tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 31241759
15.12.2010
Kiều Mai Sơn
Nguyễn Mạnh Tường - Luật sư huyền thoại (2)

3. Năm 1945: Vụ án tờ báo Tin Mới, vụ Quản Dưỡng


1.  VỤ ÁN TỜ BÁO TIN MỚI


Cụ Trịnh My – nhân chứng báo chí Hà Nội một thời. Trước cách mạng Tháng Tám 1945 cụ làm phóng viên cho nhiều tờ báo, trong đó có báo Tin Mới. Sau Cách mạng Tháng 8, cụ đi làm thông tin tuyên truyền kháng chiến. Theo bước chân bộ đội, cụ đã xông pha nhiều trận đánh, đã vào đồn Đông Khê khi còn mịt mù khói súng để lấy tin chiến thắng (như chiến dịch Biên giới năm 1950).


 


Năm 1952, mắc bệnh hiểm nghèo, nhờ có bác sỹ Tôn Thất Tùng giúp đỡ, cụ trở về Hà Nội chữa trị. Khỏi bệnh, cụ lại cầm bút. Hiệp định Genève được ký kết, chủ báo di cư vào Nam, nhà báo Trịnh My cùng nhà báo Hiền Nhân và anh em công nhân đã khéo léo đấu tranh để giữ máy móc, duy trì nhà in, chờ quân ta vào tiếp quản và báo lại được ra đều. Từ đó cụ được giao chuyên mục thể thao - bóng đá của báo Thời Mới với bút danh TR.M (sau này báo Thủ đô Hà Nội và báo Thời Mới sáp nhập thành báo Hà Nội mới).


 


Khi làm báo Tin Mới, cụ có vướng vào pháp đình và nhờ sự vào tài biện hộ của luật sư Nguyễn Mạnh Tường. Về sự kiện này, cụ nhớ lại.


 


Sau ngày Nhật đảo chính Pháp 9-3-1945, lập Chính phủ Trần Trọng Kim, bổ nhiệm Khâm sai hai miền Nam – Bắc, Tỉnh trưởng người Việt thay cho Công sứ người Pháp. Các cơ quan hành chính, tư pháp đều do quan chức Nhật nắm quyền. Báo chí vẫn được xuất bản bình thường, trừ một vài thay đổi nhỏ: Báo La volonté indochinoise (Ý chí Đông Dương) của Pháp buộc phải đổi tên là L’Entente (Hòa hợp), báo Đông Pháp phải đổi tên là Đông Phát. Chỉ thị đầu tiên cho các báo là chỉ được đưa tin của hãng thông tấn Domei (Nhật Bản) và Transocean (Đức quốc xã) cấm đưa tin của các hãng thông tấn Anh, Mỹ, Pháp, Liên Xô… Kiểm duyệt chặt chẽ các báo chí toàn bộ nội dung đến từng dòng, từng chữ, chỉ sơ suất một từ hoặc một ý nghi ngờ là báo bị tịch thu, đình bản, người viết bị truy tố, hoặc bị bắt. Nhà báo Trần Xuân Sinh bị Nhật nghi ngờ vô căn cứ giam ở hầm hãng nhà dầu Shell (trụ sở Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước - phố Trần Hưng Đạo - Hoàn Kiếm - Hà Nội ngày nay) mấy tháng cho tới ngày 19-8-1945 mới được cách mạng giải cứu.


 


Thời gian đó tôi (Trịnh My) làm ở báo Tin Mới – Chủ nhiệm là bác sĩ Nguyễn Tấn Gi Trọng, Chủ bút là nhà báo Tam Lang Vũ Đình Chí, Quản lý báo là ông Vũ Kiên. Trụ sở báo đóng ở phố Lagisquet (nay là phố Chân Cầm). Tình cờ lấy được một tin của ủy ban thóc gạo Bắc Kỳ thành lập “kho thóc Nghĩa Xương” sức cho các tỉnh thông báo cho các chủ ruộng đóng góp vào kho thóc để cứu tế, phòng khi mất mùa, bão lụt (thực chất để nuôi quân Nhật) có định mức căn cứ vào số ruộng nhiều hay ít. Tin này được đăng để người đọc ở Hà Nội có ruộng ở quê biết.


 


Nạn đói tràn lan khủng khiếp. Ở nông thôn phát xít Nhật bắt đồng bào ta nhổ lúa trồng đay. Làng mạc xơ xác tiêu điều. Hàng vạn người từ các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên… bồng bế nhau lũ lượt rời bỏ quê hương lên các tỉnh, thành phố xin ăn. Nhiều bà mẹ gạt nước mắt cho con để khỏi chết đói. Các tổ chức từ thiện không sức nào cứu tế nổi. Hà Nội bao phủ cảnh thương tâm. Có thể nói ra khỏi nhà là gặp xác chết. Sáng sớm, xe chở rác thu nhặt xác chết như củi khô chở ra chôn ở ngoại thành.


