tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27808989
Tiểu thuyết
31.12.2010
Nikos Kazantzakis
Zorba tay chơi Hy Lạp

Cuối cùng, mụ đã cập cái bến cảng khao khát bấy lâu nay. Cả đời, mụ đã múa hát, đã chơi bời tung tẩy, đã nhạo báng những phụ nữ đoan trang... nhưng tim mụ đã tan nát. Khi mụ mặc quần áo lòe loẹt, sặc sỡ, mặt trát bự son phấn, người xức đầy nước hoa, đi qua các phố Alexandria, Beirut, Constantinople và trông thấy những người mẹ chìa vú cho con bú, ngực mụ cũng rấm rứt và căng lên, núm vú dựng đứng, cũng thèm được một cái miệng trẻ thơ nhỏ xinh ngậm vào, “Lấy một người chồng, lấy một tấm chồng, có một mụn con...!”, điều đó là mơ ước suốt cả một cuộc đời dài dằng dẵng của mụ. Nhưng mụ không bao giờ bộc lộ những khát khao day dứt ấy với ai. Giờ đây, đội ơn Chúa, muộn một chút nhưng còn hơn không bao giờ, mụ đã cập bến ước mơ, mặc dù bao phen bị sóng gió dập vùi tơi tả.


Thỉnh thoảng mụ lại ngước mắt ngó sang cái lão to lớn lóng ngóng đang sải bước đi bên mụ. “Anh ta không phải là một pasa giàu có đội mũ fez có ngù tua vàng”, mụ nghĩ thầm. “Anh ta cũng chẳng phải là con trai tuấn tú của một thống đốc Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng đội ơn Chúa, thế còn hơn không có gì! Anh ta sẽ là chồng mình! Chồng mình mãi mãi, tạ ơn Chúa!


Zorba cảm thấy mụ đè nặng trên cánh tay, lão dần kéo mụ cho mau tới làng để thoát khỏi mụ. Và mụ đàn bà tội nghiệp cứ vấp hoài vào những hòn đá trên đường, móng chân gần như bật ra, những vết chai đau nhói, nhưng mụ không hé răng. Nói làm gì? Kêu ca làm gì? Mọi sự đều tuyệt vời rồi, tạ ơn Chúa!


Chúng tôi qua chỗ Cây Vả Tình Nương và vườn nhà nàng góa. Khi những ngôi nhà đầu làng hiện ra, chúng tôi dừng lại.


- Chúc ngủ ngon, kho báu của em, -ngư nữ già âu yếm nói, cố kiễng chân cho tới môi chồng chưa cưới.


Nhưng Zorba không cúi xuống.


- Cho em hôn chân anh vậy, anh yêu! - Bouboulina nói, toan thụp xuống đất.


- Không! Không! - Zorba phản đối, lão cảm động quàng tay ôm mụ. - Em yêu, chính anh phải hôn chân em! Anh phải làm thế mới... nhưng anh cảm thấy không đủ sức. Chúc em ngủ ngon!


Chúng tôi chia tay với mụ và lặng lẽ đi theo con đường, thở hít không khí ngào ngạt hương đêm. Bỗng nhiên, Zorba quay sang tôi.


- Chúng ta phải làm gì bây giờ, sếp? Cười hay khóc? Hãy khuyên tôi một điều gì đi.


Tôi không trả lời. Không hiểu tại sao cổ họng tôi cũng nghẹn lại - vì cười hay vì khóc?


- Sếp này, - Zorba đột ngột nói, - cái lão thần đểu giả không bao giờ để cho một người đàn bà nào có duyên cớ để phàn nàn, lão ta tên là gì nhỉ? Tôi có nghe đôi điều về hắn, tôi biết. Hình như hắn cũng hay nhuộm râu, xăm những hình trái tim, mũi tên, tiên cá trên cánh tay: họ bảo hắn ta thường hay cải dạng, biến thành bò mộng, thiên nga, cừu và, nói lỗi phép sếp, thành cả lừa nữa, thực tế, hắn cải dạng thành bất cứ cái gì các mợ các ả thích. Tên hắn là gì nhỉ?


- Chắc bác muốn nói đến thần Zeus. Cái gì làm bác nghĩ đến Zeus?


- Cầu Chúa bảo toàn linh hồn hắn! - Zorba giơ hai tay lên trời, nói. - Quả là hắn đã có những lúc gay go! Chắc hắn đã phải nếm đủ mùi! Một kẻ tuần đạo vĩ đại, xin sếp tin lời tôi! Sếp nuốt trôi mọi thứ mà những cuốn sách của sếp nói, nhưng sếp thử để một phút suy nghĩ xem những kẻ viết sách là hạng người nào! Xì! Một lũ thầy giáo. Họ biết cái quái gì về đàn bà hoặc về những gã đàn ông chạy theo đàn bà? Chẳng biết tí gì hết!


- Tại sao chính bác không viết một cuốn sách, Zorba? Để giảng giải cho chúng tôi rõ mọi bí ẩn của thế gian này? - Tôi nói giễu.


- Tại sao ấy à? Vì lý do đơn giản là tôi bận sống tất cả những bí ẩn đó, theo cách ông gọi, nên chẳng còn đâu thì giờ mà viết. Lúc nó là chiến tranh, lúc là đàn bà, khi là rượu khi lại là cây đàn santuri; tôi lấy đâu ra thì giờ múa may một cây bút khốn khổ? Vì thế nên việc đó rơi vào tay bọn cạo giấy! Tất cả những kẻ thực sự sống những bí ẩn của cuộc đời đều không có thì giờ viết và tất cả những kẻ có thì giờ viết lại không sống những bí ẩn ấy! Sếp hiểu chưa?


- Ta quay lại đề tài của ta thôi! Zeus ra làm sao?


- À! Anh chàng tội nghiệp! - Zorba thở dài. - Chỉ có mình tôi biết hắn đau khổ như thế nào. Cố nhiên, hắn yêu đàn bà, song không phải theo cái cách đám cạo giấy các ông nghĩ đâu! Hoàn toàn không phải! Hắn ái ngại cho họ! Hắn hiểu những gì họ phải chịu đựng và hắn hy sinh vì họ! Khi ở một nơi khỉ ho cò gáy nào đó, hắn thấy một mụ gái già héo hon vì dục vọng và nuối tiếc, hoặc một người vợ trẻ xinh đẹp - hoặc thậm chí chẳng xinh đẹp gì, thậm chí xấu như quỷ dạ xoa đi nữa - không ngủ được vì vắng chồng, hắn thường làm dấu Thánh giá, cái anh chàng tốt bụng đó, hắn thay quần áo, mang bất cứ hình thù gì người đàn bà đang mơ tưởng và đến phòng nàng. Hắn không bao giờ bận tâm đến những cô ả chỉ muốn hôn hít suông. Không! Thậm chí, khá nhiều khi hắn mệt lử cò bợ: sếp thừa hiểu. Ai mà có thể thỏa mãn được tất cả những con dê cái ấy? Ôi! Zeus! Con dê già tội nghiệp. Hơn một lần, hắn không làm sao được, hắn cảm thấy hết hơi. Sếp đã bao giờ thấy một con dê đực sau khi phủ liền mấy con dê cái chưa? Nó sùi bọt mép, mắt mờ và dùn rử, nó ho khùng khục và đứng không vững. Thế, già Zeus tội nghiệp chắc hẳn luôn luôn ở trong tình trạng đáng buồn đó. Rạng sáng, hắn trở về, bụng bảo dạ: “Ôi, lạy Chúa tôi! Bao giờ mình mới có thể nghỉ ngơi trọn một đêm? Mình mệt rũ ra rồi”. Và hắn cứ luôn tay chùi bọt mép. Nhưng hắn chợt nghe thấy một tiếng thở dài: dưới trần một người đàn bà nào đó đã tung chăn nệm, ra ngoài bao lơn đứng, gần như trần truồng, và đang thở dài sườn sượt đến mức đủ làm quay cánh quạt một cối xay lúa! Và già Zeus của tôi lại động lòng trắc ẩn. “Ôi! Ma quỷ! Mình lại phải xuống thôi!” hắn rên rẩm. “Kìa, một phụ nữ đang than thân trách phận. Mình phải xuống an ủi nàng!” Và cứ tiếp tục như thế đến độ đàn bà làm hắn hoàn toàn kiệt lực, lưng không cử động được, hắn bắt đầu nôn mửa, đâm liệt và chết. Đó là lúc người thừa kế hắn là Chúa Kitô tới. Thấy tình trạng khốn khổ của lão già, Chúa bèn kêu lên: “Hãy đề phòng đàn bà!”.


Tôi thán phục trí tưởng tượng khỏe khoắn của Zorba và cười lăn cười bò.


- Sếp cứ tha hồ cười! Nhưng nếu ma quỷ thánh thần phù hộ cho công cuộc kinh doanh nhỏ bé của chúng ta ở đây thành công - tôi thấy điều đó dường như bất khả, nhưng biết đâu - sếp có biết tôi mở một loại cửa hàng gì không? Một văn phòng hôn nhân! Phải... đúng thế! Hãng “Hôn Nhân Zeus!” Khi đó tất cả những phụ nữ đáng thương không kiếm nổi tấm chồng sẽ có một dịp cầu may nữa: gái già, phụ nữ xấu xí, đui què mẻ sứt, tôi sẽ tiếp tất cả trong một phòng khách nhỏ trên tường treo đầy ảnh những chàng trai tuấn tú và tôi sẽ nói với họ: “Quý bà, quý cô hãy chọn đi, lựa lấy người nào mình ưa, rồi tôi sẽ tìm cách thu xếp cho họ thành phu quân của quý bà, quý cô”. Sau đó, tôi kiếm bất cứ thằng cha nào hao hao giống tấm ảnh, cho hắn mặc đúng như thế, đưa hắn ít tiền và dặn: “Đến phố ấy phố nọ, số nhà ấy, tìm bà ấy cô ấy và tán thật dữ vào. Đừng có ngán ngẩm, tôi sẽ chi hết. Hãy ngủ với mụ ta. Nói với mụ tất cả những điều đẹp đẽ đàn ông thường nói với đàn bà; tội nghiệp mụ chưa bao giờ được nghe những lời như vậy. Hãy thề là sẽ cưới mụ. Hãy ban cho mụ khốn khổ đó tí chút lạc thú, thứ lạc thú mà loài lục súc và ngay cả con sâu cái kiến cũng đều được hưởng”. Và nếu có một con dê cái già nào thuộc loại Bouboulina của chúng ta - cầu Chúa ban phước cho mụ! - mà không ai chịu đến an ủi, bất kể trả công bao nhiêu, thì... thôi được, tôi sẽ làm dấu Thánh giá và tôi, giám đốc hãng Hôn Nhân, sẽ đích thân làm việc đó! Bấy giờ, sếp sẽ nghe thấy cả lũ ngu xuẩn ở trong vùng nói: “Xem kìa! Rõ là một lão già phóng đãng! Lão không có mắt để nhìn, cũng chẳng có mũi để ngửi sao?” - “Có chứ, đám lừa, tớ có mắt chứ! Có chứ, bọn ngồi lê đôi mách tim rắn như đá, tớ có mũi chứ? Thế nhưng tớ còn có một trái tim biết ái ngại cho những người đàn bà xấu số! Và nếu đã có một trái tim thì tất cả những mắt mũi trên thế gian đều vô dụng: đến lúc nào đó, chúng chẳng đáng kể gì hết!”... Rồi khi nào tôi trở nên hoàn toàn bất lực vì chơi bời trác táng và về chầu trời, thánh Pie-gác cửa Ihiên Đàng sẽ mở cổng cho tôi mà rằng: “Vào đi, Zorba tội nghiệp, vào đi, Zorba kẻ tuẫn đạo. Vào mà nằm cạnh chiến hữu Zeus của người! Hãy nghỉ ngơi, anh bạn, người đã đóng góp phần mình dưới trần gian! Ta ban phước lành cho người!”


Zorba tiếp tục huyên thuyên. Trí tưởng tượng của lão giăng bẫy bắt lão và lão sa thẳng vào. Lão bắt đầu tin những truyện do chính lão bịa ra. Khi chúng tôi đi qua cây Vả Tình Nương, lão thở dài. Rồi giơ tay ra như phát thệ, lão nói:


- Đừng buồn phiền, Bouboulina, con tàu cũ rữa nát và bị bạc đãi! Đừng buồn phiền! Tôi sẽ không để em thiếu niềm an ủi! Em có thể bị bốn Đại Cường Quốc, tuổi trẻ và cả Thượng Đế bỏ rơi, nhưng tôi đây, Zorba, sẽ không bao giờ bỏ rơi em!


Khi chúng tôi về đến bãi thì đã quá nửa đêm và gió đã nổi. Từ bên kia biển, từ Châu Phi, ngọn gió nam ấm áp gọi là Notus thổi tới làm cây cối, nho và những vồng ngực đảo Crete căng phồng. Toàn bộ hòn đảo nằm bên bờ nước sống động lên dưới làn gió ấm thúc nhựa cây dâng lên. Zues, Zorba và gió nam quyện lẫn vào nhau và trong đêm, tôi nhìn thấy rõ ràng một gương mặt lớn rất đàn ông, râu đen, tóc trơn bóng đang cúi xuống, áp cặp môi đỏ nóng bỏng lên Mađam Hortense - Trái Đất.


20.


Vừa về tới nơi, chúng tôi đi nằm ngay. Zorba xoa tay thỏa mãn.


    - Hôm nay là một ngày đại cát, sếp ạ. Chắc sếp sẽ hỏi tôi nói “đại cát” với nghĩa gì? Tôi muốn nói là: trọn vẹn. Sếp nghĩ mà xem: sáng nay, chúng ta còn ở tu viện, cách đây hàng bao dặm, chúng ta cho lão tu viện trưởng vào xiếc - chắc lão nguyền rủa chúng ta! Sau đó, chúng ta về đến lều, gặp Mađam Bouboulina và tôi với mụ đính hôn. À này, sếp nhìn cái nhẫn xem. Vàng mười đấy... Mụ bảo mụ còn hai đồng xôvơrin vàng của Anh, lão đô đốc Anh cho mụ vào hồi cuối thể kỷ trước. Mụ nói mụ để dành làm ma mình, nhưng bây giờ – cầu sao giờ khắc độ trì cho mụ an lành - mụ đem đến thuê thợ kim hoàn đánh thành nhẫn. Con người thật là bí ẩn kỳ quái!


- Ngủ đi Zorba! - Tôi nói. - Bình tĩnh lại nào! Một ngày chừng nấy chuyện là đủ rồi. Ngày mai, chúng ta phải cử hành một nghi lễ long trọng: dựng cây cột đầu tiên cho hệ thống dây cáp. Tôi đã mời cha Stephanos đến.


