tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28883106
11.10.2010
Vương Trí Nhàn
Nhà văn hôm nay với Hà Nội (7)

Nếu từ 1965 về trước, việc đào tạo các nhà văn trