tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29929390
Lý luận phê bình văn học
17.10.2010
Vương Trí Nhàn
Để hiểu thêm thơ Tố Hữu

Về thơ


Chế Lan Viên có Stalin không chết, mở đầu bằng mấy câu


Stalin mất rồi


Đồng chí Stalin đã mất!


Thế giới không cha nặng tiếng thở dài


Ở đoạn dưới:


Mẹ hiền ta ơi


Em bé ta ơi


Đồng chí Stalin không bao giờ chết


 


… Triệu triệu mẹ già em dại


Đều là súng Stalin để lại (VTN gạch dưới)*


Giữ lấy hòa bình thế giới


Tiếng nổ ca vang dội thấu mặt trời


Các bài tiếp theo:


Trước bài Đời đời nhớ Ông của Tố Hữu là bài Nhớ đồng chí Sta lin của Huy Cận


Tiếp đó các bài của Bàn Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn.


Xuân Diệu có bài Thương tiếc Đại nguyên soái Stalin:


Nghe tin mất mới thấy lòng quyến luyến


Từ bao lâu yêu Người tận tủy xương


Tiếng khóc đây là tất cả can trường


Thấy Người thật là bát cơm miếng bánh


Người gắn với chúng con trong vận mệnh


Về phần văn xuôi.


Phan Khôi có bài Một vị học giả mác-xít thiên tài. Trước khi viết kỹ về cuốn Chủ nghĩa Mác và vấn đề ngôn ngữ, Phan Khôi có đoạn dạo đầu ngắn:


Đối với cái chết của Đại nguyên soái Stalin, vấn đề đề ra trước mắt những người đang sống là: Chúng ta phải học tập Stalin, học tập đạo đức cách mạng và trí tuệ của ông, được cả càng hay, không thì được phần nào cũng hay phần ấy, đó là một đảm bảo vững chắc cho cuộc thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, của Chủ nghĩa tân dân chủ.


Lê Đạt thì xuất hiện như một phóng viên, ghi lại không khí một nhà máy trong rừng khi nghe tin Stalin mất. Bài viết khoảng 3.000 chữ này kể chuyện cái chết của Stalin đã gợi lên niềm xúc động to lớn, từ đó đánh thức tinh thần lao động sáng tạo của cả một tập thể công nhân gang thép.


Xin phép mở một dấu ngoặc.


Ngoài các bài Liễu, Bài thơ tình ở Hàng Châu, Tế Hanh còn có bài thơ ngắn sau đây, viết trong đợt thăm Trung quốc 1962. Tôi vẫn thường nhẩm lại mỗi khi nhớ tới đời sống tinh thần của chúng tôi những năm 1965 về trước.


Hồ Nam xe chạy không dừng bước


Dãy núi cao liền dãy núi cao


Quê hương lãnh tụ mây thêu nắng


Thấy mặt trời lên nhớ bác Mao


Tôi muốn thầm nói với Tế Hanh: Anh không việc gì phải xấu hổ cả. Hồi ấy, bao nhiêu người nghĩ thế, chứ đâu phải riêng anh!


 


Trở lại chuyện Tố Hữu.


Nếu có ai hỏi tôi thích bài nào của Tố Hữu nhất, tôi sẽ nói rằng đó là cụm mấy bài ông làm hồi đi tù, in trong phần Xiềng xích của tập Từ ấy.


Bài Nhớ đồng:


Gì sâu bằng những trưa thương nhớ


Hiu quạnh bên trong một tiếng hò


Bài Tiếng hát đi đầy:


Hỡi những anh đầu đi trước đó


Biết chăng còn lắm bạn đi đầy


Những bài thơ này có cái giọng mà sau này không bao giờ Tố Hữu có nữa. Nhà thơ bơ vơ trong cảnh đơn độc ở núi rừng. Phải làm thơ, phải lấy thơ để tự khẳng định, thơ cất lên không để cho ai mà trước tiên để cho mình .


Những bài thơ viết khi người ta không biết mình sẽ sống hay chết như thế này,


tôi còn gặp một lần nữa trong thơ VN về sau, đó là tập Ánh sáng và phù sa.


Khi soạn tập thơ (1960), Chế Lan Viên chưa chuyển sang giai đoạn lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa, như Xuân Sách sẽ viết.


 


Sinh thời, Tố Hữu hay nói, đại ý hãy coi ông là nhà cách mạng, sau đó mới là nhà thơ.


Như thế tức là ông cũng đã biết chỗ đứng của mình trong lịch sử.


Có điều không phải luôn luôn người ta làm được đúng như những điều người ta tự xác định.


Là một người hết sức nhạy cảm và sẵn có cả chất mệ của quê hương, ông thừa biết nhiều khi dân văn nghệ ca ngợi thơ ông vì ông là quan chức phụ trách người ta, nắm sinh mệnh của người ta. Song nếu đủ sáng suốt để từ chối những lời nịnh bợ thường trực thì ông đã không còn là ông nữa. Lẽ đời là vậy, lúc được được quá cái đáng được, thì lúc mất cũng mất quá cái đáng mất.


Nhưng về phần chúng ta, mỗi lần đả động đến ông, tôi nghĩ nên phân biệt đang nói về ông như một quan chức cao cấp hay nói về ông như một nhà thơ.


 


Khoảng năm 1973, Hà Nội có một triển lãm điêu khắc với ngôn ngữ khá hiện đại của Nguyễn Hải và Lê Công Thành. Chính Tố Hữu cũng rất thích - sang Hội nhà văn nghe ngóng về, Nguyễn Khải báo cho tôi biết tin vui đó. Nhưng rồi hóa ra chúng tôi mừng hụt. Mấy vị to hơn tới xem cho là không được. Và người ta lại thấy Tố Hữu cho truyền đi nhận định không thể tìm tòi kiểu ấy, mà hãy trở lại với thứ điêu khắc mô phỏng đời thường, kiểu Trần Văn Lắm!


Tức là cũng như chúng ta, Tố Hữu cũng có lúc phải làm ngược điều mình nghĩ.


Trước đó năm 1965, Nguyễn Thành Long bị nạn với bút ký Cái gốc. Bài ký cũng chẳng có chuyện gì đen tối lắm, chỉ tả phụ nữ trong chiến tranh quá nhếch nhác, nên bị Đảng đoàn Hội phụ nữ kêu.Theo chỗ tôi nhớ, lúc đầu Nguyễn Thành Long rất tự tin, vì Tố Hữu đã nhắn xuống tỏ ý bênh, “họ có Đảng đoàn thì mình cũng có Đảng đoàn chứ “(ý nói Đảng đoàn phụ nữ và Đảng đoàn văn nghệ- hai cấp tương đương nhau). Thế nhưng bên phụ nữ kiện lên trên và cuối cùng văn nghệ thua, Cái gốc chung số phận với Tình rừng.


Nguyễn Khải kể khoảng năm 1963, có lần được dự một cuộc họp cùng bí thư tỉnh ủy các tỉnh đồng bằng do Tố Hữu chủ trì, chắc là bàn về công tác tuyên huấn. Trong lúc nghe mọi người thảo luận, bỗng Nguyễn Khải thấy Tố Hữu đang đi quanh thì dừng lại, ghé vào tai mình nói nhỏ:


- Chăc nhà văn nhìn cảnh này như một trò hề?!


Rồi ông lảng ngay, lên bàn chủ tịch, tiếp tục lo nốt các việc đang làm dở.


Cái lạ của các nhà văn sau 1945 là khi tính viết con người thời nay, chỉ hay viết về nhân vật quần chúng công nông. Còn những người kéo quần chúng đi, vẽ ra cái mẫu điển hình để quần chúng sống theo và nói chung chỉ có vai trò đơn giản là…lèo lái toàn bộ đời sống – những nhân vật quan chức nhân vật cán bộ kiểu ấy lại chả ai viết bao giờ.


Tôi đã phác qua một vài nét về Tố Hữu hồi ở Việt Bắc trong ghi chép về Nguyễn Đình Nghi.


Nhị Ca kể với tôi cái tình tiết sau đây: trong rừng, cạnh cơ quan, thường có những quán cà phê, anh em hay ra đấy đấu láo. Đang vui thì Tố Hữu đến. Thế là mọi người không ai bảo ai rút lui hết. Chỉ còn một người bao giờ cũng ngồi với Tố Hữu đến cùng. Là Hoài Thanh.


Cái công của Tố Hữu hồi ấy là giữ cho được anh em đi theo kháng chiến đến cùng không để họ trở về thành.


Những năm chiến tranh, thỉnh thoảng một số anh em viết trẻ chúng tôi cũng được gọi đi nghe Tố Hữu nói chuyện. Có một câu ông nói khiến tôi nhớ nhất và phải nói thực sợ nhất, đó là cái ý ông bảo sang nước ngoài thấy đời sống họ lạnh lùng lắm, về nước thấy đồng bào mình sống với nhau, ấm cúng hơn hẳn.


Ông cũng thường nói là nổi tiếng ở nước ngoài thì dễ, nổi tiếng ở trong nước mới khó .


Lại có lần khuyến khích lớp trẻ, ông bảo phải biết đấu tranh cho chân lý, khi cần phải cắn xé(!). May mà bọn tôi đã nghe nhiều về tính đồng bóng của ông, nên chẳng mấy cảm động, nhớ đâu hình như chính Xuân Quỳnh bảo rằng có mà ông cho ghè gẫy răng.


Tố Hữu quản cán bộ cấp dưới thế nào? Nguyễn Khải nhận xét có vẻ như càng những người bất tài và có khuyết điểm ông lại càng thích dùng. Những ông A ông B từng bị Tố Hữu mắng như tát nước vào mặt lại rất vững vàng trong vị trí của mình. Vì ông thừa biết loại đó bảo thế nào họ cũng phải nghe.


Bảo Định Giang, người phụ trách Hội liên hiệp những năm ấy thường kể với mọi người ông Lành dọa sẽ lấy đầu nếu BĐG để một vài văn nghệ sĩ tiêu biểu lơ mơ ở Hà Nội rồi dính bom đạn.


Một lần, khoảng những năm trước 1980, tôi ngồi với Nguyễn Khải, Xuân Sách, cùng giở một số báo Tết. Khi ấy Tố Hữu đã đi phụ trách kinh tế, nhưng các số báo tết vẫn có bài của ông. Nguyễn Khải sát hạch tôi:


- Thằng Nhàn hãy thử bình một câu xem nào.


Tôi lúc đầu cũng chỉ biết nói như mọi người:


- Thế là được một nhà kinh tế mà mất một nhà thơ.


Nguyễn Khải gạt phắt đi:


- Không được.


Trong cơn bí, tôi phụt ra một ý mà trước đó tôi không hề nghĩ:


- Người làm ra những bài thơ như thế này thì chắc làm kinh tế cũng không ra gì!


Bấy giờ Nguyễn Khải mới cười, bảo ra tôi cũng bắt đầu biết rồi đấy.


 


Kim Lân có lần rủ rỉ bảo tôi chính Tố Hữu đã kể với tác giả Vợ nhặt rằng hồi nhỏ ông mắc bệnh mộng du. Có lần chui lên cả bàn thờ họ mà làm một giấc ngủ trưa.


Tố Hữu & một nền văn nghệ phục vụ cách mạng


Bài viết trên Thể thao& Văn hóa, ngày Tố Hữu mất


Trước nay đã vậy mà vào dịp Tố Hữu qua đời cũng vậy, tác giả Từ ấy thường được biết tới như một tiếng thơ hùng tráng, nhà thơ mang tiếng nói của cách mạng, người mà sinh thời, mọi sáng tác được truyền tụng rộng rãi đến mức chưa một nhà thơ nào trong lịch sử dân tộc biết tới.


Nhưng trên cái nền rộng rãi của lịch sử đất nước nửa cuối thế kỷ XX, Tố Hữu còn nổi bật trong một vai trò lớn lao khác: ông chính là một thứ tổng công trình sư đảm nhiệm vai trò thiết kế, một thứ tổng đạo diễn, suốt đời gắn bó với mọi hoạt động của nền văn nghệ mới.


Hà Nội đầu 1946. Cách mạng thành công đã được mấy tháng, nhưng nhiều văn nghệ sĩ còn đứng ngoài, một người như Nguyễn Tuân sau này cũng kể là ông còn “ngủng ngoẳng chưa thật sự muốn theo Việt Minh”. Một lần, nghe Hoài Thanh nói rằng có một nhà thơ cách mạng muốn gặp, ông “nắn gân” bằng cách hẹn ngay ở Thuỷ Tạ Bờ Hồ (lúc bấy giờ là một nơi ăn chơi phức tạp !). Nhưng nhà thơ kém Nguyễn Tuân đúng chục tuổi kia không ngán, mà vẫn tới, thuyết phục Nguyễn Tuân tham gia đoàn văn nghệ sĩ đi mặt trận. Nhà thơ đó là Tố Hữu.


Hạ Hoà, Phú Thọ, mùa đông 1948. Hội văn nghệ Việt Nam đã được thành lập, song còn lúng túng trong phương hướng sáng tác, nói theo chữ của Xuân Diệu là các ông còn “mơ màng tìm kiếm những sáng choang bóng lộn thơm phức tận đâu đâu...”. Một lần, trên mặt trận đưa về một bài thơ là bài Viếng bạn của Hoàng Lộc. Đọc xong, Xuân Diệu phát biểu thành thật “Chẳng thấy hay”. Lúc ấy có một nhà thơ khác “đã rất bầu bạn làm trạng sư cho bài thơ”. Theo chính lời kể của Xuân Diệu, “anh chăm chăm bình lại từng đoạn một, giúp tôi cảm xúc cái tình cảm của bài thơ đặng cho tôi thành bà con rồi ruột thịt của nó. Từ đêm hôm ấy, tôi vỡ lẽ ra dần, dần dần chuyển cách thức ăn nếm của mìn”. Nhà thơ đó cũng là Tố Hữu.


Hai mẩu chuyện trên đây đã tóm tắt khá đầy đủ hai phương diện còn ít được nói tới trong đóng góp của Tố Hữu đối với lịch sử văn học. Đó là, một mặt tập hợp đội ngũ sáng tác, tổ chức họ thành một binh đoàn hùng mạnh trong lực lượng cách mạng; mặt khác, dần dần từng chút một, làm thay đổi cả cách hiểu cũ về văn học, hình thành nên một cảm quan văn chương mới và thông qua các phương tiện truyền thông, nhất là thông qua hệ thống nhà trường được phổ cập rộng rãi, nhân rộng mãi nó ra, biến nó thành cảm quan của thời đại.


Những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp phát hiện cho người ta thấy hình ảnh một Tố Hữu như là một nhà cách mạng bẩm sinh : ông dám bắt đầu một công việc từ chỗ gần như chỉ có hai bàn tay trắng.Thành công của ông giữa núi rừng Việt Bắc là thu hút được những tên tuổi nổi tiếng (từng được xem như niềm tự hào của kháng chiến ) từ Ngô Tất Tố tới Phan Khôi, từ Nguyễn Tuân tới Thế Lữ, từ Hoài Thanh tới Đoàn Phú Tứ... trong một tổ chức gọn gàng là Hội văn nghệ, quản lý họ, lôi cuốn họ vào công việc, cùng với họ ra báo dịch sách và đưa họ đi tham gia các chiến dịch cho đến ngày theo chân các đoàn quân về giải phóng thủ đô 10 / 1954.


Mặc dù về sau còn được giao phó nhiều trọng trách khác trên các lĩnh vực tư tưởng và có khi cả kinh tế, song không bao giờ Tố Hữu rời bỏ công tác văn nghệ, mảnh đất đã giúp ông xây dựng sự nghiệp chính trị. Với ông những câu “ văn nghệ phục vụ chính trị “ hoặc “ văn nghệ cũng là một mặt trận “ không chỉ là khẩu hiệu mà là quan niệm có thể và cần phải được hiện thực hoá hàng ngày.


Sau kháng chiến chống Pháp, ông kiên định trong việc chỉ đạo từ vụ Nhân văn giai phẩm tới các cuộc chống xét lại cũng như giáo điều trước chiến tranh, để rồi tiếp tục huy động một cách rất thành công sự đóng góp của giới văn nghệ trong những năm chống Mỹ.


Tình thương mến, tình nghĩa, thuỷ chung... là những điều thường được ông nhắc lại nhiều hơn cả khi tiếp xúc với những con người làm việc trên lĩnh vực nhạy cảm này. Ông hiểu rất rõ chỗ mạnh chỗ yếu của họ. Khi nâng niu trân trọng lúc yêu cầu se sắt gắt gao, ông biết cách làm cho mỗi người trong họ có được kết quả cụ thể trong công việc.


Với sự nhạy cảm tuyệt vời của một nghệ sĩ, ông hình thành được một đội ngũ những người cộng sự trung thành, từ Nguyễn Đình Thi tới Chế Lan Viên, từ Hà Xuân Trường tới Bảo Định Giang... và nhờ thế có tiếng nói quyết định trong các vấn đề trọng yếu của văn nghệ ngay cả khi đã quá bận bịu vì những công việc to lớn khác.


Tinh thần cách mạng, tinh thần sáng nghiệp sử ( khai phá một con đường đi mới dám làm những việc xưa nay chưa ai từng làm) cũng được Tố Hữu quán xuyến trong khâu xây dựng một quan niệm mới về văn nghệ. Cách mạng cần động viên tinh thần chiến đấu của công nhân nông dân ? Thì ông lo đào tạo những người sáng tác xuất thân từ công nông và nhất là lo có những tác phẩm giản dị, tự nhiên mà công nông có thể hiểu được. Những chuẩn mực của nền văn nghệ cũ tỏ ra không thích hợp với yêu cầu cấp bách của cách mạng ? Thì chúng phải bị gạt bỏ để thay thế bằng những chuẩn mực mới. Điểm xuất phát của những chuẩn mực vừa hình thành này là dễ làm nhiều người có thể làm, dễ hiểu và không ai có thể hiểu sai, bởi đây là một nền văn nghệ thuộc về nhân dân lao động.


Câu chuyện về thị hiếu về cái gout mà trên đây Xuân Diệu đã kể nhân bài thơ Viếng bạn của Hoàng Lộc mang một tinh thần như vậy. Có thể nói Tố Hữu đã làm những việc này với một niềm tin kỳ lạ. Ông không truy tìm những công việc có ý nghĩa lý luận thuần tuý. Những đúc kết của ông là đơn giản thiết thực dễ kiểm tra dễ theo dõi xem nó đã được quán triệt đến đâu, do đó nhanh chóng đi vào thực tiễn.


Những chuẩn mực mới này cố nhiên cũng là điều được Tố Hữu theo đuổi trong sáng tác thơ (một việc mà gần như không bao giờ ông có điều kiện dành toàn bộ công sức song cũng không bao giờ xao nhãng). Ở đây có thể nói tới một sự gặp gỡ tự nhiên giữa kiểu tài năng thơ ở ông và những gì ông tin theo và muốn mọi người cùng tin theo.


(Tôi vẫn nhớ một ý của Lê Đình Kỵ đánh giá Ba mươi năm đời ta có Đảng: Đó là một kiệt tác của thể diễn ca)*


Một điều có thể chắc chắn, chẳng những thơ Tố Hữu mãi mãi là bằng chứng của một thời đại trong văn nghệ mà cái cơ chế văn nghệ do ông thiết kế còn tồn tại dai dẳng và những tư tưởng lý luận của ông còn tiếp tục chi phối đời sống văn nghệ trong những năm sau khi ông đã qua đời. Chúng ta có thể chán nó, chê trách nó, muốn thoát khỏi nó, nhưng không thể phủ nhận là đã có nó, nó có lúc là một bộ phận trong gia tài tinh thần của mỗi người làm văn chương nghệ thuật thời nay.


Theo nghĩa ấy, tất cả chúng tôi không ít thì nhiều đều là trong bàn tay nhào nặn của Tố Hữu. Và đến lượt mình, chính ông cũng chỉ là một công cụ của lịch sử.*


 


Viết lần đầu 12-2002


 *Những đoạn nhấn mạnh mới bổ sung 4-10-2010


 


 


HAI BÀI THƠ TỐ HỮU


Sau đây là hai bài thơ Tố Hữu viết về Triều Tiên, bọn học sinh cấp II (trung học cơ sở) chúng tôi được học trong chương trình chính khóa mấy năm 1956-57 ở Hà Nội, nhưng lại không thấy in trong các tập thơ của tác giả. Tôi ghi theo trí nhớ, nên có thể có khiếm khuyết, mong được lượng thứ.


 


Em bé Triều Tiên


 


Em bé Triều Tiên ơi


Mẹ của em đâu rồi ?


 


Có ai đây mà hỏi


Giặc bốn bề lửa khói


 


Mẹ của em đấy ư ?


Cái thân trắng lắc lư


Đầu dây treo lủng lẳng


 


Cha của em đấy ư?


Cái đầu lâu rũ tóc


Máu chảy dài thân cọc


 


Không, không phải em ơi


Mẹ của em đây rồi


Mẹ em đây


Người dân công tải đạn


Mẹ em đây người nữ cứu thương


 


Cha em đây giữa chiến trường


Mặt đen khói đạn chặn đường giặc lui.


 


Anh Chí nguyện


Con Bác Mao đã đến


Anh đã đến


Với cha em giết hết loài man rợ


Cho mẹ em xây lại tổ mềm


Cho em sướng cho em ca múa


Trên đồng hoa bãi lúa


Nhịp sống vui muôn thuở của Triều Tiên


 


Bé em ơi, giữa súng rền


Ngày mai tươi mát hát trên đất Triều!


Tố Hữu


 


Việt Nam – Triều Tiên


 


Việt Nam với Triều Tiên


Ta là hai anh em


Sinh đôi cùng một mẹ


Thương nhau từ thuở bé


Nay đều khỏe lớn lên


 


Việt Nam với Triều Tiên


Ta thành hai đồng chí


Ta thành hai anh hùng


Ta thành hai chiến lũy


Cùng bảo vệ hòa bình


Kim Nhật Thành-Hồ Chí Minh


Hai chúng ta là một


Qua Trung Hoa ta như liền khúc ruột


Với Liên xô ta chung một mái nhà


 


Bây giờ ta đến thăm ta


Nhìn nhau khóe mắt mầu da thân tình


 


Cây thông xanh Triều Tiên cháy xém


Thương cây tre Việt Nam giặc chém


Cây thông xanh nhựa chẩy ròng ròng


Thương cây tre đứt ruột đứt lòng


 


Nhưng chúng ta quyết không khuất phục


Chúng ta không một lúc cúi đầu


 


Chúng ta chiến đấu bên nhau


Tâm giao một tổ trước sau một đường


 


Ta quyết giữ quê hương Triều Việt


Cho chúng ta cho cả loài người


Quang vinh Việt Bắc Tháp Mười


Quang vinh Trường Bạch đỉnh đồi Thượng Cam


 


Triều Tiên với Việt Nam anh dũng


Đất nước ta dù im tiếng súng


Đường bạn còn đi tới Tế Châu


Đường chúng tôi còn tới Cà Mâu


Ta lại bước bên nhau lại bước


Như giông tố không thể nào ngăn được.


 


Bây giờ ta với ta đây


Triều Tiên với Việt Nam anh dũng


Hôm nay hãy hôn đôi bàn tay


Hôm nay hãy hôn đôi nòng súng


Giữ hòa bình Tổ quốc chúng ta


Và ngàn năm Triều Việt một nhà.


Tố Hữu


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Truyện ngắn Hoa Kỳ: từ hiện đại đến hậu hiện đại - Lê Huy Bắc 13.10.2019
Bài rất nên đọc: Lưu Quang Vũ trong cái nhìn của các bạn trẻ/ Những bài thơ viển vông cay đắng u buồn... - Nhiều tác giả 13.10.2019
Mai Thảo - khao khát và bất lực - Vương Trí Nhàn 13.10.2019
Nhà văn Triệu Xuân và tiểu thuyết Trả Giá - Ngô Vĩnh Bình 03.10.2019
Sông cạn - Son sắt niềm tin yêu - Triệu Xuân 02.10.2019
Gặp nhà thơ Hữu Loan ở Đồng Nai - Đỗ Hoàng 01.10.2019
Nhà thơ Đỗ Hoàng - Người dịch thơ Việt ra... thơ Việt! - Trần Quang Đạo 01.10.2019
Hoài Anh - Nhà thơ một mình cuốc bộ - Vũ Từ Trang 23.09.2019
Sông Thương, tiếng chim tu hú - Vũ Từ Trang 22.09.2019
Nhà thơ Vũ Từ Trang với các "chân dung văn học" - Huy Thắng 22.09.2019
xem thêm »