- Sếp làm thế là phải, sếp ạ, ý đó không đến nỗi dở. Cứ để lão linh mục râu dê ấy đến và tất các kỳ mục trong làng nữa, thậm chí ta sẽ phân phát những cây nến nhỏ cho họ thắp lên. Đó là cách gây ấn tượng: điều đó sẽ có lợi cho công việc của ta. Đừng có để ý đến những việc tôi làm. Tôi có Thượng Đế riêng và ma quỷ riêng của tôi. Nhưng những người khác...


Lão bật cười. Lão không ngủ được, đầu óc lão xáo động.


- Ôi, ông nội, cầu Chúa phong thánh cho nắm xương tàn của ông! - Sau một lát lão nói. - Ông cụ cũng là một tay chơi bời phóng đãng y như tôi đây. Ấy thế mà lão du đãng ấy đã tới Thánh Mộ và trở thành một hadji( 1) đấy. Có trời biết tại sao! Khi ông trở về làng, một người bạn nối khổ của ông, một lão chuyên ăn trộm dê chưa từng làm một điều gì tử tế trong đời, bảo ông: “Này anh bạn, có mang về cho tôi một mẩu Thánh giá ở Thánh Mộ không?” - “Anh định nói gì vậy, tôi không mang gì về cho anh sao?” Ông nội ranh ma của tôi nói, “anh nghĩ là tôi quên anh sao? Tối nay anh đến nhà tôi, dẫn theo cả linh mục để ban phước, tôi sẽ đưa cái đó cho anh. Mang theo cả một con lợn sữa và ít rượu nữa nhé cho may mắn!” Tối hôm ấy, ông nội tôi về nhà, cắt một mẫu gỗ nhỏ bằng hạt gạo từ cái trụ cửa mọt, bọc trong bông nỉ, giỏ một vài giọt dầu lên, rồi ngồi chờ. Lát sau, tay kia tới cùng với linh mục, con lợn sữa và rượu. Linh mục lấy khăn choàng ra và ban phước. Ông nội tôi tiến hành nghi thức trao mẩu gỗ quý, rồi ba người bắt đầu ngấu nghiến đả con lợn sữa. Thế, xin sếp hãy tin lời tôi, lão kia khấn đầu quỳ mọp trước mẫu gỗ nhỏ này, buộc dây đeo vào cổ và từ hôm đó trở đi, thành một người khác hẳn. Lão thay đổi hoàn toàn. Lão lên núi, gia nhập hàng ngũ những người Armatole và Klepht, góp một tay phóng hỏa những làng Thổ Nhĩ Kỳ. Lão anh dũng băng qua những làn mưa đạn, không biết sợ là gì. Tại sao lão lại phải sợ? Lão mang trên mình một mẩu của Thánh Giá ở Thánh Mộ kia mà - đạn không thể trúng được lão.


Zorba phá lên cười.


- Tư tưởng là tất cả, - lão nói. - Đã có đức tin thì một mảnh vụn của một cánh cửa cũ nát cũng trở thành thánh tích. Bằng không thì cả cây Thánh giá đích thực cũng thành cột mục.


Tôi thán phục con người này, đầu óc lão vận hành mới táo bạo và tự tin biết mấy, tâm hồn lão chạm vào đâu cũng tóe lửa.


- Bác đã bao giờ tham chiến tranh chưa, Zorba?


- Làm sao tôi biết được nhỉ? - Lão cau mày hỏi. - Tôi không nhớ nổi. Chiến tranh nào?


- Tôi muốn nói bác đã bao giờ chiến đấu cho tổ quốc chưa?


- Sếp không thể nói chuyện gì khác sao? Tất cả những chuyện tầm phào ấy đã chấm dứt, đã qua hẳn rồi, chẳng ai còn nhớ nữa.


- Bác gọi cái ấy là chuyện tầm phào ư, Zorba? Bác không xấu hổ à? Bác nói về tổ quốc mình như thế à?


Zorba ngẩng đầu lên nhìn tôi. Tôi cũng nằm trên giường với ngọn đèn dầu đang cháy trên đầu. Lão nghiêm nghị nhìn tôi một lát rồi, túm chặt ria, nói:


- Nói năng vậy thật là ngớ ngẩn, chả khác gì một anh thầy giáo. Lỗi phép sếp, nói chuyện với sếp như thế thì thà nói với đầu gối.


- Sao? - Tôi phản đối. - Tôi là người hiểu biết, Zorba đừng có quên điều đó.


- Phải, sếp hiểu biết bằng đầu óc. Sếp bảo: “Cái này đúng, cái kia sai, cái này thật, cái kia giả, người này có lý, người kia sai lầm...”. Nhưng cách đó dẫn ta đến đâu? Trong khi sếp nói tôi theo dõi tay và ngực sếp. Ờ, tay và ngực sếp làm gì? Chúng lặng thinh, chẳng nói một lời. Như thể chúng không có lấy một giọt máu. Vậy, theo sếp, sếp hiểu bằng cái gì? Bằng cái đầu sếp à? Hừ?