 


Bẵng đi đến đầu tháng năm, tôi nhận được giấy gọi của tòa án gửi đến tòa soạn. Viên dự thẩm căn vặn tôi: “Ý đồ tin đó nhằm mục đích gì?” Tôi trả lời: “Để bạn đọc ở Hà Nội có ruộng ở quê  biết và cũng để thể hiện phong tục tốt đẹp của nhân dân ta “lá lành đùm lá rách”. Y báo cho tôi biết sẽ bị truy tố trước tòa vì tội “tiết lộ bí mật quốc gia”.


 


Báo nhờ luật sư Nguyễn Mạnh Tường bào chữa. Văn phòng luật sư của ông hồi đó ở góc đường Quán Thánh trông sang đường Cổ Ngư (nay là đường Thanh Niên - quận Tây Hồ - Hà Nội).


 


Vụ án được xử tại tòa án Hà Nội trước vài trăm người trong đó có nhiều anh em làm báo. Anh Vũ Kiên và tôi (Trịnh My) ngồi ghế bị cáo. Ai cũng lo cho chúng tôi vì đây là phiên tòa do sức ép của Nhật. Sau lời buộc tội của viên phó biện lý Nguyễn Văn Hòa, luật sư Nguyễn Mạnh Tường bào chữa cho chúng tôi độ 30 phút. Ông nói về trách nhiệm người làm báo đối với bạn đọc, bác lời buộc tội của viên phó biện lý là “thiếu căn cứ” và ông kết luận:


 


- “Hai thân chủ của tôi ngồi đây không có tội. Bị cáo phải là ban kiểm duyệt vì chính ban kiểm duyệt đã cho đăng tin này”.


 


Trước bồi thẩm đoàn, luật sư Nguyễn Mạnh Tường đưa ra bản dập thử (mo-rát) có dấu phòng kiểm duyệt, không thấy bút chì xanh xóa bỏ tin đó.


 


Trước bằng chứng rành rành, tòa án không có lý lẽ gì kết tội chúng tôi, song để giữ thể diện, vẫn trắng trợn tuyên án chúng tôi một năm tù án treo và 10. 000 đồng tiền phạt. Chúng tôi định chống án, xong luật sư Nguyễn Mạnh Tường bảo: “Chẳng cần. Thời cuộc sắp thay đổi đến nơi. Bản án sẽ không còn giá trị”. 


 


Quả thực không bao lâu sau sau phiên xử, khắp mọi nơi nhân dân ủng hộ mạnh mẽ mặt trận Việt Minh. Sau ngày 19-8-1945 cách mạng thành công, tôi sung sướng tiếp tục làm báo dưới chế độ dân chủ cộng hòa độc lập và tự do. Và tôi không bao giờ quên là ngày 2-9-1945, tôi được đi cùng đoàn xe của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Bắc Bộ Phủ lên Quảng trường Ba Đình, tường thuật cuộc mit-tinh lịch sử.


 


2. VỤ QUẢN DƯỠNG - VỤ ÁN LỚN DƯỚI CHÍNH THỂ  VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ


Sau khi dự Hội nghị Đà Lạt về, GS Nguyễn Mạnh Tường quay trở về nghề luật sư, nhưng lần này do Chính phủ cử ra để bào chữa cho bị cáo. Hồi ký của GS Nguyễn Mạnh Tường viết: “Hồi đó ông Bùi Lâm có đến bảo tôi là Chính phủ yêu cầu luật sư bào chữa cho những vụ xét xử hiện nay và nay mai rất là quan trọng, cần phải những luật sư có tên tuổi”.


 


Tôi nói: “Tôi là giáo sư, là luật sư, nếu Chính phủ muốn giao cho tôi nhiệm vụ luật sư, tôi xin sẵn sàng”.


 


Luật sư ở trong nước thì có nhiều nhưng những người được bà con biết tên tuổi như Bùi Tường Chiểu, Trần Văn Chương, Nguyễn Mạnh Tường, Phan Anh, Đỗ Xuân Sảng… thì còn ít. Lúc đó luật sư Trần Văn Chương đang trong nhà lao, còn các vị khác như luật sư Hồ Đắc Điềm, Phan Anh, Phan Mỹ... thì bận nhiều việc hành chính trong chính quyền mới nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vụ án luật sư Nguyễn Mạnh Tường được mời bào chữa lần này là vụ Quản Dưỡng.


Vào thời kỳ Cách mạng tháng Tám 1945 đã xảy ra nhiều cuộc biểu tình của quần chúng để ủng hộ Việt Minh. Sáng ngày 19 tháng Tám, sang Phủ Khâm sai theo thông lệ hàng ngày, giáo sư Nguyễn Xiển, Giám đốc Đài Thiên văn Phủ Liễn – từ Kiến An (Hải Phòng) về Hà Nội đã can ngăn Khâm sai đại thần Bắc Bộ mới (thay cụ Phan Kế Toại vừa từ chức) là y sĩ Nguyễn Xuân Chữ, không được nổ súng vào quần chúng biểu tình đang tiến vào chiếm Phủ Khâm sai.


 


“Bấy giờ bên cạnh ông (Nguyễn Xuân Chữ), tôi (Nguyễn Xiển) nhìn thấy có mặt một số người tôi không quen. Chưa nói chuyện được bao nhiêu thì đoàn người biểu tình có vũ trang kéo đến bao vây Phủ Khâm sai, sau này mới được gọi là Bắc Bộ Phủ. Cái cảnh nhân dân bao vây và vượt vượt qua hàng rào sắt xông vào tòa nhà đó thì máy ảnh đã ghi vào lịch sử. Còn chuyện gì xảy ra ở bên trong, có lẽ tôi (Nguyễn Xiển) là một người hiếm hoi có may mắn tình cờ được chứng kiến.


 


Thật tình sáng hôm ấy tôi cũng bị bất ngờ như Nguyễn Xuân Chữ. Nhiều người bạn của ông Chữ tháo chạy ra cổng sau. Tôi ở lại vì không nỡ bỏ mặc một mình ông ấy. Lúc đó đội bảo vệ Phủ Khâm sai đã dàn quân, tì súng vào bao lơn trước cửa chính dẫn vào phòng khách. Có cả lính núp ở dưới nhà hầm chĩa súng ra bên ngoài. Tôi khuyên ông Chữ ra lệnh cho đội bảo vệ rút lui vì nghĩ rằng một tiếng súng nổ có thể gây tai họa. Sau này tôi mới được biết anh em đội bảo vệ đã được cách mạng vận động từ đêm trước nên đã sẵn sàng nộp súng cho Việt Minh. Ông Chữ có lẽ quá bàng hoàng trước tình thế đột ngột diễn ra nên cứ đờ ra không biết làm gì. Tôi phải dẫn ông ra gặp đại biểu của quần chúng. Ông Chữ ra đối diện với đoàn biểu tình nhưng không nói được một lời nào. Quần chúng ùa vào chiếm Bắc Bộ Phủ…


 


Tôi đi ra tìm xe đạp về nhà, trong lòng rất phấn khởi trước khí thế cách mạng của nhân dân, vui mừng một phần vì đã quyết định theo tình cảm tự nhiên của mình, ngả về phía quần chúng, không chần chừ ngay trong giây phút vừa qua, giây phút mà sau này được coi là lịch sử” (Theo Hồi ký của cụ Nguyễn Xiển, Tạp chí Xưa & Nay số 78 – tháng 8-2000).


 


***


Nhưng ở Hà Đông, Trần Văn Dưỡng, người gốc Quảng Yên, trước làm lính khố xanh, khố đỏ cho thực dân Pháp, thường gọi là Quản Dưỡng đã ra lệnh cho lính Bảo an binh bắn vào đoàn người biểu tình làm 70 người chết.


 


Vụ án được xét xử tại Hà Đông. Đây là vụ án lớn đầu tiên kể từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập. Chánh án phiên toà là luật sư Phan Mỹ (em ruột luật sư Phan Anh thời điểm đó là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng).


 


“Khi ô tô tôi (Nguyễn Mạnh Tường) vào đến Hà Đông, vào trong phòng đợi, hai bên quần chúng đều đeo khăn tang, toàn là gia đình người bị nạn. Khi bào chữa cho Quản Dưỡng, mỗi lời tôi (Nguyễn Mạnh Tường) nói lên là kèm theo tiếng khóc của một bà vợ hay một người con”.


 


Sau này luật sư Nguyễn Mạnh Tường còn tham gia bào chữa nhiều vụ án khác tại các Toà án Quân sự, Toà án Nhân dân, Toà án trong Cải cách Ruộng đất theo yêu cầu của Nhà nước.


 


4


Làng Sêu - Cứu một phụ nữ thoát án tử hình


Đã sắp bước sang tuổi 80, nhưng nhà giáo Nguyễn Lâm (sinh năm 1932), quê xã Viên Nội, huyện Ứng Hoà, tỉnh Hà Tây cũ, từng là giáo viên cấp 3 tại thị xã Bắc Kạn, rồi trường Trung học Nguyễn Trãi và Chu Văn An - Hà Nội cho đến khi nghỉ hưu, vẫn lưu giữ trong ký ức của ông những kỷ niệm đẹp về một vùng quê và một con người – người trí thức huyền thoại – luật sư Nguyễn Mạnh Tường.


