tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29894462
Tiểu thuyết
09.11.2010
A. Dumas
Hai mươi năm sau

Muxcơtông chịu đựng mọi nỗi đau đớn không thể tưởng tượng nổi, nhưng người nô bộc tuyệt vời ấy tự an ủi, nghĩ rằng hai ông chủ của mình còn nếm trải biết bao nỗi đau khổ khác. Bây giờ hắn đi tới coi đ’Actanhăng như ông chủ thứ hai và hắn tuân lệnh anh còn nhanh nhảu hơn và nghiêm chỉnh hơn đối với Portôx.


Doanh trại đóng ở giữa Xanh Ome và Lambơ ; đôi bạn đi vòng đến tận trại và kể lại cho quân đội biết chi tiết về cuộc đi trốn của vua và hoàng hậu mà ở đây chỉ mới được nghe tin không rõ ràng. Họ thấy Raun ở cạnh lều của mình nằm trên một bó rơm mà con ngựa đang rút vụng mấy cọng. Chàng thanh niên mắt đỏ ngầu và có vẻ thất vọng. Thống chế đơ Grammông và bá tước đờ Ghisơ trở về Pari và cậu bé tội nghiệp thấy mình lẻ loi.


Lát sau, Raun ngước mắt lên và trông thấy hai kỵ sĩ đang nhìn mình ; anh nhận ra và chạy tới, hai tay dang ra.


- Ô! các ông bạn thân mến đấy ư! – anh reo lên, -  các ông đến tìm tôi à? Các ông có đưa tôi đi với các ông không? Các ông có mang đến tin tức gì của vị đỡ đầu của tôi không?


- Thế anh không nhận được tin à? -  đ’Actanhăng hỏi.


- Chao ôi! không ông ạ, và tôi chẳng biết thực sự bây giờ ông ấy ra sao. Thành thử ra, ôi! Thành thử ra tôi lo lắng đến phát khóc.


Quả thật hai giọt nước mắt lớn lăn trên đôi má xạm nâu của chàng thanh niên.


Portôx quay đi để người ta khỏi nhìn thấy trên khuôn mặt phương phi mà hiền lành của anh những gì đang diễn ra trong trái tim anh.


Đ’Actanhăng từ lâu lắm rồi mấy thấy mình xao xuyến mạnh đến thế. Anh nói:


- Anh bạn ơi, việc gì phải thất vọng. Anh không nhận được thư của bá tước thì chúng tôi nhận được... một...


- Ô! thật ư? – Raun reo lên.


- Và thư đáng yên tâm nữa kia, -  đ’Actanhăng nói khi nhìn thấy nỗi vui mừng mà tin tức ấy đem lại cho cậu thanh niên.


- Ông có thư đấy không? – Raun hỏi.


- Có, nghĩa là tôi đã có, -  đ’Actanhăng vừa nói vừa làm bộ lục tìm, -  đợi tí, chắc nó ở trong túi áo ; bá tước nói về việc trở về, phải không Portôx?


Vốn là Gaxcông, đ’Actanhăng không muốn một mình gánh chịu sự nói dối.


- Phải đấy, -  Portôx hung hắng nói.


- Ô! đưa thư cho tôi, -  Raun nói.


- Ô! tôi mới còn đọc mà. Chẳng lẽ lại mất! A! khổ chưa, túi tôi bị thủng.


- Ồ! đúng thế, ông Raun, -  Muxcơtông nói. – Lá thư rất đáng mừng ; các ông đây đã đọc cho tôi nghe và tôi đã khóc vì vui sướng.


- Ông đ’Actanhăng ơi, -  Raun bình tĩnh lại được một nửa và hỏi, -  ít ra ông cũng biết bá tước ở đâu?


- A! thế đấy! -  đ’Actanhăng nói – chắc chắn là tôi biết, nhưng, mẹ kiếp! đó là một điều bí mật.


- Tôi hy vọng là không phải đối với tôi.


- Không phải đối với anh, cho nên tôi sẽ nói ông ấy ở đâu.


Portôx trố mắt ngạc nhiên nhìn đ’Actanhăng, đ’Actanhăng lẩm bẩm:  “Ta sẽ nói ở đâu để nó không thể tìm nhỉ!”


