tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28944059
Tiểu thuyết
26.11.2010
Liep Nicôlaievich Tônxtoi
Chiến tranh và Hòa bình

Cội nguồn của sức mạnh phi thường đã khiến cho ông ta hiểu thấu ý nghĩa của những hiện tượng đang diễn ra là cái tình cảm nhân dân mà ông mang trong lòng với tất cả sự thuần khiết và sức mạnh của nó.


Chỉ vì nhận thấy ông có tình cảm này mà nhân dân đã dùng những đường lối kỳ lạ để chọn một ông già đang thất sủng, trái với ý muốn của Sa hoàng, làm người đại diện cuộc chiến tranh nhân dân. Và chỉ có cái tình cảm ấy mới có thể đặt ông lên địa vị tối cao của con người để cho ông, với tư cách tổng tư lệnh, dốc hết sức lực ra không phải để giết chóc và tiêu diệt người ta, mà để cứu vớt và xót thương họ.


Cái nhân cách giản dị, khiêm tốn nên thật là hùng vĩ của ông không sao lắp vừa vào cái khuôn giả tạo của một bậc anh hùng Âu châu, gọi là một kẻ lãnh đạo dân chúng, mà sử học đã bày đặt ra.


Đối với một người hầu phòng không thể có ai là vĩ nhân được bởi vì người hầu phòng có một quan niệm riêng về sự vĩ đại[1].


VI


Ngày mồng năm tháng mười một là ngày đầu tiên của cái gọi là trận Crasnôiê. Chiều hôm ấy, sau nhiều cuộc cãi vã và nhiều lầm lỗi của các tướng (họ đã đem quân đi sai hẳn kế hoạch) sau những cuộc sai phái sĩ quan phụ tá đi truyền những mệnh lệnh trái ngược với mệnh lệnh cũ, khi đã thấy rõ rằng đâu đâu quân địch cũng bỏ chạy và trận đánh không thể diễn ra được và sẽ không diễn ra, Cutudốp rời Crasnôiê đến Đôbrôiê, nơi đại bản doanh vừa chuyển đến trong ngày hôm ấy.


Ngày hôm ấy trời quang đãng và giá lạnh, Cutudốp cưỡi con ngựa bạch béo phị cùng với một đoàn tùy tùng đông đúc gồm những viên tướng bất mãn với ông đang xì xào sau lưng ông, đi về phía Đôbrôiê. Suốt dọc đường, đâu đâu cũng thấy những toán tù binh vừa bắt được ngày hôm ấy đang sưởi quanh những đống lửa trại (ngày hôm ấy số tù binh bắt được là bảy nghìn). Cách Đôbrôiê không xa, có một lũ tù binh rất đông, áo quần rách rưới, mình quấn và trùm bất cứ thứ gì có thể vớ được, đang đứng nói chuyện ồn ào trên đường cái cạnh một dãy dài súng đại bác Pháp đã tháo ra khỏi xe. Khi vị tổng tư lệnh đến gần, tiếng nói chuyện im bặt và mọi con mắt đều đổ dồn về phía Cutudốp đầu đội mũ trắng vành đỏ và mình mặc chiếc áo khoác bông cộm lên trên đôi vai gù, đang chậm rãi đi trên đường cái. Một trong các viên tướng báo cáo cho Cutudốp rõ những khẩu pháo và những đám quân lính này bắt được ở đâu.


Cutudốp hình như đang mải suy nghĩ điều gì nên không nghe những lời viên tướng nói. Ông nheo mắt có vẻ không bằng lòng và chăm chú nhìn bóng dáng lũ tù binh - một cảnh tượng thật là thảm hại. Mặt bọn lính Pháp phần lớn đều trông không ra mặt người nữa vì mũi và má đều bị chết cóng, mắt thì hầu hết đỏ gay, sưng húp và ghèn rử nhầy nhụa.


Một tốp lính Pháp đứng sát mé đường, có hai người - mặt một trong hai người đầy những vết lở loét - đang lấy tay xé một miếng thịt sống. Có một cái gì thú vật và khủng khiếp trong khóe mắt của họ, khi họ liếc nhìn những người qua đường và trong cái vẻ hằn học của người lính mặt lở loét khi hắn gườm gườm nhìn Cutudốp rồi lập tức quay đi tiếp tục nốt công việc đang làm.


