cá biệt hợp nhất lại thành những biểu tượng chung và những giống chung (những biểu hiện và những giống này với tính cách những tồn tại như vậy nhờ biểu tượng mà có được tính chất hiện thực) song người ta vẫn thấy sự hợp nhất tính chất đa dạng thành một thể thống nhất bao quát tất cả (thể thống nhất này được xem là mầm mống và cở sở  của tính đơn nhất cũng thuộc một loại như vậy), đến lượt nó lại chỉ là hoạt động của hư cấu theo một ý nghĩa phiếm định chứ không phải là một tác phẩm của thơ và của kịch theo nghĩa đen của từ này.


Chẳng hạn lửa thiêng của Bâyram([8]) là cái lửa chủ yếu, ở trong các loại nước cũng có thứ nước cao hơn mọi thứ nước khác. Hom được xem là cái cây đầu tiên, trong trắng nhất, vững chắc nhất của mọi cây, là cái cây thủy tổ từ đó tuôn ra các nhựa sống đem đế sự bất tử. Trong số các núi, chúng ta bắt gặp núi Anbocsơ là núi thiêng liêng được xem là mầm mống đầu tiên của tất cả mặt đất, nổi lên rực rỡ ánh sáng, từ ngọn núi này những con người đạo đức có được sự hiểu biết về ánh sáng bước đến, mặt trời, mặt trăng, là dựa vào đấy. Song nói chung cái phổ biến được nhìn ở trong thể thống nhất trực tiếp với tính hiện thực của các sự vật đặc thù và chỉ thỉnh thoảng các biểu tượng nói chung làm thành môi giới cụ thể cảm quan của những hình tượng riêng biệt.


Nói nôm na hơn nữa, sự thờ phụng là nhằm mục đích thể hiện một cách thực tế sự thống trị của Ormuzđ trong tất cả mọi vật. Sự thờ phụng chỉ yêu cầu mỗi đối tượng phải tinh khiết và thậm chí nó không cố gắng dùng các đối tượng này để tạo nên một tác phẩm nghệ thuật có tính sinh động trực tiếp: chẳng hạn các đô vật, các người đánh kiếm… ở Hy Lạp đã thành đối tượng nghệ thuật chỉ nhờ chỗ cơ thể họ phát triển đẹp đẽ.


Về tất cả các mặt này, sự thống nhất đầu tiên của cái thể phổ biến có tính chất tinh thần và hiện thực cảm quan chỉ làm thành cơ sở của yếu tố tượng trưng trong nghệ thuật, chứ bản thân nó chưa phải là tượng trưng thực sự và chưa tạo nên được những tác phẩm nghệ thuật. Để đạt được tới mục đích gần nhất này cần phải có sự vận động nữa, cần phải chuyển từ cái thể thống nhất đầu tiên vừa khảo sát tới sự khu biệt hóa và tới cuộc đấu tranh giữa ý nghĩa với hình tượng của nó.


(Còn tiếp)


Nguồn: Mỹ học. Phan Ngọc dịch. NXB Văn học, 1999.


 


 


 


 







([1]) Lạt-ma: người cầm đầu đạo Phật ở Tây Tạng, được xem là Phật sống.




([2]) Zend-Avesta: Thánh kinh của Cảnh giáo.




([3]) Zoroastre, nhân vật sống vào khoảng thế kỷ VII trước Công nguyên, sáng lập Cảnh giáo.




([4]) Gôrôtman:




([5]) Deva:




([6]) Mitra




([7])  Zend Avesta




([8]) Beyram



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 22.08.2019
Về Roger Garaudy với chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến - Phương Lựu 18.08.2019
Saint John Perse - Roger Garaudy 18.08.2019
Một dẫn luận về chủ nghĩa siêu hiện đại - Phạm Tấn Xuân Cao 17.08.2019
Phương thức huyền thoại trong sáng tác văn học - Phùng Văn Tửu 17.08.2019
Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka - Trương Đăng Dung 17.08.2019
Nguyễn Thành Long và "một cuộc sống khác" - Vương Trí Nhàn 11.08.2019
Nguyễn Công Hoan và thể tiểu thuyết - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Điểm lại quan niệm về hồi ký và các hồi ký đã in trong khoảng 1990-2000 - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Nguyễn Công Hoan và cuốn hồi ký "Đời viết văn của tôi" - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
xem thêm »