tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30433036
Tiểu thuyết
17.02.2011
Nguyễn Công Hoan
Bước đường cùng

15. Chị Pha vui vẻ mớm cho con ở đầu hè, bỗng thấy một người cõng chồng trên vai. Chị hết hồn. Mặt chồng chị đỏ dừ, gục lả đầu xuống, chân tay mềm thõng như người chết, bác San đi theo nói:


    - Bác ấy say quá. Nôn mửa cả ra. Đã cho hút thuốc phiện để dã rượu. Song không tài nào kéo được.


    Chị Pha nhăn nhó:


    - Trời ơi, nốc cho lắm vào.


    Pha nằm xuống phản, thở phì phò, hăng nồng cả nhà. Vợ anh lấy vôi bôi vào bàn chân bàn tay cho anh.  Bác San móc túi lấy gói giấy bạc:


    - Đây là của bác ấy, còn hăm tám đồng, cụ lý lấy mất hai đồng góp tổ tôm.


    Chị Pha kinh ngạc hỏi:


    - Tiền đâu ra thế này? Mà sao cụ lý lấy hở bác?


    - Tôi không biết, chỉ thấy cụ lý lấy góp tổ tôm rồi đưa tôi giữ. Đâu là tiền áp triện vào văn tự thì phải.


    - Ô hay, văn tự nào?


    Chị Pha không hiểu ra sao cả. Bác San an ủi:


    - Nhưng cũng may bác trai say quá, chứ không thì đã thách nhau với cụ lý đánh tổ tôm. Đánh với cụ ấy, có mà cúng hết, tay cờ bạc gạo, ai còn lạ?


    Nói đoạn, bác San về, để lại trả chị Pha người chồng đỏ như quả bồ quân, và sự suy nghĩ vẩn vơ, mà sức một người đàn bà, nhất là nông nỗi, dốt nát như chị, không tài nào hiểu được.


    Mãi đến sáng hôm sau, Pha mới tỉnh. Anh bàng hoàng ngồi dậy, chống tay xuống phản, và ngơ ngác nhìn. Có lẽ anh thấy làm lạ sao lại ở nhà anh.


    Chị Pha vội vàng hỏi ngay chồng về số tiền hăm tám đồng hôm qua. Pha kể lại cho vợ biết ông nghị nhất định chưa nhận trả nợ. Chị Pha cười nói:


    - Thế thì lại có vốn buôn, càng hay, càng đỡ vất vả.


    Pha xua tay:


    - Nhưng không phải ông ấy cho đâu mà vội mừng. Không thể giữ món tiền của ông ấy được, phải lập kế mà trả, không thì ông ấy lừa đấy.


    - Có đời nào?


    - Này, ông ấy tự tiện viết vào văn tự tôi nợ năm mươi đồng hẹn gán ruộng. Tôi tưởng ông ấy thực thà, nên lúc bảo điểm chỉ, tôi cứ điểm chỉ.


    Vợ anh kinh ngạc, xoám xoét người ra, tru rầm lên:


    - Chết chửa, sao lại ngược đời thế?


    Pha nhăn nhó, vật chân vật tay:


    - Chỉ tại mình không biết chữ, nên không biết ông ấy viết hươu viết vượn gì. Giá ông ấy viết hẳn một trăm, có lẽ mình cũng nhắm mắt mà chịu.


    Chị Pha mếu máo, đặt con xuống phản, kệ cho nó nhoe nhoe khóc. Một lát chị nói:


    Thế thì chết đến nơi rồi. Bây giờ làm thế nào?


    Pha than thở:


    - Từ hôm nọ đến nay, mình mất bao nhiêu tiền một cách vô lý, chẳng qua chỉ tại mình dốt nát.


    - Thôi, hãy hỏi bây giờ thầy nó định làm thế nào?


    Pha bắt đầu chán nản, lẩm bẩm:


    - Nợ ba mươi đồng, lý trưởng lấy hai đồng tiền áp triện, thành thử còn có hăm tám đồng.


    - Nhưng tôi còn hai đồng, vậy vẫn là ba chục. Thầy nó chịu mất hai đồng cho lý trưởng vậy, cứ đem ba chục đến trả, lạy van ông ấy để ông ấy nhận cho mà lấy văn tự về không có thì chết mất.


    - Nhưng còn lãi? Chắc ông ấy ghét thì ních đến hai mươi phân cho bõ.


    Chị Pha nghiến răng:


    - Dù ba mươi phân mà thoát được món nợ này cũng là phúc. Vả từ xưa đến giờ ông ấy có cho ai vay lãi mười phân đâu.


    - Mà món này đã làm gì được nửa tháng, nhất là cái rá gạo hôi mà ông ấy cũng tính vào tiền này để lấy lãi thì ông ấy đểu quá.


    Chợt bác trai Tân đến chơi, thấy vợ chồng Pha đang to tiếng thì ngờ ngợ hỏi:


    - Kìa, tôi tưởng chú dì đã xong nợ, tôi có hai đồng đây, định đưa chú dì tiêu.


    Pha cảm động, kể lại cho anh rể nghe sự thể, và ý kiến của vợ chồng vừa bàn. Bác trai Tân lắc đầu nói:


    - Thế thì thế nào lão cũng ních đến hai mươi phân.


    Chị Pha quả quyết:


    - Bao nhiêu thì bao, trả cho bằng được.


    - Nhưng tất lão làm khó khăn, tính lãi cả tháng là sáu đồng.


    Vợ chồng Pha ngồi ngây như tượng. Bác Tân nghĩ một lát rồi nói:


    - Thế ngộ lão vẫn cứ ngọt ngào, nhất định không lấy nợ thì sao? Ý lão muốn ngâm để lấy ruộng kia.


    Phải rồi, thành ra mình có tiền cũng khó lòng mà trả được, ác quá.


    Bác Tân gật gù cười:


    - Rồi chợt lúc mình không có tiền, hắn mới đòi, và bắt mình viết văn tự mới, cho cả lãi lên làm gốc. Cái lối này, hắn vẫn dùng xưa nay.


    Rồi chợt nghĩ ra, bác nói tiếp:


    - Được, tôi đi với chú đến. Tôi làm chứng cho. Hễ lão lật lọng thì ta đem việc này lên quan.


    Chị Pha cáu tiết:


    - Thế thì chỉ chết thằng dân đen thôi à?


    Bác Tân gật gù đáp:


    - Phải, bao giờ nhà cầm quyền với nhà tư bản cũng về hùa nhau để bóp hầu bóp họng bọn ta.


    Ba người im lặng, chẳng khác gì ba ông tướng trơ trọi lại không khí giới, đang cố tìm cách giải đám vây mà bên địch có quân hùng tướng mạnh. Chợt bác Tân long lanh nhìn hai người, nói:


    - Được rồi, chú với tôi, hai ta cứ đi. Chú nói rằng nhờ tôi đến bầu chủ và xin cho tôi ký vào văn tự. Tôi nói xin viết ruộng của tôi ở cánh đồng Sớm.


    Pha cảm động nói:


    - Như thế thì tôi để khó cho bác.


    - Chú đừng kỳ quản. Chỗ anh em nghèo, ta nên giúp đỡ lẫn nhau. Tôi thường vẫn bảo chỉ có mình mới biết thương nhau, chứ họ lúc nào cũng rình để bóc lột mình. Vả lại trong hai ta, tôi còn khá hơn chú. Nhưng đó là kế lừa lão nghị mê lên về ruộng tốt của tôi. Hễ hắn lòi văn tự ra, chú nắm phắt lấy, để trả tiền.


    Ba người hớn hở, chị Pha xui chồng:


    - Hễ thấy nó nắm được văn tự, thì xé tan xé nát ngay đi.


    Bác Tân nhiều mưu trí bàn:


    - Hãy khoan, tất lão cáu, sinh sự, cho người ta đánh và vu là ta đến cướp văn tự để kiện ta.


    Chị Pha đáp:


    - Thà tù tội còn hơn mắc nợ. Người ta bảo nhất tội nhì nợ, nhưng bây giờ mới biết nhất nợ nhì tội. Người tù có thể lúc được tha còn trông thấy ruộng nương, nhà cửa, chứ người nợ thì không những khánh kiệt mà sau còn tù là khác nữa. Nhất là nợ ông Nghị Lại thì không biết thế nào mà đoán trước được.


    Ba người cùng thở dài im lặng. Một lát bác Tân giục:


    - Thế ta đi chứ?


    Hai anh em đi. Chị Pha nhìn theo, chan chứa những hy vọng. Pha bồi hồi, lo lắng, không biết lần này đi có kết quả gì không. Anh thở dài, bác Tân hiểu ý an ủi:


    - Thế nào lão cũng mắc.