 


Thôn Trinh Tiết, xã Đại Hưng, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông cũ. Một làng quê trù phú, thanh bình, đứng soi mình bên dòng sông Đáy thơ mộng với tên nôm rất hóm: làng Sêu. Làng Sêu có chợ Sêu ở giữa làng, mỗi tháng họp sáu phiên, mồng một, mồng sáu, mười một, mười sáu, hăm mốt, hăm sáu. Làng nằm trên dải bậc thềm phù sa cổ, nhiều truyền thuyết.


 


Theo các cụ già của làng thì từ Sêu bắt nguồn từ chữ Bối Lang, là tên cổ nhất của làng. Sau này làng còn có tên Trinh Tiết từ một xuất xứ thật đẹp. Đó là câu chuyện về người con gái xinh đẹp của làng có người yêu đi đánh giặc, phò vua. Nặng lời ước hẹn, cô gái đã một lòng thuỷ chung, trinh tiết để chờ đợi vị hôn phu. Còn chàng trai ra đi đánh trận, đi mãi không về. Cô gái mòn mỏi đợi chờ nên tuổi xuân qua đi lúc nào không hay. Rồi nàng mất đi trong sự cảm thông, thương tiếc của dân làng. Về sau, có một vị vua đi qua làng đã được nghe câu chuyện cảm động trên. Cảm phục và tiếc thương, vua đã lấy tấm tình của cô gái thành tên gọi của làng. Cái tên Trinh tiết được ra đời từ đấy.


 


Làng Sêu đẹp và thơ mộng với những ngôi đình, chùa cổ kính khắc dấu ấn thời gian lên từng mạch gỗ. Đường làng lát vỉa, sạch sẽ sau mỗi cơn mưa. Những ngõ xóm hẹp ẩn hiện những ngôi nhà nhỏ sau lớp rào râm bụt hoặc chuối được cắt tỉa vồng lên thành những cái cổng xinh xắn.


 


Hàng cau, bể nước, sân gạch, những nong tằm nhả tơ vàng óng, tiếng khung cửi lách cách đêm khuya… Đẹp nhất vẫn là dòng sông Đáy chảy lững lờ bên làng. Bãi dâu xanh ngát trải dài ven sông… Có chợ, có trường, có đường, có bến sông. Buổi chiều về, những cánh buồm đủ kiểu no gió đưa những con thuyền lướt trên sông nước khi ẩn khi hiện trong màn sương buông xuống mờ đục.


 


Trong kháng chiến chống Pháp, Sêu là một trong những thị trấn sầm uất của Liên khu III. Cuộc sống thanh bình, thơ mộng khi đó vẫn diễn ra bất chấp chiến tranh đang đến gần.


 


Cách xa Hà Nội khoảng 50 cây số, có dáng dấp một thị trấn hậu cứ, thấp thoáng những con người của thị thành, làng Sêu lúc đó thật là lý tưởng để tụ hội và giao lưu những mạch chảy của bộ máy kháng chiến chống Pháp. Sêu là điểm dừng chân xuôi ngược trên đường lên Việt Bắc hoặc vào khu Tư… Nhiều nhân vật có tên tuổi trong kháng chiến đã qua đây.


 


Cũng nơi đây, dưới mái đình làng, trường Trung học Nguyễn Huệ trong kháng chiến đã ra đời theo phương pháp giáo dục Hoàng Xuân Hãn.


 


Trường làng Sêu hồi đó hay tổ chức xử án, có luật sư Nguyễn Mạnh Tường nổi tiếng, bào chữa cho các bị cáo rất hùng biện, hấp dẫn quần chúng.


 


Các phiên toà được diễn ra vào ban đêm, ngoài giờ học nên đã lôi cuốn nhiều bà con và các em học sinh tới dự không chỉ vì tò mò hay giải trí mà muốn nghe tài biện hộ của luật sư.


 


Nhà giáo Nguyễn Lâm ghi nhớ mãi phiên toà của toà án quân sự đặc biệt Liên khu III được mở để xét xử bị can là vợ của một lãnh tụ Quốc dân đảng ở Vĩnh Yên, sào huyệt của tổ chức phản động này hồi đó đã được tổ chức trong ánh đèn măng-sông. Chánh án là luật sư Lê Văn Chất.


 


Luật sư Nguyễn Mạnh Tường khoác chiếc áo thụng đen, tay áo rộng đã vung vẫy đôi tay “biểu diễn” những lời bào chữa dành cho thân chủ của mình:


 


- “Đối với nhân thân người phụ nữ này, tôi cho rằng đó là một người phụ nữ có nhan sắc, nói năng lưu loát và sắc sảo, đã có một đời chồng là thợ may, sau này làm vợ của một tên tướng Quốc dân đảng, bà ta còn đảm nhiệm việc cung cấp lương thực cho đội quân của chồng. Tuy là người có tội vì phục vụ cho bọn Việt gian phản động, với mức án dự kiến là tử hình, nhưng xét về khía cạnh nào đó, bà ta là một người có tài mà không dễ gì một phụ nữ có thể đảm đương được”.


 


Luật sư Nguyễn Mạnh Tường cho là người thợ may làm sao xứng đáng làm chồng của người vợ này. Vì vậy bà ta đã có đời chồng thứ hai là tướng của Quốc dân đảng. Lấy chồng thì phải theo chồng kể cả phải đảm nhiệm là người tổ chức hậu cần cung cấp lương thực cho đội quân của chồng là điều có thể hiểu được.


 


- “Về mặt luật pháp đúng là người đàn bà này có tội nhưng xét về mặt nhân đạo có nên áp đặt án tử hình cho người phụ nữ này không? Nhất là trong khi đó ở nước ta chưa có tiền lệ áp dụng tử hình cho một người phụ nữ nào cả”.


 


Chánh án Lê Văn Chất, liền viện dẫn ở Pháp đã có trường hợp một phụ nữ bị án tử hình, ông còn nêu tên tuổi của người đó. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường liền đáp một cách nhanh nhẹn:


 


 - “Thưa ông Chánh án, làm sao chúng ta lại bắt chước thực dân Pháp, chính thể của chúng ta là chế độ Dân chủ Cộng hoà. Ngoài ra chúng ta còn đang chiến đấu chống lại thực dân Pháp để bảo vệ nền dân chủ còn non trẻ. Vì vậy tôi đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng án tử hình cho người phụ nữ này”.


 


Sau thời gian nghị án một cách chóng vánh, phiên toà được kết thúc với mức án tuyên không phải là án tử hình và tính mạng của người phụ nữ này đã được bảo toàn nhờ tài năng của Luật sư Nguyễn Mạnh Tường.


 


5. Nụ hôn Nguyễn Mạnh Tường


Thái Bình là tỉnh đồng bằng Bắc Bộ bị Pháp chiếm đóng sau. Vì thế, thời kỳ 1947-1949, nhiều trí thức tên tuổi của đất nước theo cơ quan hoặc tản cư về Thái Bình: Bùi Kỷ, Tăng Xuân An, Trịnh Đình Rư, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Tường Phượng, Hoàng Như Mai, Nguyễn Mạnh Tường…


 


Tiến sĩ Luật khoa Đào Quang Huy, học trò Giáo sư - Tiến sĩ - Luật sư Nguyễn Mạnh Tường ở trường Bưởi (nay là trường Trung học Quốc gia Chu Văn An - Tây Hồ - Hà Nội) kể lại một chuyện có thật nhưng đầy huyền thoại về một phiên toà diễn ra ở làng Xuân Thọ, huyện Đông Quan, tỉnh Thái Bình. 


 


Vào thời kỳ 1947-1949 có một câu chuyện dân gian xuất hiện, lan truyền rất nhanh. Chuyện rằng: Một thanh niên nông dân đi làm đồng về, thấy anh Đại đội trưởng đóng tại nhà, đang ôm ấp vợ mình. Sẵn cái cuốc trên tay, anh ta phang một cái, Đại đội trưởng chết ngay. Phiên toà mở ra với ý định xử thật nghiêm tội giết người và làm mờ nhạt các tình tiết khác để giữ uy tín cho bộ đội.


 


Luật sư Nguyễn Mạnh Tường được chỉ định bào chữa. Ông chỉ có ít phút gặp thân chủ của mình. Diễn biến phiên toà đúng như chủ định: Anh nông dân chịu án tử hình và được phép nói lời cuối cùng. Anh nhìn Chánh toà, nhìn Luật sư, ngập ngừng nói: “Xin phép được hôn bà Chánh toà trước khi chết”.


Bị bất ngờ, Chánh toà không kịp trấn tĩnh, đập bàn quát mắng anh nông dân rằng tội lỗi đến thế mà còn dám hỗn láo, nói liều. Nhân đó, Luật sư Nguyễn Mạnh Tường nói thêm: “Thưa ông Chánh toà, ông là người có học thức, suy nghĩ chin chắn, mà trước một câu nói không đâu của người sắp chết, còn nổi giận ghê gớm như thế. Phương chi, anh nông dân nghèo ít học kia, trông thấy người đàn ông khác trong buồng vợ mình thì sự giận dữ đến mức hành động thiếu suy nghĩ là điều có thể hiểu được”.


 


Kết quả cuối cùng, anh nông dân được giảm án, thực chất là tha bổng vì hồi ấy Thái Bình đâu có trại giam.


 


Sau phiên toà, luật sư Lê Văn Chất mắng luật sư Nguyễn Mạnh Tường: “toa xỏ moa”, rồi hai ông cả cười. Chánh toà là luật sư Lê Văn Chất, có người vợ trẻ, đẹp. Và ai cũng hiểu rằng câu nói cuối cùng của anh nông dân do “ai”mớm lời, là “nụ hôn Nguyễn Mạnh Tường”.  


Đoạn trên được trích từ bài viết “Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường: người thầy giáo, nhà sư phạm tài danh” của nhà giáo Phạm Viết Hoàng, trong cuốn “Gương mặt người thầy” (NXB Giáo dục 2008) .


 


 


Tôi nhìn lại danh sách những trí thức tên tuổi của đất nước theo cơ quan hoặc tản cư về Thái Bình trong bài viết của nhà giáo Phạm Viết Hoàng thấy chỉ còn duy nhất GS.NGND Hoàng Như Mai – nguyên Hiệu trưởng trường Trung học Phan Thanh (tỉnh Thái Bình) trong kháng chiến chống Pháp.


 


Trưa ngày 13/8/2009, theo lời hẹn trước, tôi đến ngôi biệt thự trong phố Trần Quốc Tuấn – quận 1 – thành phố Hồ Chí Minh như một ẩn sĩ trầm mặc giữa phố thị. GS-NGND Hoàng Như Mai chống can (ba-toong) nhẹ bước ra thanh thoát, gương mặt hồng hào nhân hậu toát lên cùng mái tóc bạc như mây trời.


 


Cụ mới ra viện được 5 ngày, sức khỏe hãy còn yếu, nhưng cụ vẫn đồng ý tiếp, để kể cho tôi nghe chuyện về Giáo sư – Tiến sĩ – Luật sư Nguyễn Mạnh Tường. GS-NGND Hoàng Như Mai mở đầu câu chuyện với một giọng thanh, ấm và truyền cảm, nếu không được biết từ trước có lẽ tôi không đoán được người học trò của thầy Nguyễn Mạnh Tường ở trường Bưởi năm xưa, nay đã 91 tuổi.


 


Sắp đại hội văn nghệ khu 3, thì ông Trần Thiếu Bảo – Giám đốc nhà xuất bản Minh Đức chơi trội, đăng cai cả một cuộc “luận chiến văn nghệ” tại đình làng Khuốc (Cổ Khúc – Tiên Hưng – Thái Bình) trong 3 ngày. Địa điểm tổ chức là mượn của một gia đình giàu có.


 


“Dịp này thầy Nguyễn Mạnh Tường về để dự hội nghị văn nghệ Thái Bình kết hợp bào chữa cho một vụ án. Độ mới đầu kháng chiến cũng có tòa án xử đàng hoàng cả.


 


Anh lục sự ở đấy nghe tiếng ông Nguyễn Mạnh Tường hùng biện nổi như cồn thì muốn thử xem sự thực hư ra sao. Anh ta mời thầy Tường đến và cứ thao thao bất tuyệt kể chuyện nọ xọ chuyện kia để thầy không có thì giờ xem hồ sơ. Thầy Tường lật lật qua hồ sơ rồi ra ngoài ngồi nói chuyện. Hôm sau, trước tòa, thầy cãi rất hay. Anh lục sự phải sợ khiếp vía. Vì ông chỉ xem qua vài sự kiện trong hồ sơ thôi mà ông cãi được.


 


Vụ thầy Tường cãi đó là: cô con dâu cầm dao đâm bố chồng. Tôi không dự cái cuộc ấy nhưng được nghe người ta kể lại.


 


Thầy Tường bào chữa: Xưa nay chuyện bố chồng con dâu, nhất là mẹ chồng nàng dâu xung đột với nhau là chuyện rất điển hình ở xã hội Việt Nam xảy ra coi như cơm bữa. Nhưng vì sao cô này lại đâm bố chồng? Vì khẩu hiệu của kháng chiến: Mỗi người sẵn sàng cầm vũ khí trong tay để giết giặc. Cho nên lỗi tại có vũ khí kia chứ không thì chị ấy không phạm tội giết bố chồng.


 


Thành ra người ta kính trọng thầy Nguyễn Mạnh Tường tại sao ông giỏi thế.


 


Vụ cãi của thầy Tường tôi nghĩ cái đó cũng rất điển hình – thầy thông minh lắm.


 


6. Vụ án quân nhân Liên khu IV giết người


Mùa hè năm 1951, trăng hạ huyền đã gác đầu non, cả thị trấn Đức Thọ - Hà Tĩnh im lìm trong giấc ngủ say. Riêng quán “Mẹ chiến sĩ” do bà Cửu Mân phụ trách vẫn sáng ánh lửa. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường không chợp được mắt, dẫu cho ông vừa có một hành trình dài đạp xe từ Thanh Hoá vào Đức Thọ. Nhiệm vụ của ngài luật sư là biện hộ cho một quân nhân giết người. Đây không phải là lần đầu tiên ông tranh tụng trước tòa về vụ án quân nhân. Tình tiết vụ án lần này mà luật sư nhận được từ hồ sơ... không phức tạp về lý nhưng về tình thì...


 


Một anh thanh niên cha mất sớm, mẹ ở vậy nuôi anh khôn lớn, rồi anh xung phong nhập ngũ vào chiến trường Bình Trị Thiên. Trải qua những ngày đầu chiến đấu gian khổ nhưng thành tích có được đủ để anh tự hào. Được về phép, anh như đứa trẻ háo hức muốn khoe với mẹ. Vừa bước chân vào nhà, đúng lúc đó, anh bắt gặp một cảnh tượng mà dẫu có trong mơ không bao giờ anh ngờ tới… Mẹ anh và ông hàng xóm... theo ngôn ngữ lúc đó gọi là hủ hóa. Sự uất ức dồn nén của mặc cảm, anh vác gậy đánh ông ta chết ngay tại chỗ. Toà án quân sự Liên khu IV đem ra xét xử công khai tại sân vận động Đức Thọ một quân nhân giết người.


Lặng im bao quanh! Cơn gió lướt qua như những cơn mưa rơi xuống vai luật sư Nguyễn Mạnh Tường. Ông đang có mặt trên đất tỉnh Hà Tĩnh, huyện Đức Thọ, xã Châu Phong, một vùng quê khá đặc biệt. Cái làng nho nhỏ nằm bên bờ La Giang này là quê hương của bốn dòng họ lớn, thiên hướng rất khác nhau.


 


Đầu làng là họ Hoàng, sinh ra Hoàng Cao Khải (1850–1933), tự Đông Minh, hiệu Thái Xuyên, một đại thần thân Pháp dưới triều nhà Nguyễn: Khâm sai Kinh lược Bắc Kỳ, tước Duyên Mậu quận công, thượng thư Bộ Binh và làm phụ chính đại thần cho vua Thành Thái; Thái tử Thái phó, Văn minh điện Đại học sĩ, Tổng đốc tỉnh Hà Đông, giúp Thống sứ Bắc Kỳ soạn Nghị định về tổ chức bộ máy quản lý cấp xã ở Bắc Kỳ. Mặc dù sau này đã xây dựng Thái Hà ấp ngoài Hà Nội nhưng trước đó Dinh của Hoàng Cao Khải ở Đông Thái vẫn chiếm diện tích gần nửa làng.


 


Cuối làng là họ Trần, học rộng, có chức sắc trong triều, là Giải nguyên Trần Văn Phổ, tri huyện Đức Phổ (tỉnh Quảng Ngãi) đồng thời lại là thân sinh ông Trần Phú - Tổng bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1930 – một ông trùm Cộng sản.


 


Giữa làng là hai chi của hai dòng họ Phan. Họ Phan Đình có cụ Đình nguyên Phan Đình Phùng đã dấy binh Cần Vương, khởi nghĩa chống Pháp, oanh liệt một thời trong suốt 10 năm (1885 – 1896). Họ Phan Văn, có Phan Văn Điện, thường gọi là cụ Đồ Điện, thông minh, trí tuệ nhưng không đi làm quan, cũng không đi làm cách mạng. Phan Văn Điện chuyên môn đi thi thuê, nhiều quan huyện, quan phủ và cả quan Tổng đốc đầu tỉnh đỗ đạt được làm quan là nhờ mua các bài thi của cụ. Cụ ngất ngưởng, đi kinh lý khắp nơi, thấy chướng tai gai mắt là cụ chửi, chọc ngoáy, các quan tức mà không dám làm gì. Cụ Đồ Điện lại là thân sinh ra hai ông luật sư Phan Anh và luật sư Phan Mỹ đang giữ trọng trách trong Chính phủ kháng chiến Cụ Hồ. Ông Phan Anh là Bộ trưởng Kinh tế và ông Phan Mỹ là Chánh Văn phòng Phủ Thủ tướng.


 


Luật sư Nguyễn Mạnh Tường lần giờ lại tất cả các vụ án đã được học khi còn là sinh viên cho đến những vụ án thực tế của người dân Việt Nam mà ông từng biện hộ dưới hai chế độ thực dân và Chính phủ Cụ Hồ. Ông nhớ tới một vụ án, khi Chưởng lý đã kết án tử hình. Người luật sư nhìn lên đồng hồ, lúc đó đã gần 12 giờ đêm, ông ta thuyết phục quan toà hãy cố lán lại đến 0 giờ.


 


Đúng 0 giờ! Tiếng chuông Noel vang lên. Luật sư dõi đôi mắt nhìn khắp lượt bồi thẩm đoàn cho đến người tử tù vừa bị kết án, ông dõng dạc:


 


- “Thưa quý Ngài! Hôm nay là Noel, ngày Thiên Chúa giáng sinh. Vậy lẽ nào chúng ta lỡ kết tội tử hình một con chiên của Chúa”?


 


Câu hỏi từ chuyện tiếng chuông Noel đã đánh thức lòng trắc ẩn của Chánh án và bồi thẩm đoàn. Đó là thủ thuật của luật sư, phải biết lựa thời điểm...


