tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28204203
Tiểu thuyết
22.11.2010
Liep Nicôlaievich Tônxtoi
Chiến tranh và Hòa bình

III. Công tước tiểu thư Maria hoãn chuyến đi lên Mátxcơva, Xônhia, bá tước cố gắng thay thế Natasa, nhưng không được. Họ thấy rõ ràng rằng chỉ một mình nàng có thể ngăn mẹ nàng khỏi lâm vào tuyệt vọng điên rồ. Ba tuần lễ Natasa ở liền cạnh mẹ, nằm trên một chiếc ghế bành ngủ trong phòng phu nhân, cho bà ăn uống và thủ thỉ với bà suốt ngày, bởi vì chỉ có giọng nói dịu dàng, mơn trớn của nàng mới có thể an ủi bá tước phu nhân.


Vết thương tinh thần của người mẹ không thể khỏi được. Cái chết của Pêchia đã làm tan vỡ mất một nửa cuộc đời phu nhân. Hôm được tin Pêchia chết, phu nhân còn là một người đàn bà năm mươi tuổi tươi tắn khỏe mạnh, nhưng một tháng sau, khi bước ra khỏi phòng riêng, phu nhân chỉ còn là một con người chết dở và không còn tham dự gì vào cuộc sống nữa - một bà già. Nhưng chính vết thương đã làm cho bá tước phu nhân chết mất một nửa người, chính vết thương ấy đã gọi Natasa trở về với cuộc sống.


Vết thương do sự đổ vỡ của cuộc sống tinh thần gây nên - kể cũng lạ - dần dần khép lại chẳng khác gì một vết thương của thể xác. Và sau khi vết thương sâu đã đâm da non và miệng đã có vẻ liền lại, thì cũng như một vết thương trên cơ thể, chỉ có sức sống từ bên trong thôi thúc mới làm cho vết thương tinh thần khỏi hẳn được.


Vết thương của Natasa cũng khỏi như vậy. Nàng đã tưởng đời nàng thế là hết. Nhưng bỗng tình thương yêu đối với mẹ làm cho nàng thấy rõ rằng cái chất căn bản của đời nàng - tình thương yêu - vẫn còn sống trong nàng. Tình thương yêu đã bừng tỉnh và sức sống cũng bừng tỉnh theo.


Những ngày cuối cùng của công tước Anđrây đã gắn bó Natasa với tiểu thư Maria. Tai họa mới lại càng làm cho hai người gần nhau hơn nữa. Tiểu thư Maria hoãn việc lên Mátxcơva và suốt ba tuần lễ nàng chăm sóc Natasa như chăm một đứa trẻ đang ốm. Những tuần lễ sau cùng mà Natasa túc trực trong phòng mẹ nàng đã làm cho sức lực thể chất của nàng suy sụp.


Một hôm vào buổi trưa, tiểu thư Maria nhận thấy Natasa sốt run lên cầm cập liền dẫn nàng về phòng riêng và đặt nàng lên giường mình. Natasa nằm xuống, nhưng khi tiểu thư Maria buông rèm toan lui thì Natasa gọi nàng lại.


- Em không buồn ngủ, chị Maria ạ, chị ngồi với em một lát


- Natasa mệt rồi đấy! Cô ngủ đi một chút.


- Không, không. Tại sao chị lại đưa em về đây? Mẹ em đang cần em.


- Bác đỡ nhiều rồi. Hôm trước bác đã nói năng tỉnh táo lắm, - nữ công tước Maria nói.


Natasa nằm yên trên giường, trong bóng tối mờ của gian phòng, nàng nhìn khuôn mặt tiểu thư Maria.


"Chị ấy có giống chàng không - Natasa thầm nghĩ - Có, cũng giống mà cũng không. Nhưng chị ấy đặc biệt, xa lạ, hoàn toàn mới mẻ, chưa biết. Và chị ấy yêu mình. Trong tâm hồn chị ấy có những gì? Chỉ toàn những điều tốt. Nhưng sao? Chị ấy nghĩ thế nào? Chị ấy nhìn mình như thế nào? Phải, chị ấy tốt quá".


- Masa - nàng vừa nói vừa rụt rè kéo bàn tay bạn vào lòng- Masa, chị đừng nghĩ rằng em xấu xa quá. Đừng chị nhá? Masa yêu quý của em. Em yêu chị quá. Chúng mình sẽ yêu nhau thật nhiều, mãi mãi như đôi bạn tâm tình thực sự.


Và Natasa ôm lấy Maria, hôn lên tay, lên mặt nàng. Tiểu thư Maria, vừa ngượng nghịu vừa vui mừng trước sự bộc lộ tình cảm của Natasa.


Từ hôm ấy, giữa công tước tiểu thư Maria và Natasa hình thành cái tình bạn thiết tha và đằm thắm chỉ có thể có được giữa hai người đàn bà. Họ hôn nhau không biết chán, thủ thỉ với nhau những lời âu yếm và phần lớn thời giờ đều ở bên nhau. Người này đi đâu thì người kia đứng ngồi không yên và vội vã bỏ đi tìm. Khi ở cạnh nhau, họ thấy tâm hồn họ hòa hợp hơn là khi mỗi người ngồi riêng một mình. Giữa hai người đã hình thành một tình cảm mạnh hơn tình bạn: đó là cái cảm giác khiến họ thấy rằng chỉ ở bên cạnh nhau họ mới có thể sống được; đôi khi họ ngồi lặng thinh suốt mấy tiếng đồng hồ, đôi khi họ đã nằm vào giường rồi nhưng lại bắt đầu nói chuyện và cứ thế chuyện trò mãi cho đến sáng. Phần nhiều họ chỉ nói đến thời dĩ vãng xa xưa nhất. Tiểu thư Maria kể lại những hồi ức về thời thơ ấu của nàng, về cha mẹ nàng, về những ước mơ của nàng; và Natasa, trước kia vẫn bình thản quay lưng với cuộc sống, tận tụy, phục tòng, trước cái thi vị của sự hy sinh Cơ Đốc giáo mà nàng không hiểu, bây giờ lại cảm thấy tình thương yêu đã gắn bó nàng với tiểu thư Maria đến nỗi nàng yêu cả quá khứ của bạn và hiểu được cả cái khía cạnh của cuộc sống trước kia xa lạ đối với nàng. Nàng không nghĩ rằng mình cũng sẽ sống nhẫn nhục và hy sinh như vậy, vì nàng đã quen đi tìm những niềm vui khác, nhưng nàng đã hiểu và biết yêu ở một người khác cái đức hạnh mà trước kia nàng không hiểu. Về phần công tước tiểu thư Maria, trong khi nghe kể lại thời thơ ấu và thiếu niên của Natasa, nàng cũng thấy mở ra trước mắt một khía cạnh của cuộc sống, mà trước kia nàng không hiểu, nàng đã thấy được thế nào là tin tưởng vào cuộc sống vào những thú vui của đời người.


Họ vẫn như cũ, không nhắc đến "chàng" để khỏi dùng ngôn ngữ xúc phạm - họ thấy thế - những tình cảm cao cả ở trong lòng họ và sự im lặng đó dần dần làm cho họ quên chàng, tuy họ không thể nào tin như vậy.


Natasa gầy đi, xanh đi và thể chất nàng suy nhược đến nỗi mọi người đều tỏ ý lo lắng cho sức khỏe của nàng, điều đó làm cho nàng thấy dễ chịu. Nhưng đôi khi nàng bất chợt thấy mình sợ, không những sợ chết, mà còn sợ đau yếu, sợ nhan sắc phai tàn và đôi khi nàng bất giác chăm chú nhìn cánh tay trần của mình, ngạc nhiên khi thấy nó gầy gò như vậy. Sáng sáng, nàng lại đến đứng trước gương ngắm khuôn mặt hốc hác và thiểu não của mình - nàng có cảm tưởng như thế. Nàng có cảm tưởng sự tình phải như vậy nhưng đồng thời nàng cũng thấy sợ và buồn. Có lần nàng lên thang gác rất nhanh và chợt thấy rằng mình thở hổn hển. Nàng bất giác nghĩ ra một việc gì cần phải làm ở dưới nhà, rồi chạy lên thang gác để thử sức và tự quan sát xem sao. Có một lần khác nàng gọi Đunhasa và thấy giọng mình run run. Nàng cất tiếng gọi một lần nữa, mặc dầu đã nghe tiếng chân Đunhasa bước tới - nàng gọi với cái giọng ngực mà nàng thường dùng để hát và lắng nghe giọng mình.


