tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 31241646
16.12.2010
Kiều Mai Sơn
Nguyễn Mạnh Tường - Luật sư huyền thoại (3)

Đứng lẫn trong đám đông người xem hôm đó, nhà giáo Nguyễn Đình Chú không thể ngờ được, chỉ 2 năm sau, ông lại có vinh dự trở thành người học trò của Giáo sư – Tiến sĩ – Luật sư Nguyễn Mạnh Tường ở trường Dự bị Đại học Liên khu IV năm 1953. Sau ngày 10-10-1954, những anh bộ đội Cụ Hồ trong tư thế của người chiến thắng từ Điện Biên Phủ trở về tiến vào tiếp quản Thủ đô. Trong bộn bề công việc của một đất nước mới được giải phóng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng và Chính phủ đã mở ngay trường Đại học để đào tạo trí thức. Và Nguyễn Đình Chú là một trong những thí sinh trúng tuyển kỳ thi tuyển sinh vào trường Đại học Sư phạm Văn khoa (nay là trường Đại học Sư phạm Hà Nội) năm 1954.


 


Sau 3 năm học, là một trong những sinh viên khóa đầu tiên dưới mái trường Đại học của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được thụ giáo các bậc “sư biểu” hàng đầu là những nhà trí thức uyên bác tầm cỡ thế giới của thời vàng son “một đi không trở lại” như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Cao Xuân Huy, Đào Duy Anh, Trương Tửu, Trần Văn Giàu, Phạm Huy Thông, Hoàng Xuân Nhị, Nguyễn Lân, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Khánh Toàn… Tốt nghiệp Đại học năm 1957, Nguyễn Đình Chú được giữ lại làm cán bộ giảng dạy tại trường Đại học Sư phạm.


Sắp đến ngày 20-11, ngày Nhà giáo Việt Nam, đồng thời kỷ niệm 55 năm nhập trường của lớp sinh viên trường Đại học Sư phạm Văn khoa khóa 1954 – 1957 tại đại giảng đường 19 Lê Thánh Tông, GS.NGND Nguyễn Đình Chú, người học trò năm xưa, nay thành danh sáng nghiệp vẫn không nguôi nhớ về các bậc ân sư một thuở. Cùng với các bạn sinh viên nay là các cụ ông, cụ bà chân chậm, mắt mờ, tóc bạc, ông lại đến thắp hương các thầy. Đã 81 tuổi, thắp nén hương thơm lên mộ, lên ban thờ, trước di ảnh thầy, GS.NGND Nguyễn Đình Chú xúc động mà rơi nước mắt: “Bái lạy linh hồn thầy…”.


 


7. Hội nghị Nhân Dân Thế Giới Bảo Vệ Hoà Bình


và bức thư gửi người bạn Pháp


Trong những hoạt động đối ngoại trên trường quốc tế, luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã tham dự Hội nghị Nhân dân thế giới bảo vệ Hòa bình họp ở Viên – thủ đô nước Áo. Ông Nguyễn Tường Hưng, trưởng nam cố luật sư Nguyễn Mạnh Tường, đã tìm hiểu và cho tôi biết về những diễn biến sau hội nghị này.


 


Song song với cuộc chiến tranh vũ trang, cuối năm 1953, chúng ta mở rộng đấu tranh ngoại giao mà có lẽ nền ngoại giao nhân dân đã được bắt đầu từ những hoạt động tham gia Đại hội nhân dân thế giới bảo vệ Hòa bình ở Viên. Một tổ chức được thành lập để đấu tranh bảo vệ hòa bình thế giới đó là Hội đồng Hòa bình Thế giới mà Đại hội Nhân dân Thế giới họp ở Viên là sự khởi đầu.


 


Để thế giới biết rõ lập trường yêu chuộng hòa bình của Việt Nam, đồng thời khẳng định kiên quyết kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng và Hòa bình không thể tách rời độc lập dân tộc. Ban Bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã ra chỉ thị ngày 2-12-1953 về việc giải thích lời tuyên bố của phái đoàn Việt Nam ở Hội nghị Hội đồng hòa bình thế giới tháng 11 năm 1953, xin trích như sau:


 


“Phái đoàn Việt Nam dự Hội nghị Hội đồng hòa bình thế giới ở Viên vừa phát biểu lập trường, chủ trương của nhân dân Việt Nam đối với chủ trương của Mặt trận Dân chủ hòa bình thế giới hiện nay là giải quyết mọi sự xung đột quốc tế bằng phương pháp hòa bình và giải quyết hòa bình vấn đề Việt Nam...