    Hai người đến cổng ngách nhà ông nghị. Pha giơ tay run run ra giật chuông. Phát đứng trên chòi, bảo chờ để bẩm trước. Trong lúc đợi, Tân và Pha dặn dò nhau kế hoạch một lượt nữa và vui sướng cùng rúc rích cười. Pha hồi hộp, trống ngực nổi to dần. Như người đi bể gặp bão đã giạt đến gần bờ, anh tâm niệm lạy trời phù hộ cho được thoát nạn. Chờ nóng ruột, anh gí chân xuống đất, và lấy tay cạo rêu tường. Có tiếng Phát gọi ở trên chòi, hai người hăm hở ngẩng lên, nhưng bỗng tiu nghỉu nhìn nhau như cùng tắt thở:


-          Quan đi vắng.


 


16


Hôm sau Pha lại đến. Và cố nhiên ông Nghị Lại không tiếp. Liền liền trong năm hôm, không hôm nào người ta mở cổng cho anh vào.


    Nhưng đến hôm thứ sáu, anh không đến nữa.


    Anh không đến, không phải vì chán nản. Anh rất kiên tâm, nhất là anh biết nỗi nguy hiểm vì nợ ông Nghị Lại. Anh không đến, vì anh không dám đến. Cái tin anh có ba chục bạc từ bữa khao, nó đồn đi khắp làng, cho nên từ bà trưởng Bạt đến đòi nợ hôm nọ, anh Tý đến bắt đền thêm hai hào tiền ô, đến con Cù, thằng Lãnh cũng đến hỏi những món vặt. Chị Pha trốn không kịp. Chị cứ phải bẻ que thề sống thề chết, nói là người ta ghét bịa đặt ra, chứ chị làm gì có tiền. Chị đành nghe hết những lời nặng nhẹ, những câu chửi bới nhục nhã. Chị nhất định ỳ các món nợ khác mà ngày nào người ta cũng đến thúc và nói khó chịu để chồng cố lăn lưng vào trả cho được món nợ ông nghị không đòi.


    Thì xảy ra kỳ thuế đến nơi.


    Hôm ấy buổi chiều, có mõ rao mời làng ra đình bổ thuế. Chị Pha chán nản bảo chồng:


    - Thế là lại chết. Chốc nữa thầy nó đi mà nghe xem mỗi xuất sưu năm nay bao nhiêu. Nhân tiện có gặp cụ Lý thì trách cho cụ ấy mấy câu.


    Pha lắc đầu:


    - Nghe làm gì? Để bảo cậu Dự đi. Cậu ấy bạo ăn bạo nói, vả mình vào thứ bực nào, mở miệng ra ai nghe, nhỡ người ta mắng cho, mình ra thù ghét thì dại.


    - Người ta làm ức, mình không chịu được, thì phải nói. Từ hôm nọ đến nay, mình đã tai hại bao nhiêu về nhịn nhục rồi, còn nhịn nhục đến đâu nữa?


    - Nào ai nhịn nhục? Năm nay nhà nước bổ thuế mới không nhất loạt hai đồng rưỡi như mọi năm. Vậy mình có mươi thước đất với tám sào ruộng thì nộp vào hàng sáu, nghĩa là như năm ngoái, không lợi mà cũng không thiệt.


    Chị Pha ngồi yên một lát rồi nói:


    - Các cụ bổ thuế hôm nay, chắc mai thế nào chả niêm yết ra đình cho làng biết.


    Pha thở dài:


    - Đã hẳn, nhưng mình có biết chữ đâu mà hiểu các cụ viết những gì.


    - Có, chán người biết chữ.


    - Nhưng ai không biết chữ thì thiệt riêng người ấy. Từ hôm nọ đến nay, tôi bị bao nhiêu tai vạ về dốt nát. Lắm lúc tức, muốn đi học.


    Vợ cau mặt, mắng:


    - Thôi đừng dơ. Già đời còn cắp sách đi học không sợ người ta cười cho. Vắt mũi cũng chẳng đủ đút miệng lại còn vẽ. Định làm vương làm tướng gì mà học?