Cutudốp chăm chú nhìn hai người lính này một hồi lâu, mặt ông càng nhăn nhó thêm, ông nheo mắt và lắc đầu ra dáng trầm ngâm. Ở một chỗ khác, ông để ý đến một người lính Nga đang vỗ vai một người lính Pháp vừa cười nói với hắn một câu gì đó thân mật. Cutudốp lại lắc đầu với cái vẻ tư lự như ban nãy.


- Anh nói gì? - Ông hỏi viên tướng đang tiếp tục báo cáo và xin tổng tư lệnh lưu ý đến những ngọn quân kỳ vừa mới cướp được, bây giờ xếp trước mặt hàng ngũ trung đoàn Prêôbragienski.


- À, cờ! - Cutudốp nói, vẻ như đang chật vật rứt ra khỏi những vấn đề khiến ông bận tâm suy nghĩ. Ông lơ đãng đưa mắt nhìn quanh. Từ khắp bốn phía, hàng nghìn cặp mắt nhìn vào ông, chờ nghe ông nói.


Đến trước trung đoàn Prêôbragienski, ông dừng lại, buông một tiếng thở dài nặng trĩu và nhắm mắt. Một người nào đấy trong đoàn tùy tùng vẫy tay ra hiệu cho các binh sĩ đang cầm cờ đến đứng quanh vị tổng tư lệnh và trình cờ cho ngài xem. Cutudốp im lặng mấy phút, rồi vẻ miễn cưỡng rõ rệt, chẳng qua vì cương vị bắt buộc, ông ngẩng đầu lên và bắt đầu nói. Từng đám sĩ quan vây quanh ông ta. Ông đưa mắt chăm chú nhìn qua các sĩ quan một lượt, nhận mặt một vài người trong đám đông.


- Xin cảm ơn mọi người - ông nói với các binh sĩ rồi lại nói với các sĩ quan. Trong bầu không khí im phăng phắc ở chung quanh, người ta nghe rõ mồn một những lời nói của ông thong thả buông ra - Xin cảm ơn mọi người đã phục vụ trung thành trong cảnh khó khăn. Quân ta đã toàn thắng, và nước Nga sẽ không quên các người. Vinh quang thay cho các người trong ngàn muôn thế kỷ! - Ông im lặng một lát, mắt nhìn quanh.


 - Hạ thấp đầu nó xuống, hạ thấp xuống - ông bảo một người lính đang cầm một quân hiệu phượng hoàng của Pháp và vô tình chúc nó xuống trước mặt ngọn quân kỳ của trung đoàn Prêôbragienski - Thấp nữa, thấp nữa, thế, thế. Anh em ơi, Ura! - ông hất cằm quay phắt về phía các binh sĩ hô to.


- Ura - ra-ra-ra! - hàng nghìn tiếng hô vang lên như sấm.


Trong khi quân lính reo hò, Cutudốp ngồi khom lưng trên yên cúi đầu xuống và con mắt ánh lên một tia sáng dịu hiền, hầu như giễu cợt.


- Bây giờ thế này anh em ạ - ông nói khi tiếng hò reo đã ngớt.


Và bỗng nhiên giọng nói và vẻ mặt ông thay đổi. Đây không còn là một vị tổng tư lệnh nữa, mà là một ông già bình dị, hẳn là đang muốn nói một điều gì rất cần với các bạn đồng ngũ của mình.


Đám quân sĩ và các hàng ngũ quân lính lao xao xê dịch một lát để nghe cho rõ những điều ông sắp nói.


- Anh em ạ. Tôi biết các anh em khổ lắm, nhưng biết làm thế nào được? Cố kiên nhẫn một chút, chẳng còn lâu nữa đâu. Khi nào tiễn hết các ông khách ta sẽ nghỉ ngơi cho bõ. Sa hoàng sẽ không quên công lao của anh em. Anh em khổ thật, nhưng dù sao anh em cũng đang ở trên đất nhà, chứ như bọn chúng - anh em xem nông nỗi chúng nó đến thế nào - ông chỉ đám tù binh nói. Còn tệ hơn lũ ăn mày cùng khốn nhất. Khi chúng còn mạnh, chúng ta không thương xót gì chúng hết, còn bây giờ thì có thể thương hại chúng. Chúng cũng là người. Có phải thế không anh em?


Ông đưa mắt nhìn quanh, và trong những khóe mắt chăm chú, băn khoăn và kính cẩn hướng vào ông, Cutudốp đọc thấy sự đồng cảm của những lời ông vừa nói: mặt ông mỗi lúc một bừng sáng lên trong một nụ cười hiền lành của người già cả, bên khóe mi và bên mép hiện lên những nếp nhăn hình rẽ quạt. Ông im lặng một lúc và cúi đầu xuống như có vẻ băn khoăn.


- Nhưng nói cho phải, ai khiến chúng đến đất chúng ta? Đáng đời quân chó đẻ, đ... mẹ chúng nó... - ông bỗng ngẩng đầu lên nói. Rồi khua roi ngựa một cái, lần đầu tiên trong suốt chiến dịch, ông cho ngựa phi nước đại rời khỏi những đội ngũ rối loạn hẳn đi của những quân lính đang vui sướng cười rộ lên và reo hò "ura".


Có lẽ những lời Cutudốp nói quân lính cũng chẳng hiểu gì mấy. Chắc không ai có thể truyền đạt lại nội dung, những lời lẽ lúc đầu thì long trọng mà về cuối thì xuề xòa của vị thống soái già, nhưng ý nghĩa rất sâu kín của những lời nói thì không những họ hiểu, mà ngay cả cái cảm xúc đắc thắng trang trọng kết hợp với lòng thương xót kẻ thù và ý thức về chính nghĩa của mình, biểu hiện ra bằng câu chửi chất phác của một ông già - ngay cả cái cảm xúc đó cũng ở trong lòng mỗi người lính và được biểu lộ ra bằng một tiếng reo hò vui sướng kéo dài một hồi lâu. Sau đó, khi một viên tướng hỏi xem vị tổng tư lệnh có cần gọi xe ngựa đến không, Cutudốp trong khi trả lời bỗng nấc lên một tiếng: chắc là ông đang xúc động mạnh.


VII


Ngày mồng tám tháng mười một, ngày cuối cùng của các chiến sự ở Crasnôiê, khi quân đội đến nơi nghỉ đêm thì trời đã sẩm tối. Suốt ngày hôm ấy trời lặng gió và giá lạnh, tuyết buông từng bông nhẹ thưa thớt, đến tối trời bắt đầu quang. Qua các bông tuyết có thể thấy bầu trời màu tím thẫm đầy sao và khí trời mỗi 1úc một thêm giá lạnh.


Trung đoàn xạ thủ, ra đi từ Tarutinô với quân số ba nghìn nhưng nay chỉ còn chín trăm, là một trong những đơn vị đầu tiên đến chỗ trú chân, trong một cái làng trên đường cái lớn. Những người tiền trạm ra đón trung đoàn cho biết rằng bao nhiêu nhà dân đều chật ních những lính Pháp ốm hoặc đã chết, những kỵ binh hoặc những bộ tham mưu. Chỉ tìm được một ngôi nhà cho trung đoàn trưởng.


Trung đoàn trưởng cưỡi ngựa về ngôi nhà dành cho mình. Trung đoàn kéo qua làng và dừng lại gần những ngôi nhà cuối cùng cạnh đường cái, xếp súng lại thành từng cụm.


Như một con vật khổng lồ rất nhiều tay chân, trung đoàn bắt tay vào việc lo xếp đặt chỗ ăn chỗ ở. Một số binh sĩ phân tán vào khu rừng bạch dương ở bên phải làng, lội trong tuyết dày ngập đến đầu gối, tiếng củi khô gãy răng rắc và tiếng nói cười vui vẻ, một số khác đi lại quanh chỗ xe ngựa của trung đoàn xếp thành một khóm làm trung tâm cho doanh trại; họ đi lấy nồi, lấy bánh mè kho và cho ngựa ăn cỏ, một số nữa thì tản vào trong làng dọn chỗ cho sĩ quan tham mưu, đem những thây lính Pháp trong các nhà ra ngoài, kiếm những tấm ván, những bó củi khô và rút rơm rạ ở các mái nhà nhen lửa, rút hàng rào mắt cáo để làm nơi trú ẩn.