- Này trả lời tôi đi, Zorba, đừng có tìm cách né tránh! -  Tôi nói để khích lão. - Tôi dám chắc bác không bận tâm gì mấy đến đất nước mình, phải không nào?


Lão giận dữ đấm vào bức vách làm bằng những can xăng rỗng và kêu lên:


- Cái thằng mà sếp nhìn thấy trước mặt sếp đây đã từng lấy tóc trên đầu mình thêu hình nhà thờ Thánh đeo trước ngực làm bùa hộ mệnh. Phải, sếp ạ, tôi đã làm thế, tôi đã thêu bằng đôi bàn tay gấu vụng về này và bằng những sợi tóc này, dạo ấy còn đen như lông quạ. Tôi thường lang thang quanh vùng núi Macedonia với Pavlos Melas( 1) - hồi đó tôi là một chàng trai lực lưỡng, cao hơn cái lều này, mặc váy kiểu lính Xcốtlen, đội mũ fez đỏ, đeo bùa bằng bạc, yataghan( 2), súng lục và bao đạn. Khắp người tôi toàn thép, bạc và đinh. Mỗi bước tôi đi đều phát ra tiếng loảng xoảng như cả một trung đoàn diễu qua phố! Này! Nhìn dây. Và đây nữa!


Lão phanh áo sơ mi và tụt quần ngoài xuống.


- Mang đèn lại đây! - Lão ra lệnh.


Tôi ghé đèn vào sát tấm thân gày gò rám nắng. Với những sẹo sâu hoắm, những vết đạn, những nhát gươm chém, thân thể lão giống như một cái chao lọc.


- Bây giờ hãy nhìn bên kia xem!


Lão quay lại và chìa lưng cho tôi xem.


- Không một vết xước trên lưng, sếp thấy đấy. Sếp có hiểu không? Bây giờ để đèn về chỗ cũ đi.


- Chuyện tầm phào! - Lão phát khùng gầm lên. - Thật ghê tởm! Đến bao giờ con người mới thực sự là con người, theo sếp? Chúng ta mặc quần áo, cổ cồn, mũ mãng, vậy mà vẫn là một lũ la lừa, sói, cáo và lợn. Chúng ta bảo chúng ta được tạo nên theo hình ảnh của Chúa! Ai, chúng ta ấy à? Tôi thì nhổ vào cái mõm ngu xuẩn của chúng ta!


Dường như những hồi ức khủng khiếp đang trở lại trong trí lão và mỗi lúc lão một thêm phẫn nộ. Lão thốt ra những lời không ai hiểu nổi qua hai hàm răng hổng và lung lay.


Lão đứng dậy, nhấc bình nước, tu một hơi dài và có vẻ đỡ khát, đồng thời dịu đi:


- Bất kể sếp chạm vào chỗ nào trên người tôi, tôi đều rống lên, - lão nói. - Khắp người tôi toàn sẹo, vết thương và cục u. Tất cả những điều vớ vẩn sếp nói về đàn bà nghĩa là cái gì? Khi tôi phát hiện ra mình là một thằng đàn ông thực sự, tôi thậm chí không buồn quay lại nhìn họ nữa kia. Tôi chạm vào họ trong giây lát, qua loa đại khái thế thôi, như con gà trống, rồi tôi đi tiếp. “Giống chồn sương bẩn thỉu”, tôi tự nhủ “chúng muốn hút cạn sức lực của mình. Hừ! Ma quỷ bắt hết đàn bà đi!” Rồi tôi vác súng ra đi! Tôi lên núi làm một du kích comitadji. Một hôm, vào lúc sẩm tối tôi vào một làng Bulgari và trốn vào một chuồng bò. Đó chính là nhà một mục sư, một tên biệt động comitadji Bulgari hung tợn tàn nhẫn. Ban đêm, hắn trút bỏ áo thầy tu, mặc quần áo mục đồng, xách súng và xâm nhập các làng Hy Lạp lân cận. Hắn thường trở về trước khi trời rạng, người ròng ròng bùn và máu, nhưng chỉ lát sau, hắn đã hối hả đến nhà thờ chủ trì lễ mixa cho tín đồ. Trước đó mấy hôm, hắn đã giết một giáo viên Hy Lạp đang ngủ trên giường. Cho nên tôi vào chuồng bò nhà tên mục sư, nằm đợi. Vào khoảng chập tối, tên mục sư vào cho bò ăn. Tôi nhảy xổ vào hắn cắt cổ như cắt tiết cừu. Tôi cắt hai tai hắn, bỏ vào túi. Chả là tôi đang sưu tập tai người Bulgari, sếp hiểu không, cho nên tôi lấy tai tên mục sư và tôi chuồn. Mấy ngày sau, tôi lại đến làng đó. Bấy giờ là giữa trưa. Tôi giả làm người bán hàng rong. Tôi giấu vũ khí ở trong núi và xuống làng để mua bánh mì, muối và ủng cho anh em. Thế rồi tôi bắt gặp năm đứa bé trước một ngôi nhà, tất cả đều vận đồ đen, đi đất, đứa nọ nắm tay đứa kia, dắt nhau đi ăn xin. Ba gái và hai trai. Đứa lớn nhất không quá mười tuổi, đứa nhỏ nhất còn phải ẵm ngửa. Đứa con gái lớn nhất bế em, vừa hôn vừa vuốt ve nựng nó cho nó khỏi khóc. Tôi không biết tại sao, chắc là thần phật xui khiến, tôi tiến lại chỗ chúng. “Các cháu con ai?” Tôi hỏi bằng tiếng Bulgari. Thằng bé lớn nhất ngẩng đầu lên: “Con của mục sư. Hôm nọ, cha cháu bị cắt cổ trong chuồng bò”, nó trả lời. Tôi ứa nước mắt và trái đất bắt đầu quay như cái cối xay. Tôi dựa vào tường và nó ngừng lại. “Lại đây, các con” tôi nói. “Lại gần ta đây”. Tôi lấy túi tiền ra, trong đó đầy tiền Thổ Nhĩ Kỳ và những đồng mejidies. Tôi quỳ xuống và đổ hết xuống đất. “Này lấy đi!” Tôi kêu lên “Lấy đi! Lấy đi!” Bọn trẻ thụp xuống đất và nhặt tiền. “Của các cháu đấy! Của các cháu đấy!” Tôi kêu “Lấy hết đi!”. Rồi tôi để lại cho chúng cái rổ đựng tất cả những thứ tôi đã mua. “Tất cả những cái này cũng của các cháu, lấy hết đi!” Và tôi chuồn thẳng. Tôi rời khỏi làng, phanh áo sơ mi, nắm lấy cái hình nhà thờ Thánh Xophia tôi đã thêu, xé tan và tung hê, rồi cắm cổ chạy trốn... Và đến bây giờ, tôi vẫn còn chạy trốn...


Zorba dựa vào vách và quay về phía tôi.


- Ấy, tôi đã được cứu thoát như thế đó, - lão nói.


- Cứu thoát khỏi tổ quốc?


- Phải, khỏi tổ quốc, - lão nói, - giọng rắn rỏi bình tĩnh.


Rồi một lát sau:


- Thoát khỏi tổ quốc, khỏi các thầy tu, khỏi tiền bạc. Tôi đã sàng lọc, ngày càng sàng lọc bỏ đi nhiều thứ. Bằng cách ấy, tôi làm nhẹ gánh nặng của mình. Tôi đã... nói thế nào nhỉ?... tôi đã tìm thấy sự giải thoát tôi thành người.


Mắt Zorba long lanh, cái miệng rộng của lão cười mãn nguyện.


Sau khi im lặng một lát, lão lại mở máy. Tim lão ứ trào không kiềm chế nổi.


- Có một dạo, nói về con người, tôi thường phân biệt: đó hoặc là một tên Thổ Nhĩ Kỳ, hoặc một tên Bulgari hoặc một người Hy Lạp. Vì tổ quốc, sếp ạ, tôi đã làm những điều khiến sếp dựng tóc gáy. Tôi đã cắt cổ nhiều người, đốt làng, cướp của, hãm hiếp phụ nữ và giết sạch hàng gia đình. Tại sao? Vì họ là Thổ Nhĩ Kỳ hoặc Bulgari. “Chà! Quỷ bắt mày đi, đồ con lợn!” đôi khi tôi tự bảo vậy. “Quỷ tha ma bắt mày, đồ con lừa!” Bây giờ thì tôi nói người này là một gã tử tế, kẻ kia là một tên chó đẻ: Họ có thể là Hy Lạp hay Bulgari hay Thổ Nhĩ Kỳ, cái đó không quan trọng. Người ấy tốt hay xấu, bây giờ, đó là điều duy nhất tôi cần biết. Và mỗi tuổi một già và điều này tôi xin thề trên mẩu bánh tôi vừa ăn - tôi cảm thấy thậm chí tôi cũng không đặt ra câu hỏi ấy nữa kia. Một người, dù tốt dù xấu, tôi cũng thương hại cho hắn, cho tất cả mọi người. Trông thấy con người, lòng tôi đau như xé, mặc dầu tôi làm bộ tỉnh bơ! Kìa khốn khổ cái thằng cha, tôi nghĩ thầm, hắn cũng ăn uống, cũng làm tình và cũng sợ hãi, bất kể hắn là người như thế nào: dù sao mặc lòng hắn cũng vẫn có Chúa và quỷ của riêng hắn và hắn cũng sẽ ngoẻo và nằm cứng đơ như khúc gỗ dưới ba tấc đất làm mồi cho giun. Khốn khổ khốn nạn! Chúng mình là anh em cả! Rồi làm mồi cho giun tất!... Và nếu lại là một phụ nữ... thì ôi! Tôi những muốn khóc đến lòi con mắt! Sếp tôn kính của tôi cứ nhạo tôi hoài, bảo tôi quá ái mộ phụ nữ. Tại sao tôi lại phải dẹp lòng thương yêu họ khi mà họ là những sinh vật yếu đuối không biết mình đang làm gì và đầu hàng tại chỗ khi ta vừa thộp lấy vú họ?...