    Pha cười:


    - Học có phải như trẻ con cắp sách đến trường đâu. Mà trường thì mãi tận trên huyện xa lắc xa lơ, ai đi được? Học nghĩa là lúc rỗi, ở nhà mượn người biết chữ dạy cho. Tôi thấy bảo chữ quốc ngữ dễ học chứ không như chữ nho ngày xưa, chỉ độ nửa tháng là đã đọc, viết được.


    Chị Pha bĩu môi:


    - Nếu học dễ như thế, thì nước Nam này ai không thể ra làm quan được?


    Pha lại cười:


    - Học để mà biết chữ chứ có phải để ra làm quan đâu. Mà đời này thiếu gì nghề lương thiện, và học để mong kiếm được tiền thì trước hết phải là con nhà giàu. Bà Tân khuyên tôi cố học cho biết quốc ngữ rồi bà ấy cho mượn sách mượn báo mà đọc. Bà ấy bảo sở dĩ hiện nay bà ấy biết một đôi chút cũng là nhờ biết chữ.


    Chị Pha ngẫm nghĩ rồi gật, hỏi:


    - Thật thế, ngày trước cả nhà chê anh ấy lù đù.


    - Mà có khi lù đù thì ở chốn thôn quê mới đỡ bị bắt nạt. Tôi căm ông Nghị Lại bao nhiêu, tôi oán ông huyện bấy nhiêu. Cho nên tôi quyết định thế nào cũng phải học cho biết chữ quốc ngữ.


    Chị Pha im lặng nhìn chồng. Rồi hai người bàn nhau đến các món nợ vặt, và cùng đồng ý là nên trả hết cả để cho khỏi mỗi lúc phải nhức óc. Đến sẩm tối, Dư, áo the vắt vai, vào chơi, mặt hầm hầm, lắc đầu nói:


    - Chẳng nước mẹ gì cả. Mất cả buổi vô ích.


    Pha cau mặt hỏi. Dự đáp:


    - Chánh hội chẳng cho ai xem sổ nghị định mới và sổ kiến điền. Ông ta chỉ nói qua loa rằng làng chỉ có ngần này đinh, ngần này điền, tổng cộng ngần này tiền, vậy thì cộng với ngoại phụ, hạng nhất đóng ngần này, hạng nhì đóng ngần này, điền mỗi mẫu ngần này.


    Chị Pha hỏi:


    - Ngần này là bao nhiêu?


    - Nào ai nhớ được, nhưng nhiều chỗ mập mờ lắm.


    Pha hỏi:


    - Thế không ai xin ông ấy tính toán rành mạch à?


    Dự trừng mắt:


    - Bắt chứ lại xin. Chính tôi bắt, nhưng ông lý về hùa ngay với ông chánh hội, gắt um lên, thách rằng thuế bổ thế nào, đã có quan phê bằng lòng rồi, ai không chịu đóng, cứ đi mà kêu. Được rồi tôi rủ người đi khiếu cho mà xem. Chứ các ông ấy cứ quen thói làm bừa như mọi năm gieo tai vạ cho làng, ai chịu được?


    Pha lắc đầu:


    - Vô ích như năm ngoái đấy, chả có người bỏ giấy là gì. Nhưng quan có xét đâu?


    Chị Pha thêm:


    - Các ông ấy đấm mõm quan rồi.


    Pha cười:


    - Nhưng nghĩ cho kỹ, ai hơi đâu cơm nhà lo việc cho làng. Các ông ấy cũng phải tốn kém nhiều khoản, nào trình sổ, nào đầu đèn, nào đốc thuế, nào lính đi tuần, nào kiểm thuế, nào đi lại, nào tạ thuế, nhất nhất cái gì cũng tốn kém quá chừng, thì người ta không bổ vào dân, chẳng lẽ người ta nai lưng ra chịu à?


    Dự xua tay:


    - Thế thì anh lầm. Chỉ nên có món tiền thưởng cho chức dịch phần thu, tức là đền công khó nhọc, đầu đèn và phí tổn hành lý. Còn chỉ là những tiền dân è cổ ra góp nhau để học có tiền lễ quan để quan làm ngơ đi cho họ tha hồ mà bóp dân.