- Ông ấy đang ở Côngxtăngtinôp.


- Chỗ bọn Thổ Nhĩ Kỳ! – Raun hốt hoảng kêu lên. – Lạy Chúa! ông nói gì vậy?


- Ơ kìa, điều ấy làm anh sợ hãi ư? -  đ’Actanhăng nói. – Bọn Thổ thì là cái thá gì đối với những người như bá tước đờ La Pherơ và tu viện trưởng đ’Ecblay?


- A! bạn của ông đi cùng với ông bá tước à? – Raun nói – điều ấy làm tôi yên tâm đôi chút.


“Cái thằng quỷ sứ đ’Actanhăng ấy thật là nhanh trí!” Portôx lẩm bẩm, anh phục lăn cái mưu mẹo của bạn.


Vội chuyển hướng câu chuyện, đ’Actanhăng nói:


- Đây là năm mươi pixtôn mà ông bá tước gửi cùng một chuyến thư cho anh. Tôi đoán là anh không còn tiền và món tiền này đến kịp thời.


- Thưa ông, tôi hãy còn hai mươi pixtôn.


- Ồ, cứ cầm lấy, thế là bảy mươi đồng.


- Và nếu anh muốn thêm nữa..., -  Portôx nói và thọc tay vào túi.


- Xin cảm ơn, -  Raun đỏ mặt nói, -  nghìn lần cảm ơn ông.


Vừa lúc ấy Ôlivanh hiện ra.


- Nhân tiện hỏi anh, -  đ’Actanhăng nói cố để tên hầu nghe thấy, -  anh có hài lòng về Ôlivanh không?


- Vâng, cũng được ạ.


Ôlivanh giả tảng không nghe thấy gì và đi vào lều.


- Anh trách gì cái thằng bố láo ấy?


- Nó tham ăn lắm, -  Raun nói.


- Ô! thưa ông! – Ôlivanh nghe lời cáo buộc lại xuất hiện và nói.


- Nó hơi có tính ăn cắp.


- Ô! thưa ông.


- Và nhất là nhát như cáy.


- Ô! ô! ô! ông ơi, ông bôi xấu tôi, -  Ôlivanh nói.


- Gớm nhỉ! -  đ’Actanhăng nói, -  bác Ôlivanh này, hãy nhớ rằng những người như bọn ta không thể để bọn nhút nhát hầu hạ. Ăn cắp của chủ, ăn mứt kẹo và uống rượu vang của chủ còn tha thứ được, chứ nhút nhát thì ta xẻo tai đi. Hãy trông ông Muxcơtông kia, bảo ông ấy cho xem những vết thương danh dự, và nhìn xem tính dũng cảm thường lệ của ông ấy đã tô điểm vẻ uy phong lên gương mặt ông ấy như thế nào.


Muxcơtông lên đến chín tầng mây, và nếu hắn dám thì hắn ta đã ôm hôn đ’Actanhăng, trong khi chờ đợi hắn đã tự hứa với mình sẵn sàng chết vì anh nếu như cơ hội đến.


- Raun hãy tống cổ thằng vô lại này đi, -  đ’Actanhăng nói, -  vì nó nhát gan, có ngày nó sẽ làm mất thể diện.


- Ông nói rằng tôi nhát gan, -  Ôlivanh la lên, -  bởi vì hôm nọ ông toan đánh nhau với người cầm cờ của trung đoàn Grammông, và tôi từ chối không đi theo ông.


- Này ông Ôlivanh, -  đ’Actanhăng nghiêm khắc nói, -  một tên hầu không bao giờ được trái lệnh.


Rồi kéo nó ra khỏi chỗ khác, anh bảo:


- Nếu chủ mày sai thì mày đã làm đúng, và đây là một êquy thưởng cho mày. Nhưng nếu có bao giờ chủ mày bị lăng nhục mà mày không xả thân vì chủ, thì tao sẽ cắt lưỡi mày và đem quét lên mặt mày đấy. Hãy nhớ lấy.


Ôlivanh cúi mình và nhét đồng êquy vào túi.


- Raun này, -  đ’Actanhăng nói, -  bây giờ ông đuy Valông và tôi phải đi làm nhiệm vụ sứ giả. Tôi không thể nói với anh và nhằm mục đích gì, vì chính tôi cũng không biết, nhưng nếu anh cần điều gì thì cứ viết thư cho bà Mađơlông Tuyêcken ở khách sạn Con Dê Cái Nhỏ, phố Ticơton, và cứ rút tiền ở quỹ đó như  quỹ ở nhà băng ; tất nhiên cần tiết kiệm, vì tôi cũng cần nói trước để anh biết rằng quỹ ấy không dồi dào như quỹ của ông Tổng giám thu đ’Emơry đâu.


Và sau khi ôm hôn đứa con nuôi tạm thời, anh chuyển nó sang cánh tay lực lưỡng của Portôx. Portôx nhấc bổng nó lên và để nó bám một lúc vào trái tim cao quý của chàng khổng lồ ghê gớm.


- Nào, ta lên đường, -  đ’Actanhăng nói.


Và họ đi Bulônhơ, tới nơi trời gần tối, ngựa của họ đẫm mồ hôi và xùi cả bọt mép.


Họ dừng lại trước khi vào thành phố và cách đấy mười bước, có một người trẻ tuổi vận đồ đen trông như đang chờ đợi ai, và khi trông thấy họ, anh ta cứ nhìn chằm chằm mãi.


Đ’Actanhăng đến gần hắn ta và thấy hắn vẫn không rời mắt nhìn mình, anh nói:


- Ê, này ông bạn, tôi không thích người ta cứ nhìn mình từ đầu đến chân như vậy.


Người thanh niên không đáp lại câu đó của đ’Actanhăng mà hỏi:


- Thưa ông, xin ông cho biết ông có phải từ Pari đến không?


Đ’Actanhăng cho rằng đó là một kẻ tò mò nào muốn biết tin tức về kinh đô, nên đáp bằng một giọng mềm mỏng hơn.


- Phải đấy, ông ạ.


- Ông có phải vào nghỉ ở quán Huy hiệu Anh quốc không?


- Có.


- Các ông có được Các hạ giáo chủ Madaranh giao cho một sứ mệnh không?


- Có ông ạ.


- Nếu vậy thì chính tôi là người ông cần liên hệ, tôi là Moocđao.


- A! -  đ’Actanhăng tự nhủ thầm, -  kẻ mà Atôx dặn ta phải coi chừng.


- A, -  Portôx lẩm bẩm, -  kẻ mà Aramix muốn ta vặn cổ.


Cả hai người chăm chú nhìn gã thanh niên.


Gã hiểu lầm cái vẻ nhìn ấy và nói:


- Các ông nghi ngờ lời tôi nói chăng? Nếu vậy tôi sẵn sàng đưa ra mọi bằng chứng.


- Không ông ạ, -  đ’Actanhăng nói, -  chúng tôi sẵn sàng theo ý ông.


- Vậy thì các ông ơi, -  Moocđao nói, -  chúng ta đi ngay không chậm trễ, bởi vì hôm nay là ngày hạn cuối cùng mà ông giáo chủ đã hẹn với tôi. Tàu của tôi đã sẵn sàng, nếu các ông không đi thì tôi đi một mình, và tướng Ôliviê Cromoen chắc đang rất suốt ruột đợi tôi trở về.


- A! a! -  đ’Actanhăng nói, -  như vậy là chúng ta được phái đến tướng Ôliviê Cromoen.


- Ông không mang một bức thư gửi cho Ngài ư? – người thanh niên hỏi.


- Tôi có một bức thư mà tôi chỉ được mở phong bì ngoài khi tới Luân Đôn, nhưng là vì ông đã nói là phải gửi tới ai rồi, cho nên chẳng cần phải đợi khi tôi đến đó.


Đ’Actanhăng xé luôn phong bì.


Quả thật bức thư đề:


“Gửi ngài Ôliviê Cromoen, tướng lãnh quân đội quốc gia Anh”.


- A! -  đ’Actanhăng nói, -  sứ mệnh lạ lùng.


- Ông Ôliviê Cromoen là người thế nào? – Portôx hỏi khẽ.


- Một người trước làm rượu bia, -  đ’Actanhăng đáp.


- Phải chăng lão Madaranh muốn làm một vụ đầu cơ rượu bia giống như ta đã đầu cơ rơm? – Portôx nói.


- Nào nào, ta đi thôi các ông ơi, -  Moocđao sốt ruột nói.


- Ô ô! không ăn tối à? – Portôx kêu, -  ông Cromoen không chờ được một chút hay sao?


- Vâng, nhưng còn tôi? – Moocđao nói.


- Ông thì sao, -  Portôx hỏi.


- Tôi, tôi rất vội.


- Ồ! Nếu là việc ông thì chẳng can hệ gì đến tôi, -  Portôx nói ; -  và tôi sẽ ăn tối dù có được phép hay không được phép của ông.


Cái nhìn mơ hồ của gã thanh niên chợt rực lên và như sắp tóe ra một tia chớp, nhưng gã tự kềm chế.


- Ông ạ, -  đ’Actanhăng nói, -  cần miễn thứ cho những lữ khách đói bụng. Vả lại bữa ăn của chúng tôi chẳng làm ông bị muộn lắm đâu. Chúng tôi sẽ phóng ngay đến quán. Ông cứ đi bộ ra bến, chúng tôi ăn một miếng rồi sẽ ra kịp ông thôi mà.


- Xin tùy ý ông, -  Moocđao nói, -  miễn là chúng ta sẽ ra đi.


- May quá, -  Portôx lẩm bẩm.


- Tên tàu là gì? -  đ’Actanhăng hỏi.


- Tàu Standard.


- Được rồi. Nửa giờ nữa chúng ta sẽ lên tàu.


Và đôi bạn thúc ngựa đến quán Huy hiệu Anh quốc.


Vừa phi đ’Actanhăng vừa hỏi:


- Cậu thấy gã thanh niên thế nào?


- Tôi chẳng ưa cái thằng ấy chút nào, -  Portôx nói, -  và tôi chỉ thấy ngứa ngáy chân tay dữ dội, muốn làm theo lời dặn của Aramix.


- Chớ có làm như vậy, -  Portôx thân mến ạ ; đó là một phái viên của tướng Cromoen. Tôi chắc rằng chúng mình sẽ được tiếp đãi tồi tệ nếu báo cho ông ấy biết là chúng ta đã vặn cổ người bộ hạ tin cẩn của ông ấy.


- Mặc kệ, -  Portôx nói, -  tôi vẫn thấy Aramix là người có ý kiến hay.


- Hãy nghe tôi, -  đ’Actanhăng nói, -  khi sứ mệnh của chúng mình làm xong.


- Thì sao?


- Nếu nó đưa chúng ta trở lại Pháp...


- Sao nữa?


- Thì rồi ta sẽ tính.


Đôi bạn tới quán Huy hiệu Anh quốc ăn uống ngon lành, rồi đi ngay ra cảng. Một con tàu sẵn sàng giươm buồm, và trên boong tàu, họ nhận thấy Moocđao đang đi đi lại lại ra vẻ sốt ruột lắm.


Trong lúc con thuyền chở họ ra cặp mạn tàu Standard, D’Actanhăng nói:


- Cái gã thanh niên kia giống một cách lạ lùng một người nào đó mà mình đã quen nhưng không nhớ được là ai.


Họ đến chỗ bắc cầu và lát sau đã lên tàu.


Nhưng đưa ngựa lên lâu hơn, và đến tám giờ tối mới nhổ neo được.


Gã thanh niên sốt ruột giậm chân và bắt người ta phải kéo buồm lên.


Portôx mệt lử vì ba đêm không ngủ và vì một cuốc đường chạy ngựa bảy mươi dặm vào phòng ngay và ngủ liền.


Đ’Actanhăng kềm chế nỗi ghê tởm đối với Moocđao, đi dạo với hắn ở trên boong và kể lể đủ mọi thứ chuyện để buộc hắn phải nói.


Muxcơtông thì say sóng.


 


                                                                  57


 


                                NGƯỜI ÊCÔTXE, PHẢN BỘI LỜI THỀ


                                VÌ MỘT ĐỒNG XU, BÁN RẺ ĐỨC VUA.


 


Giờ đây, xin bạn đọc hãy để mặc con tàu Standard lặng lờ trôi không phải về phía Luân Đôn như Moocđao trong thời gian lưu trú ở bulônhơ đã nhận được thư từ ra lệnh cho anh ta phải trở về đó. Xin các bạn hãy theo chúng tôi đến doanh trại quân đội nhà vua đóng ở bên này sông Tynơ, cạnh thành phố Niucaxtơn.


Tại đó, giữa hai con sông, những tấm lều vải của một đội quân nhỏ trải ra trên biên giới giáp xứ Êcôt nhưng vẫn ở trên đất Anh. Đã nửa đêm. Qua những bắp chân trần, những vạt áo ngắn, những áo tơi sặc sỡ và cái lông chim trang trí chiếc mũ bonnê của họ, ta vẫn có thể nhận ra những người dân vùng cao nguyên Êcôt đang canh phòng uể oải. Mặt trăng lướt giữa hai đám mây lớn, từng quãng chiếu sáng những khẩu súng hỏa mai của các lính canh và làm nổi bật mạnh mẽ những bức tường, những mái nhà và những tháp chuông của thành phố mà vua Saclơ I vừa mới nộp cho các toán quân của nghị viện, cũng như thành phố Ôxfo và Niuôt, họ còn cầm cự vì ông ta là trong niềm hy vọng một sự hòa giải.


Trong một mái lều rộng lớn ở một đầu doanh trại, đông đảo sĩ quan Êcôtxơ đang họp một cuộc hội nghị do lão bá tước đờ Lôoen, vị chỉ huy của họ chủ trì. Cạnh lều, một người mặc kỵ sĩ đang nằm ngủ trên thảm cỏ, tay phải duỗi ra trên thanh kiếm.


Cạnh đấy năm chục bước, một người khác cũng vẫn y phục kỵ sĩ đứng nói chuyện với một lính canh Êcôtxơ. Dường như thông thạo tiếng Anh nên mặc dầu là người nước ngoài anh ta cũng hiểu được những câu trả lời của gã lính canh nói bằng thổ ngữ xứ Péc.


Chuông đồng hồ thành phố Niucaxtơn điểm một giờ sáng, người kỵ sĩ ngủ choàng dậy và sau khi làm mọi cử chỉ của một người tỉnh dậy sau một giấc ngủ sâu, anh ta chăm chú nhìn ngó xung quanh. Thấy chỉ có một mình mình, anh đứng lên rẽ quặt ngang và đi qua chỗ người kỵ sĩ đứng nói chuyện với gã lính canh. Chắc là đã hỏi chuyện xong vì một lát sau anh này từ giã người lính và đàng hoàng đi theo người kỵ sĩ nọ.


Đến chỗ bóng một chiếc lều dựng trên lối đi, người kỵ sĩ đi trước đứng lại đợi bạn và hỏi bằng thứ tiếng Pháp thuần túy nhất từng được nói từ vùng Ruăng đến Tua:


- Thế nào, bạn thân mến của tôi?


- Chà! bạn ơi, chẳng còn thì giờ để mất đâu, cần phải báo trước cho nhà vua.


- Có chuyện gì xảy ra thế?


- Dài lắm, không thể nói được. Vả lại lát nữa cậu cũng sẽ nghe kia mà. Hơn nữa, chỉ một lời nói hở ra ở đây là hỏng hết mọi việc. Ta đi tìm milo đờ Uyntơ đi.


(còn tiếp)


Nguồn: Hai mươi năm sau. Tiểu thuyết của A. Dumas. Anh Vũ dịch.   NXB Văn học in lần thứ ba, 2009.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
49.
50.
51.
52.
53.
54.
55.
56.
57.
58.
59.
60.
61.
62.
63.
64.
65.
66.
67.
68.
69.
70.
71.
72.
73.
74.
75.
76.
77.
78.
79.
80.
81.
82.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 26.09.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 26.09.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
xem thêm »