Nàng không biết, và giá có nghĩ đến nữa, nàng cũng sẽ không tin, nhưng dưới lớp bùn dày phủ lên tâm hồn nàng mà nàng có cảm tưởng là không sao chọc thủng được, đã nhú lên những ngọn cỏ mảnh và mềm. Những ngọn cỏ đó sẽ bắt rễ sâu và những chồi non đầy sức sống của nó sẽ bao phủ lên nỗi buồn nặng trĩu trong lòng nàng và chẳng bao lâu nỗi buồn ấy sẽ phai mờ không còn trông thấy rõ, không còn cảm giác được nữa. Vết thương đang đâm da non từ bên trong.


Vào cuối tháng giêng, công tước tiểu thư Maria lên đường đi Mátxcơva, bá tước một mực xin cho Natasa cùng đi với nàng để nhờ các bác sĩ khám bệnh.


IV


Sau trận giao chiến xảy ra ở Viadơma do Cutudốp không đủ sức kìm hãm quân đội đang muốn đánh bật, cắt đứt quân địch v.v..., trong cuộc di chuyển của quân Pháp đang chạy trốn và của quân Nga đang đuổi theo, cho đến Crasnôiê không có một trận đánh nào xảy ra nữa. Quân Pháp chạy nhanh đến nỗi quân Nga đang rượt theo không sao đuổi kịp được họ, đến nỗi ngựa của kỵ binh và pháo binh đành dừng lại và những tin tức về sự di chuyển của quân Pháp bao giờ cũng sai lạc.


Binh sĩ của quân đội Nga bị những cuộc hành quân liên tiếp mỗi ngày bốn mươi dặm này làm cho kiệt sức đến nỗi không sao tiến nhanh hơn nữa.


Muốn hiểu quân đội Nga mệt mỏi đến mức độ nào, chỉ cần hiểu rõ ý nghĩa của sự kiện sau đây: trong suốt thời gian di chuyển từ Tarutinô, mặc dầu số thương vong không quá năm nghìn người và số quân bị địch bắt sống không quá một trăm, quân đội Nga xuất phát từ Tarutinô có mười vạn người nhưng khi đến Crasnôiê thì chỉ còn lại năm vạn.


Cuộc di chuyển nhanh chóng của quân Nga đuổi theo quân Pháp cũng có tác dụng làm cho quân đội Nga tan rã không kém gì cuộc tháo chạy đối với quân đội Pháp. Chỉ khác ở chỗ quân đội Nga di chuyển theo ý mình, không có nguy cơ bị tiêu diệt như quân đội Pháp và ở chỗ những bệnh binh Pháp thụt lại sau thì rơi vào tay địch, còn binh sĩ Nga tụt lại phía sau thì vẫn ở trên đất mình. Nguyên nhân chính khiến quân số Napôlêông giảm sút là tốc độ di chuyển nhanh và một bằng chứng chắc chắn là quân đội Nga cũng giảm sút theo một tỷ lệ tương xứng.


Toàn bộ hoạt động của Cutudốp, cũng như ở Tarutinô và ở Viadơma, đều chỉ nhằm làm sao - trong chừng mực ông có thể làm được - đừng ngăn chặn cái cuộc di chuyển tai hại cho quân Pháp (như các tướng Nga ở Pêtécbua và ở trong quân đội vẫn muốn làm) mà lại tạo điều kiện thuận lợi cho nó và làm cho quân mình đỡ khổ trong lúc hành quân.


Nhưng ngoài việc quân đội tỏ ra mệt mỏi và phải chịu đựng những tổn thất nặng nề do tốc độ di chuyển nhanh chóng gây nên, còn có một nguyên do khác khiến cho Cutudốp ghìm bớt tốc độ di chuyển của quân đội và chủ trương chờ đợi. Mục đích của quân Nga là đuổi theo quân Pháp. Không thể biết quân Pháp sẽ đi lối nào, cho nên quân ta càng theo sát gót quân Pháp bao nhiêu thì càng phải đi nhiều đường bấy nhiêu. Chỉ có cách đi sau chúng một quãng xa xa mới có thể tìm cách đi tắt qua những đường ngoắt ngoéo mà chúng vạch ra. Tất cả những cách hành quân khôn khéo do các tướng đề ra đều thể hiện trong những cuộc chuyển quân, trong việc kéo dài các chặng đường, trong khi mục đích duy nhất hợp lý là làm sao rút ngắn những chặng đường ấy lại. Và trong suốt thời gian chiến dịch, từ Mátxcơva cho đến Vinna, hoạt động của Cutudốp đều hướng tới mục đích ấy - không phải một cách ngẫu nhiên, nhất thời, mà là một cách nhất quán liên tục đến nỗi không có lần nào ông thay đổi hướng hoạt động ấy.


Cutudốp biết, không phải bằng trí tuệ hay tri thức, mà bằng tất cả bản lĩnh người Nga của ông, biết và cảm thấy cái điều mà mỗi người lính Nga đều cảm biết, là quân Pháp đã bị đánh bại, là quân thù đang bỏ chạy và ta cần phải tống tiễn chúng ra khỏi đất nước; nhưng đồng thời ông cùng với binh sĩ cảm thấy tất cả những nỗi gian khổ của cuộc hành quân nhanh chưa từng có ở giữa một thời tiết như thế này.


Nhưng về phần các tướng, nhất là những viên tướng không phải là người Nga, vẫn ước ao tìm cơ hội lập công, muốn làm sao cho người ta kinh ngạc, muốn bắt một ông quận công hay quốc vương nào đấy, chẳng biết để làm gì. Về phần những viên tướng ấy thì trong một hoàn cảnh mà mở bất cứ trận nào đều là ngu xuẩn và vô lý, họ lại thấy rằng bây giờ chính là lúc tiến công và chiến thắng một kẻ nào đấy. Cutudốp chỉ nhún vai khi họ lần lượt tiếp lời nhau đề ra những kế hoạch hành quân với những người lính chẳng có giày, ủng gì cho tươm tất, chẳng có áo ấm, ăn chẳng đủ no, chỉ trong một tháng đã sút mất một nửa quân số tuy không đánh trận nào, bắt những người lính ấy phải đi cho đến tận biên giới qua một khoảng cách còn lớn hơn quãng đường đã đi qua, dù cuộc tháo chạy của quân Pháp có tiếp diễn trong những hoàn cảnh thuận lợi nhất đi nữa.


Cái khát vọng muốn lập công trạng, muốn phô diễn cách hành quân, muốn đánh bật và cắt đứt như vậy, đặc biệt lộ rõ những khi quân Nga chạm trán với quân Pháp.


Ở Crasnôiê đã xảy ra một trường hợp như vậy. Lần ấy, họ tưởng tìm được một trong ba đạo quân Pháp, nhưng kỳ thực đã vấp đúng vào Napôlêông với mười sáu ngàn quân. Mặc dầu Cutudốp đã làm cho quân đội hết cách để tránh cuộc xung đột tai hại này và để dưỡng sức cho quân đội, ba ngày liền ở Crasnôiê những binh sĩ Nga mệt mỏi đã phải làm cái việc tiêu diệt những toán quân Pháp hỗn loạn.


Tôn viết một bản kế hoạch tác chiến: Đạo quân thứ nhất tiến [1] v.v... Và cũng như xưa nay, mọi việc đều diễn ra khác hẳn bản kế hoạch. Thân vương Yepghênhi cử Vuyêctembec đứng trên núi bắn vào những tên lính Pháp đang chạy ngang và yêu cầu viện binh nhưng không thấy đến. Quân Pháp đêm đêm chạy vòng qua quân Nga, phân tán ra, nấp vào rừng và mạnh ai nấy kiếm cách chạy cho xa.


Milôrađôvich - con người vẫn thường bảo rằng mình không thèm biết đến những công việc hậu cần của quân đội, con người không sao tìm ra được khi cần đến ông ta, “trang hiệp sĩ không biết sợ hãi và không thể nào chê trách” [2]như ông ta vẫn tự xưng, con người rất thích chuyện trò với người Pháp, Malôrađôvich gửi thương sứ sang chiêu hàng, làm mất thì giờ và làm những việc mà người ta không hề khiến.


Ông ta cưỡi ngựa đến trước hàng quân, chỉ một toán quân Pháp cho kỵ binh xem và nói:


- Anh em ơi, tôi tặng anh em đạo quân này.


Và đoàn kỵ binh, cưỡi những con ngựa đi không vững, cố hết sức dùng cựa giày và gươm thúc ngựa chạy nước kiệu về phía đạo quân mà người ta tặng họ, nghĩa là một đám người Pháp rét cóng và ốm đói, thế là đạo quân tặng phẩm kia vứt vũ khí xuống và đầu hàng, điều mà chính họ đã mong ước từ lâu.


Ở Crasnôiê họ bắt được hai vạn sáu nghìn tù binh, hàng trăm khẩu pháo, một chiếc gậy gì đấy mà họ gọi là quyền trượng của thống soái và tranh cãi xem ai là người trội hơn cả. Lấy làm hài lòng về điều đó, nhưng họ rất tiếc là đã không bắt được Napôlêông, hay một vị hùng nào đó, một nguyên soái nào cũng được và lên tiếng trách móc lẫn nhau và nhất là trách móc Cutudốp.


Những con người ấy, say sưa với những dục vọng của họ chỉ là những kẻ thừa hành mù quáng của cái quy luật đáng buồn nhất là quy luật của sự tất yếu; nhưng họ cứ cho mình là những bậc anh hùng và tưởng tượng rằng việc họ làm là việc vẻ vang và cao quý nhất. Họ buộc tội Cutudốp và nói rằng ngay từ đầu chiến dịch ông ta chỉ đã cản trở không cho họ đánh bại Napôlêông, rằng ông ta nghĩ cách thỏa mãn những dục vọng của mình và không chịu ra khỏi làng Pôlôtnhany Davôđư vì ở đấy ông được ăn ở thoái mái, rằng ở Crasnôiê ông đã ngăn chặn cuộc hành quân, vì khi biết tin có Napôlêông ở đấy, ông ta hoàn toàn có thông đồng với Napôlêông, ông ta đã bị Napôlêông mua chuộc, v.v...[3]


Không phải chỉ có những người đương thời, bị những dục vọng làm cho mù quáng đi, mới nói như vậy; ngay cả hậu thế, ngay cả sử học cũng công nhận Napôlêông là vĩ đại [4], còn Cutudốp thì người ngoại quốc gọi là lão triều thần giảo quyệt, trác táng và nhu nhược; người Nga gọi ông là một con người chẳng có gì minh bạch, một thứ bù nhìn chỉ có ích vì mang một cái tên Nga.


V


Năm 1812 và năm 1813 người ta công khai tố cáo những sai lầm của Cutudốp. Hoàng thượng bất bình về ông. Và trong pho sử viết ra gần đây theo lệnh trên có nói rằng Cutudốp là một lão nịnh thần giảo quyệt vốn sợ Napôlêông, đã phạm những sai lầm ở Crasnôiê và ở Bêrêdina khiến cho quân đội Nga không được cái vinh quang toàn thắng quân Pháp[5].


Đó là số phận của những con người không phải là vĩ nhân, không phải là grand homme - một thứ người mà trí tuệ của dân Nga không thừa nhận - nhưng lại là những con người hiếm có, bao giờ cũng cô độc, hiểu được ý Trời và hướng ý chí của mình theo ý trời - số phận của những con người ấy là như vậy. Lòng thù ghét và khinh miệt của đám đông trừng phạt những con người này về tội đã hiểu thấu các quy luật tối cao.


Đối với các sử gia Nga (nói ra thật kỳ quặc và khủng khiếp!) thì Napôlêông - cái công cụ hết sức vô nghĩa của lịch sử kia, con người chưa bao giờ, dù là trong cảnh tù đày, tỏ ra có nhân cách, Napôlêông lại là kẻ được họ khâm phục và ngưỡng mộ; ông ta là vĩ đại. Còn Cutudốp, con người từ đầu chí cuối chiến dịch 1812, từ Mátxcơva đến Vinna, chưa hề lần nào có một hành động hay một lời nói tự mâu thuẫn với mình, con người đã nêu một tấm gương hy sinh hiếm có và tỏ rõ một khả năng tiên đoán phi thường trong lịch sử - lại bị họ coi như một kẻ mù mờ và thảm hại. Mỗi khi nói đến Cutudốp, đến năm 1812, bao giờ họ cũng dường như có ý ngượng ngùng.


Song thật khó lòng tưởng tượng ra một nhân vật lịch sử nào mà hoạt động lại nhất quán và thường xuyên hướng về một mục đích như vậy. Khó lòng tưởng tượng ra một mục đích xứng đáng và phù hợp với ý chí của toàn dân hơn. Càng khó tìm ra một trường hợp khác trong lịch sử mà mục đích do nhân vật lịch sử đặt ra lại đạt được trọn vẹn như mục đích của toàn bộ hoạt động của Cutudốp năm 1812 đều hướng tới.


Cutudốp không bao giờ nói đến bốn mươi thế kỷ đứng ngắm từ trên đỉnh Kim tự tháp[6], đến những vật hy sinh mà ông ta dâng lên bàn thờ Tổ quốc, đến những việc mà ông định thực hiện hay đã thực hiện: nói chung ông không nói gì về bản thân, không đóng một vai tuồng gì, bao giờ cũng là một con người hết sức giản dị và bình thường. Ông viết thư cho các con gái và cho bà Xtan[7], đọc tiểu thuyết, thích giao du với đàn bà đẹp, đùa cợt với tướng sĩ và binh lính và không bao giờ bác lại những người muốn chứng minh với ông một điều gì. Khi bá tước Rastốpsin cưỡi ngựa đến cạnh Cutudốp ở cầu Yauski trách ông đã làm cho Mátxcơva phải thất thủ, và bảo rằng: "Sao ông hứa sẽ không bỏ ngỏ Mátxcơva mà không chiến đấu?", thì Cutudốp đáp: "Tôi sẽ không bỏ ngỏ Mátxcơva mà không chiến đấu” mặc dầu Mátxcơva đã bị bỏ ngỏ rồi. Khi Arắctsâyép nhân danh thượng đế đến nói với ông rằng cần chỉ định Yécmôlốp làm tư lệnh pháo binh, Cutudốp đáp: "Vâng, chính tôi cũng vừa nói thế" - mặc dầu trước đấy một phút ông nói khác hẳn. Vì lẽ gì Cutudốp, con người duy nhất hiểu biết được ý nghĩa lớn lao của những sự việc đang diễn ra, ở giữa đám người ngu xuẩn đang đứng quanh ông, lại phải chú ý đến chuyện bá tước Rastốpsin nhận trách nhiệm để Mátxcơva thất thủ về phần mình hay đổ lên đầu ông ta? Còn như vấn đề chỉ định ai làm tư lệnh pháo binh thì ông còn ít quan tâm hơn nữa.


Không phải chỉ có những trường hợp nói trên mà trong rất nhiều trường hợp khác nữa, con người già cả ấy đã được kinh nghiệm sống cho thấy rõ rằng những ý nghĩ và những từ ngữ dùng để biểu đạt những ý nghĩ đó không phải là yếu tố thúc đẩy con người, cho nên ông nói ra những lời lẽ hoàn toàn vô nghĩa - nghĩ ra câu gì thì nói ra câu ấy.


Nhưng chính con người ấy, kẻ coi thường lời nói của mình như vậy, suốt thời gian hoạt động vẫn chưa lần nào nói một câu gì không phù hợp với cái mục đích duy nhất mà mình đã tìm cách đạt đến trong suốt cuộc chiến tranh. Đã mấy lần trong những hoàn cảnh hết sức khác nhau, ông đã nói ý nghĩ của mình ra, rõ ràng là một cách miễn cưỡng, biết chắc rằng người ta sẽ không hiểu mình. Kể từ trận Bôrôđinô là sự kiện mở đầu cho sự bất đồng ý kiến giữa Cutudốp với những người chung quanh, chỉ có một mình ông nói rằng trận Bôrôđinô là một trận thắng, và ông đã nhắc đi nhắc lại điều đó trong khi nói chuyện, trong các bản báo cáo, trong các tờ trình, mãi cho đến khi chết. Chỉ có một mình ông nói rằng mất Mátxcơva không phải là mất nước Nga. Đáp lại lời đề nghị giảng hòa của Lôristôn ông đã nói rằng không thể có hòa nghị được, vì ý nguyện của nhân dân là như vậy; chỉ có một mình ông trong thời gian quân Pháp rút lui đã nói rằng tất cả những cuộc hành binh của ta đều không cần thiết, rằng mọi sự việc sẽ tự nó diễn ra còn tốt hơn là chúng ta mong ước, rằng phải cho quân địch một cái cầu bằng vàng, rằng dù trận Tarutinô, trận Viadơma hay trận Crasnôiê cũng đều không cần thiết, rằng khi đến biên giới phải còn đủ quân, rằng đổi một lính Nga lấy mười lính Pháp ông cũng không đổi.


Và chỉ một mình lão triều thần ấy - như người ta nói - con người đã nói dối Arắctsâyép để được lòng hoàng đế - chỉ có một mình lão triều thần ấy ở Vinna đã dám nói một câu làm cho mình thất sủng trước nhà vua: tiếp tục chiến tranh ở ngoài nước là có hại và vô ích.


Nhưng nếu chỉ xét những lời nói mà thôi không có gì chứng tỏ rằng hồi đó ông đã hiểu ý nghĩa của biến cố đang diễn ra. Tất cả các hành động của ông - không hề có một trường hợp ngoại lệ nào dù nhỏ nhặt đến đâu - đều nhằm vào một mục đích duy nhất gồm ba điểm:


1. Huy động hết lực lượng để đương đầu với quân Pháp.


2. Chiến thắng quân Pháp.


3. Đuổi chúng ra khỏi nước Nga, đồng thời, trong chừng mực có thể, giảm nhẹ những nỗi điêu đứng của nhân dân và quân đội.


Chính Cutudốp, con người chần chừ mà phương châm là kiên nhẫn và thời gian, kẻ thù của những hành động quyết liệt, chính ông ta đã mở trận Bôrôđinô sau những nghi thức chuẩn bị cực kỳ long trọng. Chính Cutudốp, con người đã nói ngay từ khi trận Aostéclích chưa bắt đầu, rằng trận này sẽ thất bại, thì ở Bôrôđinô, mặc dù các tướng tá thi nhau nói rằng quân ta đã bại trận, mặc dù, trái với tất cả các trường hợp đã từng có trong lịch sử, quân đội sau khi thắng trận lại phải rút lui; chỉ có một mình ông, trái với ý kiến mọi người, mãi cho đến khi chết vẫn khẳng định rằng trận Bôrôđinô là một trận thắng. Chỉ có một mình ông, trong suốt thời gian quân Pháp rút lui, một mực chủ trương không giao chiến vì bây giờ làm như vậy chẳng có ích gì, không gây ra một cuộc chiến tranh mới và không vượt quá biên giới.


Ngày nay, miễn là đừng đem gán cho hoạt động của quần chúng những mục đích chỉ có trong đầu óc của mười người, thì có thể dễ dàng hiểu được ý nghĩa của biến cố, bởi vì toàn bộ sự việc cùng với những hậu quả của nó đều đã sờ sờ ra trước mắt ta.


Nhưng làm thế nào mà con người già cả ấy, một mình chống lại ý kiến của mọi người, lại có thể tiên đoán đúng được ý nghĩa toàn dân của sự việc đến nỗi suốt thời gian hoạt động không hề có một lần nào phản lại ý nghĩa đó?


(còn tiếp)


Nguồn: Chiến tranh và Hòa bình, tập 3. Bộ mi, NXB Văn hc, 1-2007. Triu Xuân biên tp. In theo ln xut bn đu tiên tại Vit Nam năm 1961 và 1962 ca Nhà xut bn Văn hóa, tin thân ca NXBn hc. Nhng người dch: Cao Xuân Ho, Nh Thành, Trường Xuyên (tc Cao Xuân Huy) và Hoàng Thiếu Sơn.


www.trieuxuan.info


 







[1] Die erste Colonne marschiert.




[2] “Le chevalier sans peur et sans reproche”- biệt hiệu của Bayard, danh tướng Pháp (1473-1524).




[3] Bút ký của Wilson (chú thích của tác giả).




[4] grand.




[5] Lịch sử năm 1812 của Bôđanôvich: những đặc tính của Cutudốp và bàn về những kết quả không mỹ mãn của các trận đánh ở Crasnôiê (chú thích của tác giả).




[6] Câu nói của Napôlêông ở Ai Cập (xem chú thích ở phần II)




[7] Mme de Stael (1766 – 1817) nhà văn Pháp có xu hướng tự do bị Napôlêông khủng bố phải lánh ra nước ngoài từ năm 1802. Năm 1812 bà ở Nga.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
49.
50.
51.
52.
53.
54.
55.
56.
57.
58.Phần Thứ Mười một
59.
60.
61.
62.
63.
64.
65.
66.
67.
68.
69.
70.
71.
72.
73.
74.
75.
76.
77.
78.Phần Thứ tám
79.
80.
81.Phần Thứ sáu
82.Lời Người biên tập và Lời Giới thiệu của Cao Xuân Hạo
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đi tìm hiện thực của những ước mơ - Hạ Bá Đoàn 16.07.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 12.07.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 08.07.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 06.07.2019
Đất thức - Trương Thị Thương Huyền 01.07.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 29.06.2019
Ma rừng - Phùng Phương Quý 28.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
xem thêm »