Một lần, tôi đi vào một làng Bulgari khác. Một lão già súc sinh phát hiện ra tôi - lão là một bô làng - lão báo cho đồng bọn và chúng bao vây ngôi nhà tôi trọ. Tôi luồn ra bao lơn và trèo sang mái nhà bên cạnh, trăng đã lên, tôi nhảy từ bao lơn này sang bao lơn kia thoăn thoắt như mèo. Nhưng chúng trông thấy bóng tôi, chúng trèo lên mái nhà và bắt đầu nổ súng. Làm thế nào đây? Tôi nhảy xuống sân và thấy một phụ nữ Bulgari đang nằm ngủ. Nàng đứng dậy trong chiếc áo ngủ, trông thấy tôi và mở miệng định kêu, nhưng tôi giơ tay ra, thì thầm: “Làm ơn làm phúc đừng kêu! và túm luôn lấy vú nàng. Nàng tái đi, suýt ngất xỉu. “Vào trong nhà” nàng khẽ nói. “Vào nhà kẻo họ trông thấy...” Tôi vào nhà, nàng nắm chặt tay tôi. “Ông là người Hy Lạp?” Nàng hỏi. “Vâng, Hy Lạp. Xin đừng tố giác tôi” Tôi ôm lấy eo nàng. Nàng không nói một lời. Tôi đưa nàng lên giường và tim tôi run lên vì khoái cảm. Thế đấy, Zorba, đồ con chó” tôi tự bảo, “vậy đó, một người đàn bà cho mày, lòng nhân đạo nghĩa là thế đấy. Nàng là người gì? Bulgari? Hy Lạp? Papu? Cái đó hoàn toàn không quan trọng! Nàng là người, một con người có miệng, có đôi vú và nàng biết yêu thương. Mày không thấy xấu hổ về hành vi chém giết của mày sao? Hừ! Đồ con lợn!” Đó, tôi đã nghĩ vậy trong khi nằm bên nàng, chia sẻ hơi ấm của nàng. Thế nhưng, sếp thử nghĩ xem, cái con đĩ dại tổ quốc có để cho tôi yên vì chuyện đó không? Sáng hôm sau, tôi chuồn trong bộ quần áo nàng Bulgari cho tôi. Nàng là một quả phụ. Nàng lấy trong tủ ra bộ đồ của người chồng quá cố, đưa cho tôi, rồi ôm ghì lấy đầu gối tôi và van nài tôi trở lại với nàng. Phải, phải, tôi có trở lại... vào đêm hôm sau. Cố nhiên, hồi đó, tôi là một người ái quốc - một con dã thú, tôi trở lại với một can dầu parafin và tôi phóng hỏa đốt làng. Tội nghiệp, chắc nàng cũng bị thiêu cháy cùng với những người khác. Tên nàng là Ludmila!


Zorba thở dài. Lão châm một điếu thuốc lá, hút một vài hơi rồi quẳng đi.


- Tổ quốc ư?... Sếp tin mọi thứ vớ vẩn trong những quyển sách của sếp ư?... Đáng ra sếp phải tin tôi mới đúng. Chừng nào còn có các tổ quốc, con người còn giống như con thú, một con thú dữ... Nhưng tôi đã được giải thoát khỏi mọi cái đó rồi, đội ơn Thượng Đế! Đối với tôi, thế là dứt điểm rồi! Còn sếp thì sao?


Tôi không trả lời. Tôi thèm muốn được như lão. Lão đã sống bằng máu thịt - chiến đấu, chém giết, hôn hít - tất cả những thứ ấy tôi chỉ cố gắng học qua bút mực mà thôi. Tất cả những vấn đề tôi đang cố giải đáp từng điểm một trong cô đơn và ngồi lì trên ghế, con người này đã giải quyết gọn giữa bát ngát núi non, bằng một thanh gươm.


Tôi nhắm mắt lại, chán ngắt khôn khuây.


- Sếp ngủ à? - Zorba phật ý hỏi. - Thế mà tôi cứ ba hoa với sếp như một thằng hề!


Lão làu bàu nằm xuống và loáng cái, tôi đã nghe thấy lão ngáy.


Suốt đêm tôi không tài nào ngủ được. Tiếng một con họa mi lạ lần đầu tôi nghe thấy hót đêm hôm đó, rót đầy cô đơn vào tôi một nỗi sầu khôn nguôi và tôi bỗng cảm thấy những giọt nước mắt lăn trên má.


Tôi ngộp thở. Rạng sáng, tôi dậy và đứng ở cửa lều ngắm đất, ngắm biển. Tôi có cảm giác như mới qua một đêm, thế giới thay đổi: Trên bãi cát trước mặt tôi, một bụi gai nhỏ, mới hôm qua còn xám xỉn tiều tụy, giờ đã đầy những bông hoa trắng nhỏ li ti. Không khí phảng phất mùi hương ngọt ngào ám ảnh của cam, chanh đang trổ hoa. Tôi bước ra ngoài mấy bước. Cái phép lạ vĩnh viễn luân hồi này, tôi ngắm không bao giờ biết chán.