 


Nhân dân Việt Nam từ trước tới nay vẫn chủ trương chấm dứt cuộc chiến tranh Việt Nam và giải quyết hòa bình vấn đề Việt Nam bằng phương sách thương lượng hòa bình.


 


Bởi vì chủ trương đó là nguyện vọng chung của nhân dân thế giới và cũng phù hợp với quyền lợi của nhân dân hai nước Việt – Pháp.


 


… Chúng ta ủng hộ phong trào hòa bình thế giới nhưng chúng ta tuyệt đối chớ có ảo tưởng rằng hòa bình là một việc dễ dàng. Hòa bình phải do đấu tranh gian khổ mới giành được. Chúng ta chỉ có một con đường để tranh lấy hòa bình thực sự. Con đường ấy là:


 


Vượt mọi khó khăn, tự lực cánh sinh, cải cách ruộng đất, đẩy mạnh kháng chiến đến hoàn toàn thắng lợi…


 


Thay mặt Ban Bí thư


Trường Chinh”


 


Trước đó, tháng 11 năm 1953, Hồ Chủ tịch đã có lời tuyên bố trả lời nhà báo EXPRESEN Thụy Điển:


“Lập trường của nhân dân Việt Nam là: Kiên quyết kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng. Song nhân dân và Chính phủ Việt Nam cũng tán thành thương lượng nhằm mục đích giải quyết hòa bình vấn đề Việt Nam…


 


Đối với nhân dân Việt Nam, Hòa bình không thể tách rời độc lập dân tộc.


 


Cuộc đấu tranh của nhân dân Pháp cho độc lập, dân chủ, hòa bình và đòi đình chỉ chiến tranh ở Việt Nam là một trong những nhân tố quan trọng để giải quyết hòa bình vấn đề Việt Nam”.


 


Để đáp lại thiện chí Hòa bình của nhân dân Việt Nam, thì ngày 20-11-1953 Pháp đã cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ.


 


Luật sư Nguyễn Mạnh Tường được cử đi dự Hội nghị bảo vệ hòa bình châu Á – Thái Bình Dương, Trưởng đoàn là đồng chí Xuân Thủy, sau đó đi dự Hội nghị Nhân dân thế giới bảo vệ hòa bình họp tại Viên – thủ đô nước Áo. Về hội nghị ở Viên, trong hồi ký cụ viết:


 


“Ở thủ đô nước Áo – Viên, những hậu quả của cuộc chiến tranh hãy còn tồn tại ở một vài khu phố, ở đó có nhà chung cư đổ nát còn nhiều chỗ trống mà người ta phải quay lại bằng những rào bằng ván gỗ. Dưới những sân hiên của các cửa hàng cà phê, những bến dọc sông Đan-nuýp hầu như vắng khách. Khách đến chủ yếu là khách du lịch thường say mê các điệu Valse của Strauss. Nhưng nhân dân thủ đô nước Áo lại dành một sự tiếp đón nhiệt tình cho những đại biểu đến để bảo vệ hòa bình. Hàng nghìn đại biểu đến từ các nước khác nhau để thể hiện quyết tâm bảo vệ hòa bình. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, một sự kiện như thế đã xảy ra. Một đại hội gồm các đại biểu của tất cả các nước trên thế giới không phân biệt giới, chủng tộc, chế độ chính trị và xã hội, tôn giáo, ngành nghề đến họp với mục tiêu là bảo vệ hòa bình.


 


Khi những trái bom nguyên tử Mỹ đã xóa sổ thành phố Hiroshima và Nagasaki ra khỏi bản đồ thế giới đã làm cho nhân loại khiếp sợ. Mọi người đều biết rằng vũ khí nguyên tử không chừa một ai trên trái đất này, đó là những người chiến đấu và không tham chiến, trong cuộc chiến này không có người thắng kẻ bại.


 


Một khi chiến tranh nguyên tử xảy ra, trái đất sẽ không còn nhiều người sống sót, sẽ trở thành một tinh tú chết trong khoảng không của vũ trụ bao la. Vì vậy, mỗi người đang sống đều có trách nhiệm bảo vệ hòa bình. Tất cả các dân tộc đều thành lập một mặt trận chung chống chiến tranh vì nền hòa bình lâu dài trên trái đất này.


 


 


 


 Trong đoàn đại biểu hòa bình Pháp, có ông J.P. Sartre, nhà triết học nổi tiếng.


Tôi có dịp gặp và nói chuyện với ông ta trong thời gian nghỉ ngơi của hội nghị về chiến tranh của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp. Ông J.P. Sartre đã biểu hiện sự đồng tình ủng hộ cuộc chiến tranh trường kỳ của nhân dân Việt Nam dành độc lập, tự do. Tôi cũng có dịp nghe giao hưởng thứ năm của Bét-tô-ven khi ngồi cạnh chị Raymonde Dien. Tôi hỏi chị: Với động cơ gì chị đã nằm ngang đường sắt để chắn đoàn xe lửa sắp khởi hành? Chị nói với tôi: Khi tôi biết chuyến xe lửa này mang vũ khí đến Việt Nam, tôi không chịu được khi biết bao người mự, người vợ phải khóc chồng, con. Tôi nghe theo mệnh lệnh của trái tim tôi. Tôi vào nhà ga và thấy đoàn tàu sắp chạy và tôi nhảy vào đường ray, chỉ thế thôi…


 


Trong hội nghị, đồng chí Xuân Thủy, Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam có nói với tôi: Anh hãy cố nói gì với đại hội trước khi chia tay. Thế là bài phát biểu của tôi được đưa cho ông Claude Morgan chủ tạp chí Bảo vệ hòa bình (Revue defense de la Paix).


 “Sau chừng ấy năm với sự khắc nghiệt của thời gian khiến cho tôi chỉ thoáng nhìn thấy bạn qua lớp sương mù kỷ niệm, giờ đây tôi mới có dịp gặp lại bạn giữa biết bao khuôn mặt đầy xúc cảm của các thành viên Phái đoàn Pháp đi dự Hội nghị các Dân tộc. Tôi viết cho bạn những dòng này từ Vienne. Tôi cảm tạ sự tình cờ đã cho tôi được gặp lại bạn ở một thành phố tôi đã biết tới hồi còn trẻ và rất yêu quý, dù cho không yêu quý bằng so với Paris, nơi tôi đã sống những năm dài hạnh phúc, nhưng chắc chắn là nhiều hơn so với London hay Berlin, Madrid hay Rome, Athènes hay Bruxelles, La Haye hay Istanbul mà tôi từng viếng thăm trong những đợt hành hương đầy mê say. Rất có thể những đám mây yêu kiều mà tuổi hai mươi bao bọc lấy con người tôi đã làm cho tôi bước đi trong thế giới với nhiều mộng tưởng hơn thực tế, nhưng tôi thấy như thể sông Danube hồi ấy thật xanh, và tại Vienne, thủ đô của âm nhạc, điệu valse chính là biểu hiện hoạt bát của niềm vui và giống như là tinh chất êm dịu của cuộc đời (…)


 


Người bạn Pháp thân mến, vì đã sống tại đất nước của bạn trong vòng mười năm, đã học tập văn chương của bạn trong vòng ba mươi năm, ngưỡng mộ văn hóa của bạn, yêu mến các nhà văn và nghệ sĩ của bạn, gần gũi với những đứa con trai của bạn trên ghế giảng đường Đại học, tại các thành phố và vùng đồng quê của bạn, tôi biết rõ là nếu chỉ dựa vào dân chúng Pháp, Paris hẳn đã không rơi vào tình thế không xứng đáng với quá khứ như thế, và nước Pháp hẳn là đã không đánh mất đi thứ hạng mà nó từng sở hữu suốt trong ba thế kỷ trên đỉnh cao của lòng nhân đạo và ở mũi nhọn của tiến bộ.


 


Nhưng chưa phải mọi thứ đã bị mất đi. Dân tộc Pháp vẫn luôn được hưởng lòng tin cậy và tình bạn của các dân tộc, ngay cả khi các dân tộc này có đủ lý do để phàn nàn về chính sách của chính phủ Pháp(…)


 


Cầu cho những dòng này tạo nên được một tiếng vọng trong trái tim bạn, Người bạn Pháp mà tôi không hề muốn gọi tên, không mang một khuôn mặt nào. Trong suy nghĩ của tôi, bạn là người đàn ông hay người phụ nữ trong tim đang gầm lên sự căm thù nỗi bất công và bạo lực, người đem đam mê phụng sự cho vinh dự của nước Pháp. Nước Pháp đã đánh mất rất nhiều. Nó không được đánh mất nhiều thêm nữa và nhất là không được đánh mất nền văn hóa ấy, nền văn hóa mang lại cho nó một niềm kiêu hãnh chính đáng, bởi vì nó được truyền cảm hứng từ lòng tôn trọng con người và tình yêu hòa bình, nền văn hóa đã tạo dựng được tên tuổi vững chắc nhất cho tình bạn giữa các dân tộc và sự biết ơn các trí tuệ, một nền văn hóa đang bị một chính sách kém cỏi mỗi ngày lại làm hại thêm một chút. Bạn ơi, người anh em thân mến, tay tôi đây, hãy nắm lấy, chúng ta sẽ cùng nhau chiến đấu bảo vệ những gì quý giá đối với chúng ta”.


 


Kỳ cuối: Tôi nhất định sống và chết với nhân dân trên bờ cõi của đất nước


 “Luật sư có một cái đầu biết suy nghĩ và cái miệng biết nói lên lời, họ hiểu biết pháp lý, biết tranh luận và phê phán, có ý thức cao về nhân phẩm, về danh dự và trách nhiệm. Luật sư phải có cổ cứng để giữ cho khuôn mặt luôn ngẩng cao, có cái nhìn thẳng trước mặt, có con mắt quan sát và tâm trí thì phê phán. Họ luôn đứng thẳng hết chiều cao của tầm vóc mình và bao giờ cũng đứng về phía nhân dân.


Tôi nghĩ rằng có thể khẳng định nghề luật sư là tiêu chuẩn của một nền dân chủ. Ở nước nào mà tiêu chuẩn ấy đang tác động và nghề luật sư với đầy đủ tư cách chính thức được hoạt động thì ở đó nền dân chủ đã thắng lợi” (Nguyễn Mạnh Tường).


 


“Khi gặp hiểm nguy tôi chỉ tìm cách thoát nạn. Lúc cơn sóng gió qua rồi, suy nghĩ về hoạn nạn vừa qua tôi cảm thấy có cái gì là lạ trong đầu óc mình: “À, cái chết chỉ là thế thôi ư?”. Montaigne đã dạy rằng: “Cuộc sống chỉ là một sự chuẩn bị cho cái chết, học tập để làm quen với cái chết”.


 


Tôi đã có lần đã qua một cái chết rồi.


 


Trong một lần đi công tác bị ngã xuống sông, nếu không có người cứu chắc chắn không còn sống.


Hôm đó tôi được mời đi bào chữa cho bị can ở Tòa án nhân dân Đức Thọ gần chợ Thượng Lâm. Khi làm xong nhiệm vụ, sáng sớm tinh mơ tôi nhảy lên xe về Thiệu Hóa – Thanh Hóa là địa điểm của trường Dự bị Đại học. Tôi vừa là giáo sư và là thành viên trong Ban giám đốc cần có mặt tối hôm đó là ngày hội của sinh viên nhân kết thúc năm học. Tôi cố gắng đạp xe về tới trường. Khi đạp được hơn 100 cây số, trời sẩm tối, tôi mệt quá ngã xuống Nông Giang bất tỉnh nhân sự. Nếu không có người cứu, nhất định tôi đã chết đuối. Khi tỉnh lại tôi không biết mình là ai, tên là gì, làm việc gì, tại sao lại ngã xuống Nông Giang. Không biết sau đó ai biết tôi và đưa tôi về nhà. Nhưng khi về đến nhà tôi cũng không nhận được vợ con nữa. Hồn bay phách lạc, tôi như con người mất trí.


 


Dần dần từ ngày này sang ngày nọ tôi mới nhận thức được mình là ai, tên là gì, làm gì…”.


 


Tôi được xem những dòng hồi ký của cụ Nguyễn Mạnh Tường viết về vụ tai nạn trên dòng Nông Giang vào buổi chiều tết Trùng thập (mồng 10 tháng 10 năm Kỷ Sửu). Chiều hôm ấy, bà Nguyễn Dung Nghi vừa ra mở cửa, tôi đã thấy cụ bà Tống Lệ Dung đang ngồi trước hiên nhà. Mái tóc bạc trắng xếp từng lớp thời gian, cụ vẫn minh mẫn ôn lại từng kỷ niệm hơn nửa thế kỷ trước với những năm tháng sống tại huyện Thiệu Hóa tỉnh Thanh Hóa, cạnh sông Chu, làm hàng xóm với gia đình cụ Hồ Đắc Liên – kỹ sư mỏ địa chất, bác Nguyễn Khánh Đàm – anh ruột nhà văn Nguyễn Tuân…


 


Bà Nguyễn Dung Nghi lại điểm vào một nốt nhạc của bản hồi ức kỷ niệm:


 


“Vào một buổi chiều sẩm tối, trên đường đê Nông Giang, ba tôi đi một xe đạp nam với cặp hồ sơ tài liệu kể cả giấy tờ tùy thân được treo ở thanh ngang. Trời bắt đầu mưa. Đi trước là hai anh bộ đội đang trên đường công tác.


 


Để tránh mưa, ba tôi đạp xe vượt lên trước. Hai anh bộ đội đi bộ thấy ba tôi vượt lên trước nhưng sau đó mất hút mặc dù trên bờ sông Nông Giang không còn ai nữa. Đi được một đoạn, các anh phát hiện có chiếc xe đạp rơi xuống vệ đê... Sau khi tìm kiếm dưới sông, rồi làm sơ cứu, các anh đã đưa ba tôi tới một quán nước gần đó cạnh một cây đa.


 


Tỉnh dậy, ba tôi thấy trên mình là quân phục bộ đội. Ngạc nhiên, ba cứ tự hỏi: Mình có bao giờ là bộ đội đâu nhỉ? Bà cụ chủ quán khơi thêm bếp lửa sưởi ấm và cho biết các anh bộ đội thay quần áo cho ba tôi rồi sau đó lại tiếp tục lên đường công tác. Trong đêm tối, bà cụ chủ quán đã cho ba tôi ăn một bát cháo nóng. Sáng hôm sau có người đưa ba tôi về nhà với cặp tài liệu còn nguyên vẹn. Rất tiếc gia đình tôi không gặp được người đưa ba tôi về để cảm ơn và hỏi han chi tiết về tai nạn đã xảy ra”.


 


Cụ bà Tống Lệ Dung:


“Hôm đó ba con được đưa về nhà cứ luôn hỏi đi hỏi lại mợ rằng hôm nay là ngày bao nhiêu? Mợ trả lời hôm nay là ngày 26-6 (năm 1951).


Tiếng người con gọi cha bằng ba tôi vẫn được nghe thường xuyên, nhưng gọi mẹ bằng mợ, phải rất lâu rồi tôi mới được nghe lại. Tiếng gọi mợ của người Hà Nội xưa thanh lịch...


 


Đã 92 tuổi, do một cú ngã, từ hai năm nay cụ bà không tự mình đi lại được, phải có người giúp việc là điều bất đắc dĩ. Cụ vẫn thường tâm niệm  sống ở trên đời phải biết tự lực, còn nếu ngại khó khăn, ngại lao động là mình thất bại trong cuộc đời, không làm được việc gì có ích cho gia đình, cho đất nước.


 


Qua bao thăng trầm của cuộc đời gần trọn trăm năm cõi người, chiều đông được hầu chuyện và cùng cụ bà Tống Lệ Dung nhìn từng dòng người xe qua lại trên phố Tăng Bạt Hổ như hôm nay, tôi lại thầm cảm phục: cuộc đời, sự nghiệp và nhân cách của GS.TS Nguyễn Mạnh Tường.


 


 Như dòng sông quặn thắt lặng lẽ chở phù sa vun đắp cho đời; trong sự nghiệp giáo dục, thầy Nguyễn Mạnh Tường, đã để lại nhiều thế hệ học trò nay đã sáng nghiệp; trong những năm tháng hành nghề luật sư, cụ để lại nhiều huyền thoại… Và cầm trên tay cánh cung hai dây vừa làm thầy giáo vừa làm thầy cãi cũng có lúc cụ gặp tai nạn như chuyện bên bờ Nông Giang; để rồi sau khi thoát khỏi lưỡi hái tử thần trở về với nhân dân, người trí thức lớn ấy lại toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân:


 


  “Tôi có thể nói được rằng tôi đã chết rồi.


