tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30963084
Lý luận phê bình văn học
22.04.2011
Nguyễn Thụy Kha
Hai bài của Thụy Kha và Thành Nghị về thơ Phạm Hồ Thu

“CHIỀU TRƯƠNG CHI” CỦA PHẠM HỒ THU


      Những năm còn ở trại cải tạo, ông Nguyễn Hữu Đang chỉ cầu giời khấn phật cho sống đến mãn hạn để được gặp nhạc sĩ Văn Cao – bạn cũ , để được nói với tác giả trường ca “ Trương Chi” một câu rằng : Ai xui ông mà ông có thể viết được một câu ca hay đến tuyệt diệu là vậy? “Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ/ Trầm trầm không gian mới rung thành tơ...”. Quả là giời phật đã cảm kích lòng thành của ông Đang – người đã từng tổ chức toàn bộ khánh tiết lễ tân cho ngày Tuyên ngôn độc lập 2/9/1945 – ông đã được mãn hạn khi còn rất khỏe ở tuổi lục tuần. Và ông đã gặp Văn Cao để hỏi câu hỏi trên cho thỏa lòng mong ước. Nghe câu hỏi, Văn Cao chỉ cười vang, rồi nâng chén rượu ngang cụng với ông Đang.


         Tôi nhớ lại câu chuyện này khi đọc “Chiều Trương Chi” của Phạm Hồ Thu. Nếu tôi có như ông Đang, lại hỏi Phạm Hồ Thu rằng ai xui mà có thể làm ra một tập thơ hay là vậy; chắc như Văn Cao, Phạm Hồ Thu cũng chỉ cười – nụ cười của một Mị Nương – nàng Mị Nương còn sót lại sau khi rất nhiều Trương Chi đã tan ra đất trời, thành khói, thành mây.


         Tôi biết và đọc thơ Phạm Hồ Thu có lẽ đã hơn hai chục năm nay. Vậy mà từ tập thơ đầu “ Quà tặng” đến tập “ Chiều Trương Chi” này, tôi thực sự ngạc nhiên bởi bước tiến quá xa mà Phạm Hồ Thu đã đạt được trong độc hành thi ca lặng lẽ của chị. Ở “ Chiều Trương Chi”, Phạm Hồ Thu đã vào cuộc với tư thế của một người thơ đầy tự tin, đã từng trải để có thể phát triển tới cùng cái tâm thức của một nàng “ Mị Nương đời mới” – một Mị Nương không phân vân tình yêu dành cho chàng đánh cá Trương Chi “ Người thì thậm xấu, hát thì thậm hay”, mà lại chủ động đến với vẻ đẹp tâm hồn, vẻ đẹp nghệ thuật đích thực, muôn thuở bằng một tình yêu vô bờ bến. Nàng Mị Nương ấy yêu tới cùng để nhận ra rằng : “ Tình yêu là một ngôi sao ở phía xa kia”, rằng con người dù có yêu đến cạn kiệt thì cũng chẳng bao giờ chạm tới sự vĩnh cửu ấy. Đó là một vỡ lẽ qua bao đắng cay, chua xót chân thành; một mỉm cười nghèn nghẹn sau khi đã thấm thía bao lần trắc nghiệm. Cái vỡ lẽ này không mới nhưng với người đang yêu thì vẫn như là rất mới, mới đến kinh ngạc, bởi vì trong thâm tâm thao thiết yêu của chị, chị vẫn hướng về một tình yêu tuyệt đối:


 


                      Đã nghe tim lặng trong lời


                     Mái đầu  người bạc, tiếng cười người trong


                     Lời yêu cháy một niềm mong


                    Tìm về cái thuở người không phụ người...


 


        Trong tưởng tượng không đổi thay của mình từ thời thiếu nữ, Phạm Hồ Thu đã tạo nên trước mình một hình ảnh người tình thật lý tưởng. Đó là “ Người đàn ông lịch lãm và dũng cảm”. Đó là người đàn ông của ‘ Cái phút giây đầu tiên nguyên thủy/ Hai ta nhìn nhau, hôn nhau và không nói câu gì’. Đó là người tình khiến nàng phải thốt lên: “ Em bám vào tình yêu như rễ cây bám đất/ Bám chặt đến nỗi trái tim em bật khóc... Anh đâu rồi – Tình nhân! “. Nhưng giá như đó chỉ là một người tình Phạm Hồ Thu tưởng tượng ra mà không bao giờ gặp thì điều ấy sẽ trọn vẹn biết bao. Song sự đời đã không cho người nữ sĩ này cứ mộng mị mãi trong khao khát ấy. Bài “ Gửi người tình hai lần phản bội” đã đưa tâm tưởng của nàng “Mị Nương đời mới” này tới mức phải biết chấp nhận và tha thứ cả sự bạc  tình thì mới thực sự là biết yêu ở thời đại này: “ Thật ra em chẳng trách anh nhiều/ Nỗi buồn mới là nỗi buồn xưa đã cũ/ Vết thương ấy người tình xưa đã chém/ Thật ra em chẳng trách ai nhiều...”


         Và khi đã chấp nhận thì lại đắm say, lại mụ mị hồn nhiên như thuở nào: “ Khi anh đến trái tim nguyên vẹn lại/ Rồi ngỡ ngàng những nhịp đập đầu tiên/ Em quên hết đớn đau, lại dại khờ, mềm yếu/ Cùng anh về tìm lại tuổi đôi mươi”. Phạm Hồ Thu cứ vật vã đi tìm và chấp nhận cái tình yêu đích thực mà mong manh ấy để chợt nhận ra nếu không có tình yêu thì con người đâu còn biết tựa vào đâu mà tồn tại, thì làm sao con người có thể thổi hồn vào những hòn đá vô tri kia đểt thành tác phẩm nghệ thuật: “ Nghệ nhân nào đã tạc nên vẻ đẹp của đôi tình nhân/ Tôi tin đó là người đàn ông biết yêu và biết trọng vẻ đẹp đích thực của tình yêu/ Có thể anh đã yêu người đàn bà nào đó/ Có thể một lần vì sự xổng lồng mà anh làm mất/ Tình nhân anh đi mãi mãi chẳng quay về/ Có thể nước mắt anh đã chảy/ Tràn vào nét chạm này, tràn trên đá vô tri...”


          Chính vì thế mà góc nhìn tình yêu ở Phạm Hồ Thu đã thật khám phá, thật mới mẻ. Trong bài “ Nước mắt đàn bà” chị đã viết: “ Tôi là người đàn bà đã được chồng nàng yêu/ đã nghe đủ lời nồng say, thề thốt/... Nàng có biết đâu tôi cũng giấu đi một sự thật phũ phàng/ Người đàn ông yêu tôi lại đi yêu một người đàn bà khác...” Và góc nhìn chênh vênh ấy đã khiến cho người thiếu phụ trong thơ Phạm Hồ Thu vẫn kiêu hãnh mà vẫn đủ dịu dàng  chấp nhận cái tình yêu thực tại chẳng có gì là tuyệt đối ấy. Và chị khắc họa thành công cái bí ẩn của những tâm hồn đàn bà: “ Thiếu phụ nghiêng trước tôi nụ cười thật xinh/ Tôi nghiêng về nàng những lời dịu dàng có thật/ Trong câu chuyện của chúng tôi có những người đàn ông thật tuyệt/ Những người đàn ông chỉ yêu một người đàn bà duy nhất trong đời. ( Nước mắt đàn bà ).


 


        Với sự rộng lượng nhân hậu ấy, Phạm Hồ Thu đã trắc ẩn biết bao với sự tha thứ thật dịu dàng . Chị viết cho “ Người đàn ông ngã ngựa” : “ Thôi đứng dậy trở về với em – người tình / Cuộc đua không phân thắng bại/ Trở về với em người tình/ Nguyên vẹn trong em ảnh hình người kị binh kiêu hãnh...”


      Chính vì sự dám sống vượt trên những sự thật phũ phàng ấy, tình yêu trong thơ Phạm Hồ Thu vụt lớn sừng sững một tầm cao, dù rằng chị đã từng muốn “ Cúi rạp mình trước cỏ/ Để gần  hơn thế giới con người”. Bằng tình yêu vô biên của mình, chị lại khát khao trong “ Những ngày buồn như gái quá”, trong “ khu vườn yên tĩnh” để “ học cách im lặng của lá xanh” và tin rằng mình vẫn nghe được “ tiếng con người”


        Khi nhận ra tình yêu vĩnh cửu “ Chỉ là cổ tích”, người đàn bà trong thơ Phạm Hồ Thu vì thế mà thêm tự tin mà biết “ chia sẻ” với sự phản bội của tình yêu – bởi vì dù sao ở đấy vẫn là chuyện tình yêu, nơi còn đáng cho ta tin và sống hơn trước một nhân loại đang tao loạn và đâu đó vẫn đầy rẫy tiếng bom rơi đạn nổ. Chị tin vì tình yêu những đứa con được sinh ra và trở thành nơi nương tựa ngàn đời cho các thế hệ người lớn, trong đó có thế hệ của chị - một thế hệ chỉ biết dâng hiến, hi sinh, dám sống và biết sống – một thế hệ không cho phép chết già bởi chiến tranh và mọi di chứng hậu chiến tranh.


      Đọc thơ Phạm Hồ Thu ta thấy nàng “ Mị Nương đời mới” nhờ những ý tưởng khác lạ về tình yêu và con người mà có một niềm tin về một người đồng hành vô hình đang cùng mình đi tìm tới đích của sự hoàn mĩ. Nhờ ý tưởng ấy, Phạm Hồ Thu đã đạt đến nghệ thuật thơ tưởng chừng rất khó khăn bằng lòng thành thực vô biên và tình yêu trong sáng của mình. Chị đã đạt tới những câu thơ xuất thần của riêng chị:


 


                   Thôi đành nhìn mây mà gửi mùa thu


                  Nhìn hoa nở mà gọi mùa xuân đến


 


Hay:


 


                  Xuân thắm mùa đi lăng lắc


                 Đã thu năm tháng hai ta


 


Hay:


 


                 Tình yêu biết trốn vào đâu


                 Đành đem ra ngả thương – đau mà chờ...


 


Văn Cao đã cười để trả lời Nguyễn Hữu Đang vì sao ông viết “ Trương Chi”. Phạm Hồ Thu cũng có thể cười để mọi người nhập vào “ Chiều Trương Chi” của chị với thời gian phập phồng mùi hương thanh khiết mà nhận về “ Tự tình yêu là nước mắt – tự tình yêu là khúc ca “


                            Nhà thơ – Nhạc sĩ  NGUYỄN THỤY KHA


    ( Viết tháng 5 năm 2005. Bài đã  đăng trên báo Văn nghệ Trẻ )


 


 


Đọc Chiều Trương Chi của Phạm Hồ Thu


Bài của Lê Thành Nghị 
Thời kỳ chiến tranh , lúc nhà thơ Văn Thảo Nguyên còn công tác tại Ban thơ Tạp chí Văn nghệ Quân đội , mỗi đêm Hà Nội mưa lớn chúng tôi lại khoác áo bạt lính đi dọc các con phố Phan Đình Phùng , Quán Thánh , Lý Nam Đế … Đi trong mưa ào ào ạt , mát lạnh , vừa đi vừa trò chuyện như thế thật thú vị . Một lần trong những câu chuyện không đầu không cuối , Văn Thảo Nguyên kể về một người con gái , phóng viên báo Nhân dân vừa xung phong vào chiến trường Trung Bộ . Chị có những câu thơ :

Tuổi hai mươi khoác ba lô ra trận
Âu yêm hôn dấu chân anh để lại
Khóc trên những dấu chân trần người chiến sỹ đi qua

Sau này tôi biết những câu thơ này là của Phạm Hồ Thu , người nữ phóng viên mặt trận nọ , và không hiểu sao cứ mỗi lần gặp tên chị trên mặt báo , cũng như gần đây đọc tập thơ mới Chiều Trương Chi của chị , những đêm mưa ào ạt trên những con phố lớn của Hà Nội , lại hiện về trong ký ức

Rất nhiều người cho rằng , người ta sống, ngoài rất nhiều điều thiết thực , có một “góc” hết sức cần thiết đối với con người , đó là chất lãng mạn trong tâm hồn . Bởi vì không có nó , con người sẽ cỗi cằn đi biết bao . Nhưng nó phải là sự lãng mạn đích thực , là phẩm chất đặc biệt của tâm hồn , chứ không phải là thứ vay mượn , chắp vá hoặc điệu đàng vô lối . Một “chút” lãng mạn như thế , có thể chỉ là đốm lửa nhỏ , cháy âm ỉ đâu đó thật sâu trong tiềm thức con người , chợt bùng phát ở những khoảnh khắc cần thiết làm nên hành vi, ứng xử đẹp của mỗi người . Với Phạm Hồ Thu , chẳng phải ký ức “tuổi hai mươi khoác ba lô ra trận” là “dấu chân anh để lại” … như một kỷ niệm lãng mạn những ngày bom đạn . Có biết bao điều để nhớ lúc “ra đi một sáng thu thầm” , vậy mà “dấu chân anh” … đã như một điều thiêng liêng giục chị ra mặt trận . Câu thơ của Phạm Hồ Thu chỉ nói về kỷ niệm của riêng mình , vậy mà làm ta nhớ đến những câu thơ “chính luận” của Thanh Thảo :

Chúng tôi đi không tiếc đời mình
( Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc )
Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi tổ quốc

Người nữ phóng viên mặt trận ấy , trở về bình yên sau chiến tranh . Đã có một chút lắng lại khi thời gian đã đi qua , một chút “nhìn lại” khi không gian đã đổi khác , một chút từng trải khi “không gặp người đàn ông trong khúc ru mẹ ru ta thuở trước “:

Thôi đành nhìn mây mà gửi mùa thu
Nhìn hoa nở mà gọi mùa xuân đến
Chúng ta đã đi qua chiến tranh
Có hay đâu tuổi trẻ đã qua rồi

“ Những mùa đông tơi bời lá rụng” là ấn tượng được “ký hiệu hoá” để diễn đạt cảm thức về thời gian , không gian trước những chuyển đổi trong lòng người . Nó diễn đạt cái “trôi” , cái “động” , cái không dừng lại , không lấp đầy của khát vọng sống , khát vọng yêu :

Đã nghe thao thiết mùa xuân gọi
Và một tình em thao thiết anh

Trong thơ của Phạm Hồ Thu, vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên bao giờ cũng cảm nhận qua trạng thái của tâm hồn . Màu tím hình như “tím biếc” hơn , cát mịn hình như “mịn màng” hơn

Hoa sim nở một triền tím biếc
Những bãi cát mịn màng những cát

Đi qua những trạng thái của tâm hồn mọi thứ bỗng thành một “thực tại khác” , nó không chỉ là nơi dừng lại của chức năng “miêu tả” , mà là điểm đến của khả năng “biểu hiện” của người làm thơ . Thiếu đi một tâm hồn nhạy cảm , không thể có những câu thơ diễn đạt tinh tế “hồn vía” của đời sống . Có thể viết hàng trăm bài đúng vần vè , nhưng viết được vài câu cho có “hồn vía” thì chỉ có những ngòi bút có khả năng biểu hiện của một tâm hồn nghệ sỹ :

Xuân thắm – mùa đi lăng lắc
Đã thu năm tháng hai ta
Sẽ mai những mùa thu nữa
Có còn sắc trắng thu xa
(Sen Thu)

“Khu vườn yên tĩnh” , một bài thơ trong tập , là hình ảnh mang tính biểu tượng . Hình như dòng sông ào ạt nào rồi cũng có ngày phẳng lặng thu mình dưới chân núi . Tâm hồn con người cũng có thể như vậy , đôi khi là “khu vườn yên tĩnh” , “chỉ còn lại những vì sao khuya khoắt” sau những năm tháng “như chưa hề qua đắng cay , tan nát “ . Nhưng cái tĩnh kia chỉ là cái tạm thời , là sự thoáng qua :

Một ngày bỗng thật buồn
Một ngày bỗng xôn xao cây lá

Có phải đó chính là biểu hiện của sự sống , của sự không bình yên trong tâm hồn , sự tự thức tỉnh , tự biến đổi , khả năng cảm nhận và biết đón nhận … của người làm thơ . Những gì đã “trôi” , đã “chuyển” , đã “tan” trong hiện thực , trong ký ức chính là cái “động” thường hằng của đời sống, của tình cảm bên cạnh cái “tĩnh” thường biến của tâm hồn người .

Tôi không chú tâm dừng lại những khía cạnh nội dung mà tập thơ muốn nhắn gửi . Có thể đó là những khát vọng về tình yêu , hạnh phúc , sự từng trải , sự sẵn sàng tha thứ , những quan niệm về nhân sinh và đạo đức … mà tác giả bộc lộ chân thành qua tập thơ . Những điều đó là căn cứ xác định để đi tìm con người tác giả như một chủ thể thẩm mỹ , nhưng tất cả những điều đó chẳng qua cũng chỉ là biểu hiện chuyển động bề mặt của “sóng ở đáy sông” … mà không thể không liên tưởng đến mỗi khi tiếp xúc với tác phẩm văn học , đặc biệt là thơ trữ tình vốn được xem là “ký diệu bậc nhất của tâm hồn” . Ở góc độ bài viết nhỏ này , tôi chỉ nói về cái điều theo tôi là rất hệ trọng của thể loại thơ trữ tình . Đó là sự lãng mạn cần thiết của ngòi bút . Chính Phạm Hồ Thu cũng từng nói trong “Nhật ký người lãng mạn” rằng đó “là cách duy nhất để tồn tại” mặc dù chị biết trong nhìn nhận của người đời không phải ai cũng hiểu , cũng thông cảm , nhất là ở thời điểm tính thiết thực của đời sống xô át đi tất cả mọi điều “ Anh bảo em là người lãng mạn cuối cùng sót lại- Chẳng biết đó là lời khen hay chê” . Mặc cho đó là sự thật , chị vẫn quả quyết : “Vâng , có thể em là người duy nhất. Nếu có hai hay ba cuộc đời, em vẫn chỉ là người đàn bà anh gặp hôm qua “.

Như thế , Chiều Trương Chi trước hết là một lời bộc lộ chân thành của tác giả . Nó là khả năng “tự biểu hiện” của một tâm hồn nhạy cảm trước đời sống . Thơ Việt Nam trước đây vẫn rất thành công trong miêu tả hiện thực , hoặc quá chú ý việc miêu tả hiện thực, vì thế có phần sao nhãng việc tự biểu hiện của chủ thể trữ tình . Trong chừng mực nào đó . Chiều Trương Chi của Phạm Hồ Thu không còn sa vào “miêu tả” , mà thiên về sự tự biểu hiện , vì vậy tập thơ có được vẻ đẹp bình dị , dễ đồng cảm của người đọc


Đánh máy  từ Văn Nghệ Quân Đội số 624/2005


LTN


Bản do nhà thơ Phạm Hồ Thu gửi www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà văn Triệu Xuân với tác phẩm Sống & Viết - Hương Thanh 18.01.2020
Lưu Quang Vũ và một mảng đời, mảng thơ thường bị quên lãng - Vương Trí Nhàn 13.01.2020
Ký ức ám ảnh - Hải Đường 30.12.2019
Nguyễn Hải yến, một cây bút đầy sức ám ảnh - Nguyễn Khắc Phê 29.12.2019
Lệ rưng rưng cõi truyện ngắn Nguyễn Hải Yến - Nguyễn Thị Minh Thái 29.12.2019
“Kiến, chuột và ruồi” của Nguyễn Quang Lập trong dòng chảy của văn xuôi đương đại Việt Nam - Lã Nguyên 25.12.2019
“Khổ vì trí tuệ” hay là bi kịch Hamlet của W. Shakespeare - Lã Nguyên 25.12.2019
Du Tử Lê, ngôn ngữ tình yêu (tiếp & hết) - Nguyễn Đức Tùng 23.12.2019
Du Tử Lê, ngôn ngữ tình yêu (1) - Nguyễn Đức Tùng 23.12.2019
Tiểu thuyết Sóng lừng (VN. MAFIA) qua Từ điển và một số bài nghiên cứu phê bình - Nhiều tác giả 05.12.2019
xem thêm »