Đột nhiên, tôi nghe thấy một tiếng reo vui ở sau lưng. Zorba đã dậy và, mình trần, nhào ra cửa. Lão cũng rạo rực trước cảnh xuân về.


- Cái gì thế này? - Lão sửng sốt hỏi. - Cái phép lạ đằng kia kìa, sếp à, cái màu xanh chuyển động ấy, người ta gọi nó là gì? Biển ư? Và cái gì mang tạp dề xanh thêu hoa thế kia? Đất à? Nghệ sĩ nào đã làm ra như thế? Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy thế, xin thề với sếp!


Mắt lão trào lệ.


- Zorba! - Tôi kêu. - Bác mất trí rồi sao?


- Sếp cười cái gì? Sếp không trông thấy sao? Phải có ma thuật đằng sau tất cả những cái này, sếp ạ.


Lão bỏ ra ngoài, bắt đầu nhảy múa và lăn lộn trên bãi cỏ như chú ngựa con vào mùa xuân.


Mặt trời ló ra và tôi ngửa hai bàn tay đón nắng ấm. Nhựa dâng lên... vú căng phồng... và tâm hồn cũng đơm hoa như cây cối, ta cảm thấy thể xác và linh hồn được nhào nặn bằng cùng một chất liệu.


Zorba đã đứng dậy trở lại, tóc đầy đất và sương.


- Nhanh lên, sếp! Lão la. Chúng ta sẽ diện thật bảnh! Hôm nay, chúng ta phải được ban phước lành. Chẳng mấy chốc linh mục và các kỳ mục trong làng sẽ đến đây. Nếu họ thấy chúng ta lăn lóc trong đám cỏ, thì thật đẹp mặt cho Công ty! Cho nên ta phải lên cổ cồn cà vạt! Phô những bộ mặt nghiêm trang ra! Cần cóc gì có đầu óc, miễn là đội mũ cho hợp thời trang là ăn tiền...! Cái thế giới này thật điên rồ!


Chúng tôi mặc quần áo, thợ thuyền tới và sau đó một lát là các vị hương mục.


- Hãy ráng nghiêm chỉnh, sếp à, hôm nay là không có đùa giỡn được đâu! Chúng ta không nên tự biến mình thành trò cười.


Đi đầu là cha Stephanos, mặc chiếc áo tu sĩ bẩn có túi sâu. Trong những buổi lễ tôn phong, ma chay, cưới xin, rửa tội, cha thường trút vào những cái túi hun hút như vực thẳm ấy mọi thứ được biếu: nho, bánh mì nhỏ, bánh patê pho mát, dưa chuột, thịt, kẹo bánh, tất tật... và đêm đến, bà Pappadia, vợ ông, giương mục kỉnh lên, lôi cả ra vừa chọn vừa nhấm nháp luôn miệng.


Đằng sau cha Stephanos là các bô lão: Kondomanolio, chủ tiệm cà phê, người tưởng mình biết khắp thế giới vì đã đến tận Canea và đã tận mắt thấy chính Hoàng tử George; bác Anagnosti điềm đạm và tươi cười, mặc chiếc áo sơ mi trắng xóa ống rộng, ông giáo trang nghiêm và long trọng với chiếc gậy chống, và cuối cùng Mavrandoni, bước chân nặng nề, chậm rãi. Lão chít một chiếc khăn đen trên đầu, vận áo sơ mi đen và đi giày đen, lão chào chúng tôi với một vẻ gượng gạo. Lão chua chát và tách biệt. Lão đứng riêng một mình, quay lưng ra biển.


- Nhân danh Jêxu Kirixitô Chúa chúng tôi! Zorba nói, giọng trang trọng. Lão đi lên đầu đám rước và tất cả đi theo lão với vẻ trầm tư mặc tưởng thành kính.


Những hồi ức từ xa xưa hàng thế kỷ về những nghi lễ thần diệu thức dậy trong lòng những người nông dân này. Tất cả đều dán mắt vào ông linh mục như thể chờ đợi ông đối đầu và yểm trừ những lực lượng vô hình. Hàng ngàn năm trước, thầy phù thủy đã giơ tay rẩy nước thánh lên không trung, lầm rầm những câu thần chú bí hiểm và toàn năng, thế là lũ quỷ ác trốn chạy trong khi những phúc thần từ nước, đất và không khí xuất hiện để phù trợ loài người.


(còn tiếp)


Nguồn: Zorba Tay chơi Hy Lạp. Tiểu thuyết của Nikos Kazantzakis. Dương Tường dịch theo bản tiếng Anh ZORBA THE GREEK của Carl Wildman. Ballantine, 1965. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đất thức - Trương Thị Thương Huyền 25.06.2019
Ma rừng - Phùng Phương Quý 25.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 24.06.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 22.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.06.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
xem thêm »