tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 25724445
Lý luận phê bình văn học
28.02.2011
Triệu Xuân
Trò chuyện với Thúy Kiều: bài thơ hay nhất của Lý Phương Liên

Khoảng sau Tết Nguyên đán 1970, thơ Lý Phương Liên xuất hiện trên báo ở miền Bắc và tức khắc thu hút sự chú ý của dư luận văn học. Người ta nói nhiều, ca ngợi nhiều về chị bởi trước hết thơ chị mới lạ, hay. Chị mồ côi cả cha lẫn mẹ. Cha chị là công nhân, làm ở nhà máy điện Bờ Hồ, ông mất vì bệnh. Mẹ chị chết trong một trận bom khi đang trên đò qua sông Hồng. Chị học hết lớp 8 (hệ phổ thông 10 năm) phải bỏ học đi làm công nhân, kế nghiệp cha, để nuôi các em. Thưở ấy, là công nhân mà lại biết làm thơ, thơ lại hay thì được ca ngợi tót vời. Tôi nhớ mãi ấn tượng đầy khâm phục của sinh viên chúng tôi khi đang học năm thứ hai Khoa Ngữ Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội- được đọc nguyên một trang thơ Lý Phương Liên, in trên báo Nhân dân, ngày 20-8-1970, và nhiều tờ báo khác. Thời ấy, văn, thơ mà được in trên Nhân dân là khủng khiếp lắm! Lý Phương Liên trở thành sự kiện trong làng thơ: Nổi tiếng ngay từ những bài thơ đầu. Hồn thơ Lý Phương Liên trong trẻo, hồn nhiên, lối thể hiện mang âm hưởng thơ ca dân gian, truyền thống nhưng khá hiện đại và rất thực. Em mơ có một phiên tòa, Ca bình minh, Chim bằng… là tấm lòng của một thiếu nữ giữa thời đạn bom khói lửa vẫn tràn đầy lòng nhân ái, cháy bỏng tình yêu và dồi dào nghị lực. Bài Chim bằng là chỉ dấu sáng chói của một tâm hồn thơ yêu tự do, khát khao tự do, dám phủ nhận những lồng son tù túng, đồng thời cũng chứng tỏ lối thơ cách tân khá sớm của tác giả. Thế rồi bài thơ dài: Trò chuyện với Thúy Kiều (Nghĩ về Thúy Kiều) được in trên báo Văn nghệ. Ngay lập tức, chị bị phê phán. Thậm chí, có kẻ cho rằng Trò chuyện với Thúy Kiều là của một tên Nhân văn Giai phẩm đã đưa thơ của hắn cho chị in dưới danh chị để… Thế là “xong phim”!


Tài thơ của Lý Phương Liên đã không gặp may. Nhân duyên của chị chỉ đến thế là hết ư? Rất nhiều người xót xa, tiếc thay cho chị, tiếc cho nền văn học nước nhà. Tài năng mà không gặp môi trường, thủy thổ lành thì làm sao đơm hoa kết trái!


Tôi cho rằng Trò chuyện với Thúy Kiều là một trong những bài thơ hay nhất của cuộc đời thơ lý Phương Liên, nó là đỉnh của chị. Bài thơ dài xuất hiện trên Văn nghệ, lập tức gây dư luận khen chê sôi nổi. Bài khen thì không thấy báo nào đăng, chỉ toàn những lời chê. Đất nước đang dốc toàn lực cho cuộc chiến tranh: Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào. Cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 không thu được kết quả như mong muốn duy ý chí ban đầu, nay đang tổ chức đợt hai. Chiến dịch thứ hai này càng tổn thất nặng nề hơn. Miền Bắc, hơn lúc nào hết, càng phải: “Tất cả cho tiền tiến, tất cả cho chiến thắng” … “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn”! Văn học nghệ thuật, trong đó có thơ, cũng phải là một mặt trận, là người lính xung kích để giành chiến thắng, giành độc lập tự do. Thế mà Lý Phương Liên lại đau đáu tư duy về thân phận nàng Kiều, lại trắc ẩn với hàng vạn nàng Kiều hiện đại, không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn cõi nhân gian. Lý Phương Liên viết: Trái đất chúng mình cho đến hôm nay/ Vẫn còn những cuộc đời như nàng chìm nổi/ Thời gian còn nửa ngày là đêm tối/ Còn đồng tiền đổi trắng thay đen/ Còn sắc tài bạc mệnh với hờn ghen/ Còn những Mã Giám Sinh, Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến/ Còn những đất đai triền miên chinh chiến/ Thúy Kiều ơi, nàng sống tháng năm dài… Chỉ riêng với đoạn thơ vừa dẫn, Lý Phương liên đã đủ bị phê bình kịch liệt, nếu không muốn nói đến những kiểu cách ứng xử tinh vi… bất thành văn thời đó! Chủ nghĩa cộng sản là mùa Xuân của nhân loại! Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đã được xây dựng, cho đến khi bài thơ này được viết, là hơn 15 năm. Thế mà Lý Phương Liên dám hạ bút kêu than cho số phận người phụ nữ hiện đại, dám viết rằng thời của chị vẫn còn rất nhiều nàng Kiều, vẫn còn những Mã Giám Sinh, Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến, đồng tiền vẫn đổi trắng thay đen tác yêu tác quái! Bị đánh là phải!