    Pha ngớ ra. Dự giảng:


    - Thì quan là lính ăn lương nhà nước, tức là ăn lương, trích ở thuế dân đóng, thì họ phải làm việc cho dân, sao hơi có việc gì dân cũng phải cho tiền họ lần nữa? Thế thì mình ngu, mình dại. Bổn phận họ phải trông nom canh thuế. Không gì vô lý bằng trình sổ cũng lễ tiền, tạ thuế cũng bằng thuế. Làm gì mà phải tạ? Đấy chẳng qua là tiền hoa hồng mà bọn mọt dân trích ra để quan bênh họ, nếu họ bị khiếu nại.


    Pha mỉm cười:


    - Chẳng trách người ta kêu cậu bướng quá.


    - Thế nào là bướng? Tôi không bướng. Tôi chỉ muốn có lẽ phải. Bọn cầm quyền cứ thấy ai hiểu lẽ phải, ngăn cản không cho họ làm bậy, thì họ bảo là bướng. Thế hãy hỏi quan, lính trên huyện ăn lương để ngồi không à? Sao động có việc gì bắt họ phải làm thì mình lại cứ tống tiền vào cho họ hư quen đi. Là tại mình ngu, cho nên họ mới bắt nạt mình được.


    Pha hiểu, cười vang. Dự tiếp:


    - Dân quê ta nơi nào cũng bị quan lại, hương lý đục khoét, chỉ tại dân ngu, vô học.


    Pha cảm động, thở dài nhìn vợ, nói;


    - Đấy, thế mà lúc nãy tôi bảo nhà tôi rằng tôi học quốc ngữ, nhà tôi cứ không bằng lòng.


    Chị Pha cãi:


    - Rõ bịa nào. Ai không bằng lòng?


    Dự nói:


    - Làng ta không có trường là một điều hết sức tai hại. Những tiền làng tiêu về việc ăn uống cùng để nay lễ quan, mai lễ quan, tôi tưởng làm được mấy cái trường và nuôi được mấy thầy giáo chứ lỵ. Tôi may được bác Tân khuyên bảo học hành, nên bây giờ mới rạng một tí, biết thế nào là lẽ phải, thế nào là áp bức. Chứ trước kia, cứ bị người ta nhồi sọ mãi, cho nên cũng cứ tưởng những món hương lý tạm bổ ở thuế để chi phí lễ lạc là công bình, hợp lẽ phải.


    Ba người ngồi im. Một lát, Dự lại nói:


    - Những làng có người đứng đắn trông coi công việc, thì chỉ ba năm bỏ lệ ăn uống hủ lậu, là đủ có đường trải gạch, có trường dạy trẻ, và làm được bao nhiêu công việc ích. Làng ta, dân vô học, nhà cửa ẩm thấp, đường sá lầy lội, nhất là cái ao nửa để tắm giặt rửa ráy, nửa để gánh nước ăn, thật là bẩn thỉu tai hại.


    Chị Pha nói để trút nỗi uất trong lòng:


    - Giá ông nghị như người ta thìn làng được nhờ khối. Làm gì ông ấy chẳng công đức cho làng được cái trường, cái đường, cái giếng?


    Dự nghiến răng;


    - Nói làm gì đến thằng ăn cướp ấy, nó chỉ mong cho ta ngu, và cố kìm cho ta ngu lâu để nó bóc lột dễ dãi. Lắm lúc thấy nó chướng mắt, tôi cứ muốn cho nó một nhát dao.


    Vợ chồng Pha giật mình. Dự lại nói:


    - Chúng mình phải coi nó là kẻ thù chung.


    Vì khát khao sự học, Pha lắc đầu chữa:


    - Ông ấy chưa phải là kẻ thù. Vì nếu tính kỹ ra thì còn nhiều cái đáng thù lắm, nhưng xét cho đến gốc thì do ở mình dốt nát.


    Dự cãi:


    - Nếu không có thằng nhà giàu nó bóc lột dân ta không còn cái khố mà đeo, thì đâu đến nỗi làng ta tiều tụy, dân ta dốt nát. Vậy kẻ thù của chúng ta là cái nghèo.


    Chị Pha đương têm trầu, nhăn mặt kêu:


-          Ừ, thì cả cái dốt lẫn cái nghèo. Ghê gớm. Nói sốt cả ruột.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Bước đường cùng. Tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan. Xuất bản lần đầu năm 1938. Rút từ Nguyễn Công Hoan Toàn tập. NXB Văn học, 2004.


www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 06.12.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 06.12.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 05.12.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 05.12.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 05.12.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 02.12.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 02.12.2019
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 01.12.2019
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 01.12.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 29.11.2019
xem thêm »