Chừng mười lăm người lính ở phía sau các nhà gỗ ở cuối làng vừa reo hò vui vẻ vừa lay tấm phên đan của một cái nhà kho đã rút mất mái.


- Nào, nào, đều tay nhé, dô ta nào! - Họ reo hò và tấm phên to tướng lấm tấm bụi tuyết lung lay làm những mảnh băng bám trên phên óng ánh lên trong đêm tối. Những cái cọc ở chân phên kêu răng rắc mỗi lúc một dồn dập và cuối cùng phên đổ sập xuống đất cùng với những người lính đang xô vào nó. Có tiếng cười rộ lên và tiếng reo hò vui vẻ..


- Bưng lên! Hai người một! Đem cái đòn lại đây! Thế, thế. Này chui đi đâu thế hả?


- Đều tay nào, đều tay nhé... Khoan đã các cậu!.. Nghe hiệu lệnh đây!


Ai nấy đều im lặng và giọng một người êm như nhung cất lên, hát khe khẽ một bài. Vào cuối đoạn thứ ba, đúng vào lúc âm thanh cuối cùng vừa tắt, hai mươi người cùng hò lên một lúc: "Dô ta! Được rồi! Đều tay nhé! Lên nào!..", nhưng mặc dầu họ đã đã ra sức kéo đều tay, tấm vách cũng chẳng nhúc nhích được bao nhiêu, và trong phút im lặng tiếp theo có thể nghe rõ tiếng thở nặng nhọc.


- Ê, đại đội sáu! Cái lũ ma quỷ kia! Lại đỡ một tay nào... rồi chúng tớ đền công cho.


Chừng hai mươi người thuộc đại đội sáu đang đi vào làng đều nhập bọn với những người đang kéo. Tấm phên, dài đến năm xagien và rộng khoảng một xagien, đè suốt cả vai những người lính đang thở hổn hển, bắt đầu tiến trên con đường làng.


- Đi đi chứ... Đẩy mạnh đi nào... Sao lại đứng ì ra thế? Thế, thế...


Những tiếng chửi rủa tục tằn và vui vẻ vang lên không ngớt.


- Bọn bay làm cái gì thế? - Bỗng nghe tiếng quát hách dịch của một viên hạ sĩ quan đang chạy về phía những người khiêng ván.


- Các ngài chỉ huy đang ở đây: có cả quan[2] tướng ở trong nhà ấy, thế mà chúng bay, đồ quỷ sứ... đồ chết tiệt, ông cho chúng bay... - viên hạ sĩ quan quát và dang tay đấm vào lưng người lính gần nhất. - Khe khẽ một tí không được à?


Tốp lính im bặt. Người lính vừa bị đánh đứng thẳng dậy, vừa rên hừ hừ vừa quệt máu trên khuôn mặt bị sướt vì va phải tấm phên.


- Lão đánh khỏe thật, đổ quỷ! Làm mình chảy cả máu mặt - anh ta rụt rè nói khe khẽ khi viên hạ sĩ quan đã bỏ đi.


- Cậu không thích à? - Một giọng cườt cợt hỏi và tốp lính cố nói nhỏ bớt, tiếp tục kéo tấm phên đi. Ra khỏi làng, họ lại nói bô bô như cũ, luôn mồm văng ra những câu chửi vu vơ y như lúc nãy.


Trong ngôi nhà gần chỗ toán lính kéo phên qua, các vị chỉ huy cao cấp đang tụ tập và sau bữa dùng trà họ nói chuyện rôm rả về những việc xảy ra trong ngày vừa qua và về những cuộc hành quân dự định. Người ta đang bàn là sẽ tiến hành một cuộc chuyển quân đường chéo sang phía trái, cắt đứt đạo quân của phó vương và bắt sống ông ta.


Khi toán lính kéo tấm phên về đến nơi, xunh quanh đã tập trung nhiều bếp lửa. Củi nổ tí tách, tuyết tan quanh bếp và những bóng binh sĩ đen ngòm đi lại đó đây khắp khoảng tuyết giẫm phẳng đánh dấu nơi đóng trại.


Khắp bốn phía, rìu và dao ráo riết hoạt động. Mọi việc đều tự phát tiến hành không cần mệnh lệnh gì cả. Họ đi kiếm củi để dành đốt suốt đêm, dựng lều cho các vị chỉ huy, đun nấu, sắp xếp súng ống đạn dược.