 


Khi tiếng chim mòng biển lảnh lót rít lên vào lúc rạng đông xoáy sâu trong tâm trí cũng là lúc luật sư Nguyễn Mạnh Tường tìm gỡ được đầu mối vụ án.


 


Toà án Liên khu IV xét xử quân nhân giết người được trang trí như một sân khấu dưới trăng, tại sân vận động huyện Đức Thọ - Hà Tĩnh, với một bàn luật sư bên cạnh bàn chủ tọa. Cáo trạng trong hồ sơ mà ông Chánh án đọc lên với những lời luận tội nghiêm khắc dành cho anh quân nhân: tử hình! Xong, ông nghiêng mình lịch thiệp mời luật sư biện hộ.


 


Nghe tên Luật sư Nguyễn Mạnh Tường dân chúng hiếu kỳ phía dưới bắt đầu ồn ào bàn tán gây mất trật tự. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường bước lên, một động tác rất khéo, rất kỹ thuật mà không ai hiểu là cố ý hay vô tình. Một cú ngã! Ông nghè sõng soài xuống sàn và nằm chỏng chơ trước phiên toà. Phía dưới dân chúng được một tràng cười rộ lên. Cười xong, tất cả đều im lặng.


Lúc này luật sư Nguyễn Mạnh Tường mới bắt đầu lên tiếng bào chữa. Ông hỏi:


 


 - Ai là tội phạm trong vụ giết người này?


 


- Luật sư hỏi chi lạ rứa ? Cáo trạng ghi rành rành ra đó - Ông Nguyễn Xuân Linh, Chánh án của phiên tòa khẽ cười nụ - Anh quân nhân kia là kẻ giết người chứ ai.


 


- Chính người bị giết, chính ông hàng xóm kia mới là tội phạm.


 


Cả phiên toà bất ngờ ồ lên. Luật sư nói tiếp:


 


- Hãy xem xét lại tâm thế của anh bộ đội. Yêu mẹ, kính mẹ từ bé đến lớn. Anh đi chiến đấu vì Tổ quốc, vì lý tưởng cao đẹp. Được nghỉ phép, anh trở về gặp mẹ trong niềm vui báo công nhưng chính trong hoàn cảnh ông hàng xóm hủ hóa với mẹ đã làm anh không còn là mình nữa. Đây là động tác của tình mẫu tử. Tội giết người do ông hàng xóm là tác nhân gây lên. Anh bộ đội về trong tâm thế gặp mẹ, trong tình cảm hạnh phúc chứ. Chính ông hàng xóm đẩy anh vào tình thế giết người. Vì vậy tội lỗi hoàn toàn do ông hàng xóm gây ra.


 


Tiếng luật sư Nguyễn Mạnh Tường trầm ấm:


 


- Thưa quý tòa, thưa bà con Liên khu IV, bây giờ chúng ta xử như thế nào? Ta đưa một anh thanh niên, một quân nhân có thành ích giết giặc như thế này, chỉ vì động tác của tình mẫu tử mà phạm tội giết người, vào tội tử hình, để quân đội, để Tổ quốc mất một chiến sĩ hơn hay ta để cho anh trở về chiến đấu với đơn vị thì hơn?


Luật sư vừa dứt lời, quần chúng phía dưới vỗ tay vang dội hưởng ứng.


(còn tiếp)


Kiều Mai Sơn


Nguồn: Bài in 8 kỳ trên bee.net/vietstudies.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Một tài năng lớn, một tuổi trẻ Anh hùng bị tha hóa – Hay là Bi kịch Nguyễn Đình Thi - Trần Mạnh Hảo 15.02.2020
Toàn văn phát biểu của Fidel Castro tại La Habana ngày 21/02/1979 - FIDEL Alejandro Castro Ruz 15.02.2020
Nghề Dệt ở Bảy Hiền - Nhiều tác giả 13.02.2020
Chuyến tàu Thống Nhất đầu tiên: Nối dài nỗi nhớ Hà Nội - Sài Gòn - Tư liệu 13.02.2020
Thị Nghè: Rạch, cầu, chợ đều đi vào lịch sử - Tư liệu 13.02.2020
Đồng Tâm: Vì sao? Vì sao? Vì sao? - Hoàng Xuân Phú 12.02.2020
"Messi" của toán học 7 lần đến Việt Nam - Tư liệu sưu tầm 12.02.2020
Thế giới đang phải trả giá cho sự cai trị độc đoán ở Trung Quốc - Nicholas Kristof 09.02.2020
Vương quốc Na Uy - Norway - Tư liệu sưu tầm 09.02.2020
Toàn văn Thông điệp Liên bang của Tổng thống Mỹ D.Trump - DONALD John Trump 06.02.2020
xem thêm »