Nguyễn Du vĩ đại ở chỗ: ngay từ đầu thế kỷ 19, ông đã có tác phẩm tuyệt hay viết về thân phận người đàn bà của chung toàn nhân loại. Lý Phương Liên đồng cảm một cách sâu sắc với nàng Kiều, tức là với thi hào Nguyễn Du, đã cất lên tiếng kêu xé lòng của những nàng Kiều hiện đại, ở một khía cạnh khác của thân phận, một góc khác của niềm khát khao về lòng nhân và hạnh phúc, một nẻo khác hướng về tương lai...


Đặc biệt cô gái trẻ 23 tuổi (ta) đã hồn nhiên viết ra những dòng thơ sâu sắc về tư  duy, lấp lánh tư tưởng nhân bản về định mệnh, về nghị lực mà người phụ nữ quyết vượt lên số phận của con người. Những người phụ nữ Việt Nam thời ấy đã làm được như rứa:


Sông Hồng đó, nọ Hồ Tây


Chết trong nước cuốn có ngày nổi lên


Kiểu gì chết cũng thấp hèn


Kiểu gì chết cũng làm hoen ố đời


Trên chết chóc muốn dập vùi


Trên đau thương mới là người, người ơi…


Quyết không chịu chết, không đầu hàng số phận, không chào thua định mệnh. Tuổi hai mươi không tin vào định mệnh/ Định mệnh là đối thủ tiến công. Lý Phương Liên đã làm được như lời mẹ dặn, chị đã hãnh diện ca ngợi người phụ nữ trong bài thơ này: Không có con đường nào toàn bóng mát và hoa/ Không có vùng trời nào toàn chim hót/ Không có cây khế vàng trong cổ tích/ Kho báu cũng không, dù có mật khẩu vừng…/ Em đón nhận đời em sau một thoáng hãi hùng/ Chôn mẹ, nuôi đàn em thơ dại/ An phận ư? Mơ hồ sợ hãi/ Sống vẫn là lời mẹ dặn thiêng liêng…


Phải sống! Đơn giản là chết thì chết kiểu gì cũng là hết, là hèn. Phải sống! Bởi thế cả dân tộc Việt Nam đã vùng đứng lên: Những ngày sáu chín, bẩy mươi/ Chẳng có nơi đâu hơn tuyệt diệu con người/ Vai gánh nặng cuộc chiến tranh hủy diệt/ Mỗi người dân đều nhận phần mất mát/ Chia đều nhau bom đạn với cơm ăn.


Thơ hay rứa, thật rứa, tự hào rứa mà bị đánh! Tệ hết sức! Người ta bảo Lý Phương Liên gieo mầm bi quan yếm thế, làm nản chí lòng người trai trẻ đang ra trận! Thật là ác tâm ác khẩu. Hãy đọc những dòng thơ: Tôi cứ đi chuyên cần bền bỉ/ Trông xa về phía trời hồng/ Thúy Kiều ơi, như người sang sông/ Tôi đưa đò cập bến (…)/ Đất nước chiến tranh nhân dân còn cơ cực/ Khi cái chết vãi từ trên phản lực/ Bom chùm, bom lửa, bom bi… Đời còn nhiều gian khó phải qua… / Thấy hết gian truân để mà cười, mà sống… Đường ra biển có thể dài năm tháng/ Mất mát nhiều hơn, gian khổ cũng nhiều hơn/ Nhưng một điều chắc chắn phi thường/ Chúng tôi sẽ lên bờ vào một ngày nắng đẹp…


Trong bản in đầu, tôi còn nhớ có hai câu:


Tuổi hai mươi không tin vào định mệnh


Định mệnh là đối thủ tiến công.


Hai câu ấy sau này không còn nữa, nó có vẻ trực cảm, trực nghĩa quá. Bài thơ của chị là ánh phản tâm hồn đa cảm nhưng khỏe khoắn giàu nghị lực.


Lý Phương Liên làm thơ vào thời của những khẩu hiệu, những phong trào, những hành khúc, chỉ được nói đến chiến thắng, ca ngợi sự hy sinh vì chiến thắng, không chấp nhận nói về nỗi đau buồn, mất mát, về số phận, về định mệnh hay là những thứ tư tưởng dễ khiến người ta ý thức về cá nhân, về quyền của cá thể… Chị biết điều đó nhưng chị lại rất dũng cảm – dũng cảm chứ không phải khờ, phải liều-, cứ nói những gì tâm hồn mình, trí tuệ mình thôi thúc! Đơn giản là không gì có thể kiểm soát, lèo lái được; không ai có thể trói buộc được tình cảm và trí tuệ con người:


Lẽ nào em buộc cánh anh


Buộc cánh anh


Buộc cánh anh cũng chẳng thành tình yêu!


Chị là chim bằng, chị phải có và cần trời biếc! Chị khao khát tự do và lòng nhân. Thế mà…


Áp lực đến từ mọi phía… Lý Phương Liên, cô gái đang độ tuổi xuân sung sức đã phải buông lời nguyền: Phải sống cho ra sống, nhưng không làm thơ nữa! Thế nhưng thơ của chị vẫn được rất nhiều người thuộc, không ít anh lính trẻ ra trận mang trong ba lô tờ báo in thơ chị, cuốn sổ nhật ký chép thơ chị, mang trong tim tình cảm mà chị truyền vào hồn chữ hồn thơ…


Triệu Xuân


Rút từ tác phẩm: Triệu Xuân sống và viết, 2 tập, 800 trang. Sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 


Toàn văn bài Trò chuyện với Thúy Kiều


 


1


Hai trăm năm và chảy dài vô hạn


Thúy Kiều ơi, nàng sống tháng năm dài


Trái đất chúng mình cho đến hôm nay


Vẫn còn những cuộc đời như nàng chìm nổi


Thời gian còn nửa ngày là đêm tối


Còn đồng tiền đổi trắng thay đen


Còn sắc tài bạc mệnh với hờn ghen


Còn những Mã Giám Sinh, Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến


Còn những đất đai triền miên chinh chiến


Thúy Kiều ơi, nàng sống tháng năm dài…


 


Cho cả những nơi đã sống thật cuộc đời


Bóng dáng nàng cẫn còn trong tiếng hát


Tuổi nhỏ lớn lên rồi biết


Võng bà đưa, nôi mẹ đẩy… câu ru


Thúy Kiều ơi, quá khứ thật vô tư


Nó tương phản bình minh và đêm tối


Nó đơn giản hơn mọi lời giả dối


Thúy Kiều ơi, nàng sống tháng năm dài


Thiên tài của chúng ta đã ôm gọn cuộc đời


Số phận của nhân dân và đất nước


Ai chẳng đã một lần nghe dịu ngọt


Bốn khúc đàn Kiều gẩy từng trang


Bốn tiếng đàn chuyển động không gian


Bốn tiếng đàn lắng thấm vào tâm tưởng


Ôi con người có dễ gì tưởng tượng


Con người khốn khổ thế này chăng?


Thúy Kiều ơi, trong cả tiếng đàn thầm


Tôi nghe nàng như Kỳ, Nha hội ngộ


Bốn tiếng đàn khi mờ, khi tỏ


Khi yêu đương duyên lứa hẹn hò


Khi lầu xanh âm chát, cung chua


Khi tái hợp cung buồn, âm gẫy


Năm ngón tay ròng ròng máu chảy


Ruột gan vò xé ruột gan


Người đau đau cả tiếng đàn


Người đau trong sách nỗi đau dặm dài


Thúy Kiều ơi, Thúy Kiều ơi


Bao giờ người mới thoát đời lênh đênh?


Thời gian đọng lại buồn tênh


Mỗi trang Kiều một mông mênh cõi người…


Thắp hương lạy hỏi thiên tài


Cuộc đời Kiều phải số trời đó chăng?


Nguyễn Du người đã yên nằm


Mà lời định mệnh vẫn thầm nhắc ai…


 


2


Mẹ em bảo


“Có một đấng thiêng đứng trên đầu trái đất


Đôi mắt nhìn khắp cả xa sau…”


Mẹ em tin như thế từ lâu


Và cầu mong số phận đừng phụ bạc


Niềm tin ấy chẳng bao giờ đổi khác


Chết chồng lủi thủi nuôi con


Mẹ không thể làm gì cho đời mẹ vui hơn


Số phận buộc mẹ vào cơ cực


Những lúc mẹ thầm thào với con về hạnh phúc


Cũng là khi lòng mẹ nguyện cầu


Ai đưa mẹ tới mai sau


Thiên đường của một hành tinh khác


Con kinh hoàng nhận nỗi đau mẹ chết


Cuộc đời này có số phận thật chăng?


Cuộc đời này có số phận thật chăng?


từ mộ huyệt cõi âm vọng đáp


Hãy sống đi rồi biết


Vời vợi cao xanh chỉ thấy mây cười


Mỗi người chúng ta đều có riêng một cửa vào đời


Mẹ biết chọn cửa nào để sinh con sung sướng


Ôi thiên cơ sau cửa đóng


Có đấng nào mách bảo mẹ đâu


Đời con còn đó mai sau


Sống là điều mẹ nguyện cầu cho con


Này cửa thiếp vàng sơn son


Này cửa xanh rờn mây biếc


Này cửa nâu đồng ánh bạc…


Cửa nào cũng khóa chốt, cài then


Hỡi oan hồn định mệnh Đạm Tiên


Hỡi réo rắt tiếng đàn Kiều trầm bổng


Xin đừng dọa người yêu cuộc sống


Em bước lên gõ cửa cuộc đời


Đời của tôi ơi


Em mở vòng tay đón


Hỡi trời cao đất rộng


Đời bao nhiêu sắc mầu, bao cung bậc âm thanh


Sắc mầu nào chẳng vẽ nên tranh


Cung bực nào chẳng thành thơ, thành nhạc


Đại dương nào ẩn trong màu nước biếc


Chẳng sóng ngầm, mắt bão với phong ba


Không có con đường nào toàn bóng mát và hoa


Không có vùng trời nào toàn chim hót


Không có cây khế vàng trong cổ tích


Kho báu cũng không, dù có mật khẩu vừng…


Em đón nhận đời em sau một thoáng hãi hùng


Chôn mẹ, nuôi đàn em thơ dại


An phận ư? Mơ hồ sợ hãi


Sống vẫn là lời mẹ dặn thiêng liêng…


 


3


Thúy Kiều ơi, nàng nặng nợ Đạm Tiên


Trói mình trong định mệnh


Bẩy nổi ba chìm, lầu xanh am lạnh


Sắc tài năm tháng tàn phai


Tiền Đường tháo cởi nợ đời


Nợ đời không dứt được


Phật không cho nàng chết


Nàng phải tái hồi Kim Trọng ở trong thơ


Trói mình giấc chết như hoa


Trong đêm giấc chất dần dà như say


Sông Hồng đó, nọ Hồ Tây


Chết trong nước cuốn có ngày nổi lên


Kiểu gì chết cũng thấp hèn


Kiểu gì chết cũng làm hoen ố đời


Trên chết chóc muốn dập vùi


Trên đau thương mới là người, người ơi…


Tôi sẽ sống lâu, tôi sẽ sống dài


Tôi tuổi hai mươi, không nơi nào có được


Tôi sinh ra giữa cơn lốc xoáy tròn đất nước


Một ngàn chín trăm năm mươi


Cả dân tộc đổ xuống đầu giặc Pháp


Cơn phẫn nộ muốn làm người


Gian nan chỉ thấy môi cười


Bao máu đỏ nhuộm nên cờ chiến thắng


Hai mươi năm không ai ngồi đếm ngày đếm tháng


Những ngày sáu chín, bẩy mươi


Chẳng có nơi đâu hơn tuyệt diệu con người


Vai gánh nặng cuộc chiến tranh hủy diệt


Mỗi người dân đều nhận phần mất mát


Chia đều nhau bom đạn với cơm ăn


Khó chẳng riêng ai nên khó chẳng một mình


Chung số phận với nhân dân mà chiến đấu


Thúy Kiều ơi, thời tôi sống biết bao người đổ máu


Lúc tuổi hai mươi như nàng


Ai tuổi hai mươi chẳng kháo khát một môi hôn


Ai tuổi hai mươi không hẹn hò, ghen nhớ


Ai tuổi hai mươi chẳng ước ao làm chồng làm vợ


Vậy mà sống mãi tuổi hai mươi…


Em tuổi hai mươi như tất cả mọi người


Chọn số phận ở thời mình đang sống…


Muốn hỏi Kiều, hồn Đạm Tiên có hiện về báo mộng


Thời những trang Kiều bị tan nát đạn bom


Để một mai ai biết Kiều buồn


Đàn nàng gẩy không còn ai nghe nữa


Định mệnh đây, chúng tôi bay qua lửa


Cứu sống Kiều từng trang


 


4


Thúy Kiều ơi, sao chưa hết bàng hoàng


Đàn tan hợp vẫn âm chìm, âm lạnh


Sao cứ mãi oán than thiên định


Sở Khanh, ưng khuyển bầy đàn


Thời nào chẳng có ngay gian


Nhân định cần chi lời khóc thảm


Hai vai tôi kéo lặc lè đồ đạc nặng


Cũng như nàng, có thể nặng hơn


Có khác chăng, nàng chẳng một đoái thương


Xe đồ tôi ai qua đường cũng đẩy


Những mái tóc bạc phơ hay đỏ cháy


Những nét cười duyên dáng cũng xăn tay


Ai cũng nhận xe đồ tôi chở nặng hôm nay


Là chính xe đồ mình chở nặng


Xung quanh tôi không một ngày buồn vắng


Không một đêm cay đắng tủi hờn


Không một ai có thể giầu hơn


Không ruột thịt mà đầy nhà ruột thịt


Không họ hàng mà xum vầy thân thiết


Không mẹ cha mà đầy đủ mẹ cha


Tôi vượt lên mình thực chẳng êm ru


Nhưng đứng lại thì chưa ngày tôi nghỉ


Tôi cứ đi chuyên cần bền bỉ


Trông xa về phía trời hồng


Thúy Kiều ơi, như người sang sông


Tôi đưa đò cập bến


Năm chị em côi nghỉ dăm ngày trên bến


Sắp đến đoạn đường ra biển dài lâu


Cuộc đời mình chưa lặng gió được đâu


Đất nước chiến tranh nhân dân còn cơ cực


Khi cái chết vãi từ trên phản lực


Bom chùm, bom lửa, bom bi…


Đời còn nhiều gian khó phải qua


Để đến được mùa hoa sai, quả trĩu


Cơ thể của nhân dân cơ hàn đang phải chịu


Số phận mình là số phận của nhân dân


Soi gương đời nhìn thấy hết gian truân


Thấy hết gian truân để mà cười, mà sống…


Đường ra biển có thể dài năm tháng


Mất mát nhiều hơn, gian khổ cũng nhiều hơn


Nhưng một điều chắc chắn phi thường


Chúng tôi sẽ lên bờ vào một ngày nắng đẹp…


Bạn có nghe tiếng gõ cửa cuộc đời mạnh gấp


Vọng từ xa đang nối đến gần?


Là thi nhân xin chớ vội gieo vần


Dù hai chữ viết hoa Định Mệnh


Là nhạc sỹ tài hoa chớ vội ghi lên phím


Tiếng nhân định âm vang…


Thúy Kiều ơi, tôi nghe rõ tiếng đàn


Nàng đang gẩy khúc nào mà bổng trầm réo rắt


Tiếng gõ cửa cuộc đời ngày thêm dồn, thêm gấp


Lắng nghe, lắng nghe… chính tiếng đập tay người


Chúng ta mở cửa cuộc đời


Và cầm lái con thuyền nhân định


Giữa biển lớn thuyền chúng ta lướt đến


Sáng toàn thân ánh sáng của con người!


 


1970


Lý Phương Liên


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Mỹ học Hegel (47) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 31.01.2019
Cấu trúc thơ: XIII. Thơ tự do Thanh Tâm Tuyền - Thụy Khuê 08.01.2019
Cấu Trúc Thơ (1) - Thụy Khuê 08.01.2019
Mùa biển động của Nguyễn Mộng Giác - Đặng Tiến 02.01.2019
Nhà văn Vũ Hạnh - Đi qua thời "Bút máu" - Trần Mạnh Hảo 28.12.2018
Những mâu thuẫn trong quyển Lược khảo văn học của Nguyễn Văn Trung (1) - Vũ Hạnh 28.12.2018
Người viễn khách thứ mười - Vũ Hạnh 28.12.2018
Ý niệm trinh nguyên và mặc cảm nam tính trong thơ Nguyễn Bính - Đặng Thị Thái Hà 28.12.2018
Hai phương diện đặc sắc trong chân dung nhà Nho- Kẻ sĩ, và vị hưu quan Nguyễn công Trứ - Phong Lê 28.12.2018
Nhà thơ Nguyễn Mỹ: Không chỉ có "cuộc chia ly màu đỏ" - Nguyễn Trường Văn 25.12.2018
xem thêm »