Tôi tiếc rằng từ lúc tôi ngã xuống đến lúc tỉnh dậy, tôi không còn nhớ được gì đã xảy ra.


 


Một lỗ hổng tối đen mang quãng đời nhận thức của tôi mất đi toàn vẹn. Trong ký ức của tôi có một khoảng trống, không tồn tại một hình ảnh, một nhận thức nên nữa. Tôi đi đến kết luận rằng: Ranh giới giữa cái sống và cái chết rất là mỏng manh. Chết là mất nhận thức và chìm đắm trong một vực tối đen. Có thế thôi, vì vậy tôi cảm thấy cái chết không phải là cái gì đáng sợ và từ đó tới nay tôi vẫn sẵn sàng chờ đợi cái chết một lần nữa. Ai đã vớt tôi khỏi chết, ai đã níu áo tôi lại để tôi không nằm lại đáy Nông Giang. Một người nào đó vô danh đã cứu tôi và vô tình buộc tôi lại bước vào cuộc sống lần thứ hai cũng như bố mẹ tôi đã sinh ra tôi lần thứ nhất, nhập tôi vào cuộc đời.


Nếu tôi nhận định rằng con người của tôi ngày nay là con đẻ của nhân dân thì đúng hay sai?


Bổn phận và nghĩa vụ của tôi đối với nhân dân trước đây đã có nay lại được tăng cường lên vì tôi không chỉ là một con người trong nhân dân mà chính là đứa con của nhân dân đẻ ra. Vì vậy, không có gì lạ rằng tôi phải sống và chết vì nhân dân. Dù phải chịu nỗi khổ cực điêu đứng, tai hại đến đâu đi nữa, tôi không thể nào quên được rằng cái gì đã gắn bó tôi với nhân dân và mối tình cốt nhục còn nặng hơn tình yêu hoặc tình bè bạn. Một mối tình như vậy không phải chỉ nói lên trên môi mà phải thấm thía trong lòng, phải biểu hiện bằng hành động cụ thể, bằng những hy sinh để xứng đáng với nhân dân, bố mẹ “tinh thần” của tôi.  


Khổ thế này chứ khổ hơn nữa tôi cũng không thể xa rời, từ bỏ bố mẹ để đi mưu cầu một số phận tươi vui hơn được. Một người con làm trọn bổn phận đối với những người đã sinh thành ra mình là cảm thấy rất sung sướng và bình tĩnh.  


Đó là bí quyết tại sao tôi vẫn vui vẻ lạc quan và tin tưởng ở tương lai. Nhân dân đã trả lại cho tôi một Tổ quốc, lại cứu sống tôi, tôi nhất định sống và chết với nhân dân trên bờ cõi của đất nước”.


Kiều Mai Sơn


Nguồn: Bài in 8 kỳ trên bee.net/vietstudies.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Một tài năng lớn, một tuổi trẻ Anh hùng bị tha hóa – Hay là Bi kịch Nguyễn Đình Thi - Trần Mạnh Hảo 15.02.2020
Toàn văn phát biểu của Fidel Castro tại La Habana ngày 21/02/1979 - FIDEL Alejandro Castro Ruz 15.02.2020
Nghề Dệt ở Bảy Hiền - Nhiều tác giả 13.02.2020
Chuyến tàu Thống Nhất đầu tiên: Nối dài nỗi nhớ Hà Nội - Sài Gòn - Tư liệu 13.02.2020
Thị Nghè: Rạch, cầu, chợ đều đi vào lịch sử - Tư liệu 13.02.2020
Đồng Tâm: Vì sao? Vì sao? Vì sao? - Hoàng Xuân Phú 12.02.2020
"Messi" của toán học 7 lần đến Việt Nam - Tư liệu sưu tầm 12.02.2020
Thế giới đang phải trả giá cho sự cai trị độc đoán ở Trung Quốc - Nicholas Kristof 09.02.2020
Vương quốc Na Uy - Norway - Tư liệu sưu tầm 09.02.2020
Toàn văn Thông điệp Liên bang của Tổng thống Mỹ D.Trump - DONALD John Trump 06.02.2020
xem thêm »