Tấm phên lớn do đại đội tám kéo về được dựng thành một hình bán nguyệt ở phía bắc, họ đóng cọc chêm cho vững và ở phía trước họ nhóm lên một bếp lửa. Trống điểm hiệu lệnh thu quân, các đơn vị kiểm điểm quân số, họ ăn bữa tối và quây quần chung quanh các bếp lửa để ngủ đêm - người chữa giày, người hút thuốc, người đánh trần ra bắt rận.


VIII


Người ta có thể hình dung một hoàn cảnh sống gian khổ hầu như không thể tưởng tượng được của quân lính Nga lúc bấy giờ - không có ủng ấm, áo ấm, dầu dãi ở giữa trời, chân lê trên tuyết trong khi trời rét 100 dưới không, thậm chí lương thực cũng không đủ ăn và không phải bao giờ cũng theo kịp đoàn - ắt hẳn binh sĩ phải hết sức buồn bã và ảm đạm.


Nhưng thật ra chưa bao giờ, dù trong hoàn cảnh vật chất khả quan nhất cũng vậy, chưa bao giờ cảnh sinh hoạt của quân đội lại vui vẻ náo nhiệt đến thế. Sở dĩ như vậy là vì cứ mỗi ngày tất cả những ai bắt đầu ngã lòng hay suy yếu đều bị loại ra khỏi quân đội. Những ai yếu đuối về thể lực và tinh thần đều đã bị bỏ lại phía sau từ lâu và bây giờ chỉ còn lại cái tinh hoa của quân đội về sức mạnh vật chất cũng như tinh thần.


Ở đại đội tám là nơi có mấy tấm phên, quân lính tụ tập đông đúc hơn cả. Hai viên sĩ quan cũng đến ngồi với họ, và bếp lửa của họ cháy sáng hơn các bếp khác. Họ ra điều kiện là ai có mang củi đến mới được ngồi vào khoảng đất có tấm phên chắn gió bấc.


- Ê, Makâyép, mày làm sao rồi... đi đâu mất mặt thế hả? Hay chó sói nó xơi mất rồi? Mang củi về nhé - một người lính mặt đỏ, tóc hoe quát, mắt nheo nheo và chớp lia lịa vì cay khói, nhưng vẫn không nhích xa đống lửa - Hay thôi mày đi đi, thằng quạ khoang, nhớ mang về ít củi - anh ta nói với một người khác. Anh lính tóc hung này chẳng phải là ông cai ông đội gì, nhưng lại là người lính khỏe mạnh, vì thế anh ta lên giọng sai bảo những người yếu hơn. Người lính gầy nhỏ có cái mũi nhọn mà người ta vừa gọi là thằng quạ khoang, ngoan ngoãn tuân theo đứng dậy toan đi, nhưng vừa lúc ấy đã thấy bóng dáng thanh tú của một người lính trẻ tuổi bước vào vùng sáng của đống lửa, tay ôm một bó củi.


- Mang lại đây. Tốt lắm!


Họ chẻ củi, chất thành đống, ghé mồm thổi và lấy áo khoác quạt cho to lửa lên. Ngọn lửa reo vù vù, củi nổ tí tách. Các binh sĩ nhích lại gần châm thuốc hút. Người lính trẻ tuổi, đẹp trai vừa mang củi về chùi hai tay vào vạt áo và bắt đầu nhanh nhẹn và khéo léo giẫm đôi chân rét tại chỗ cho ấm.


- “Ôi, mẹ ơi, sương lạnh, sương lạnh buông xuống người pháo thủ... - Anh ta hát khe khẽ, cứ mỗi chữ lại như nấc lên một tiếng.


- Ê, đế giày cậu sắp đi đứt rồi kìa! - người lính tóc hoe kêu lên khi thấy đế giày anh kia lủng lẳng dưới chân - nhảy nhót mãi!


Người lính đang nhảy dừng lại, giật miếng da long vứt vào lửa.


- Đúng đấy cậu ạ - anh ta nói, đoạn ngồi xuống rút trong bạc đà ra một mảnh dạ xanh của Pháp và bắt đầu quấn quanh chân. Hơ cho nó chín, anh ta vừa nói thêm vừa giơ chân về phía lửa.


- Ít nữa họ sắp phát giày mới đấy. Nghe nói khi nào xong xuôi họ sẽ phát quân trang, quân dụng mỗi người hai suất.


- Này, cái thằng Pêtrốp chó chết ấy nó ở lại dọc đường rồi - một viên hạ sĩ quan nói.


- Tớ để ý hắn từ lâu rồi - một người khác trả lời.


- Ờ, lính tráng gì cái thứ ấy...


- Còn ở đại đội ba nghe nói hôm qua khi điểm số thiếu mất chín người.


- Thì cậu thử nghĩ xem, chân cóng thế này còn đi xa làm sao được?


- Này đừng có nói nhảm! - Viên hạ sĩ quan nói.


- Hay mày cũng muốn học đòi hắn? - Một người lính già nói với người vừa kêu lên là chân cóng, giọng trách móc.


- Thế thì bác bảo sao? - Người lính có cái mũi nhọn biệt hiệu là quạ khoang, vụt đứng dậy ở phía bên kia đống lửa, nói the thé. Thằng béo thì hóa gầy, mà thằng gầy thì đi đứt. Như tôi đây chẳng hạn. Tôi chẳng còn chút sức lực nào nữa, anh ta bỗng quay sang viên hạ sĩ quan, nói giọng cương quyết. Ông cho tôi đi bệnh xá thôi, tôi ê ẩm cả người ra rồi, nếu không trước sau tôi cũng tụt lại dọc đường.


- Thôi được rồi, được rồi,- viên hạ sĩ quan điềm tĩnh nói.


Người lính nhỏ bé lặng thinh và cuộc chuyện trò lại tiếp tục.


- Hôm nay bắt được nhiều lính Pháp quá, quả thật chẳng đứa nào còn lấy một đôi ủng cho ra hồn, chỉ gọi cho có vẻ thôi chứ ủng iếc gì - một người lính nói để mở đầu một câu chuyện khác.


- Bọn Cô dắc lột hết ủng của chúng đấy. Khi dọn nhà cho đại tá nghỉ, họ vứt chúng ra ngoài. Trông đến thảm, các cậu ạ - người lính giẫm chân lúc nãy nói - Khi xem lại thấy có một thằng còn sống, cậu có tin không, hắn cứ nói lúng búng cái gì ấy.


- Mà chúng nó sạch thật đấy các cậu ạ, - người thứ nhất nói.- Trắng lốp như bạch dương ấy, có nhiều tay trông bảnh lắm cậu ạ, chắc là con nhà quý phái.


- Thế cậu tưởng sao? Bên ấy thuộc tầng lớp nào cũng phải đi lính.


- Mà chúng nó chẳng biết lấy một tiếng Nga nào, - người lính giẫm chân nói, miệng mỉm cười ra vẻ băn khoăn. - Mình bảo hắn: "Mày theo vua nào?", thế là hắn nói xí xéo một thôi, người ngợm kỳ thật!


- Cái này mới lạ chứ, các cậu - người vừa lấy làm lạ về nước da trắng trẻo của quân Pháp nói. - Nông dân họ kể lại rằng ở Môgiai khi thu dọn chiến trường, xác của chúng nằm ở đấy đến một tháng trời rồi, họ bảo thế. Chúng nằm đấy, trắng phau như tờ giấy, họ bảo thế, sạch bong, chả có tí mùi gì.


- Chắc vì trời lạnh quá chứ gì? - Một người hỏi.


- Chà cậu thông minh nhỉ! Lạnh gì! Hồi ấy bức bỏ mẹ đi ấy chứ. Nếu lạnh thì xác của quân ta cũng chả thối. Đây họ bảo là hễ đến gần một xác lính ta là thấy nhung nhúc những dòi. Thế là phải lấy khăn bịt mũi, họ bảo thế, rồi quay mặt đi mà kéo, không sao chịu được. Cái xác của chúng thì trắng phau như tờ giấy, họ bảo thế, chả có tí mùi gì.


Mọi người im lặng một lát.


- Chắc vì thức ăn đấy, viên hạ sĩ quan nói. - Bọn chúng ăn sang như ông lớn ấy.


Không ai cãi lại.


- Anh mugích ấy, cái anh ở Môgiai nơi có đánh trận ấy mà, có nói là sau trận đánh nhau, họ đã huy động mười hai làng ra dọn trong hai mươi ngày mà vẫn chưa hết xác. Nghe nói chó sói...


- Ừ, trận ấy ghê lắm, người lính già nói. Chỉ có trận ấy mới đáng nhớ, còn về sau thì... chỉ khổ là khổ thôi.


- Đúng đấy bác ạ. Hôm kia chúng tôi vừa gặp chúng, nhưng chúng có để cho mình lại gần đâu. Chưa chi đã vứt cả súng, quỳ cả xuống. Pácđông[3] - chúng nó nói thế. Lính tráng thế đấy, chỉ làm vì thôi mà. Nghe nói ông Platốp đã hai lần bắt được thằng cha Pôliôn[4] ấy nhưng ông ta không biết cách. Ông ta bắt một cái, thế mà hắn biến thành con chim bay mất tăm, mà cũng chả có cách gì biết được hắn.


- Chà, xem ra cậu nói láo cừ thật đấy Kixêliép ạ.


- Nói láo là thế nào? Thật mười mươi đấy.


- Phải tay tớ thì bắt được một cái là tớ chôn ngay xuống đất, xong cắm một cái cọc gỗ phong vào. Hắn đã làm cho bao nhiêu người chết.


- Đằng nào rồi hắn cũng hết đời thôi, - người lính già vừa ngáp vừa nói.


Câu chuyện bị bỏ lửng, các binh sĩ bắt đầu dọn chỗ ngủ.


- Cậu nhìn sao kìa, sáng lạ lùng! Các bà nhà ta căng vải lên trời đấy. - Một người lính vừa ngắm dải Ngân hà vừa nói.


- Điềm được mùa đấy các cậu ạ. Phải kiếm ít củi nữa mới đủ.


- Lưng thì ấm mà bụng thì lạnh buốt. Lạ thật!


- Ô, lạy Chúa!


- Sao lại cứ ẩy người ta thế, lửa đốt riêng cho mình cậu sưởi hẳn? Xem này... nằm ềnh ra.


Trong khoảng im lặng kế theo nghe có tiếng mấy người ngáy khò khò: những người chưa ngủ trăn trở nằm lại cho ấm, thỉnh thoảng to nhỏ mấy câu. Từ một bếp lửa xa xa cách đấy chừng trăm bước vẳng lại tiếng cười vui vẻ.


- Cậu có nghe thấy không, dân đại đội năm đang cười - một người lính nói. - Bên ấy sao đông thế nhỉ!


Một người lính đứng dậy đi sang đại đội năm rồi trở về nói:


- Bọn họ nói vui ra phết. Có hai thằng Pháp mới đến bên ấy. Một thằng cóng gần chết, còn thằng kia thì lém lắm! Hắn đang hát.


- Thế à? Thử sang xem xem, - mấy người lính đi về phía đại đội năm.


(còn tiếp)


Nguồn: Chiến tranh và Hòa bình, tập 3. Bộ mi, NXB Văn hc, 1-2007. Triu Xuân biên tp. In theo ln xut bn đu tiên tại Vit Nam năm 1961 và 1962 ca Nhà xut bn Văn hóa, tin thân ca NXBn hc. Nhng người dch: Cao Xuân Ho, Nh Thành, Trường Xuyên (tc Cao Xuân Huy) và Hoàng Thiếu Sơn.


www.trieuxuan.info








[1] Ám chỉ một câu tục ngữ Pháp: “Không ai là vĩ nhân đối với người hầu phòng của mình”.




[2] Trong nguyên bản, chữ general (tướng quân) bị nói thành “anaral”.




[3] Xin lỗi, (nông dân Nga thường chỉ biết có một chữ Pháp này).




[4] Ý muốn nói Napôlêông.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
49.
50.
51.
52.
53.
54.
55.
56.
57.
58.Phần Thứ Mười một
59.
60.
61.
62.
63.
64.
65.
66.
67.
68.
69.
70.
71.
72.
73.
74.
75.
76.
77.
78.Phần Thứ tám
79.
80.
81.Phần Thứ sáu
82.Lời Người biên tập và Lời Giới thiệu của Cao Xuân Hạo
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 23.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »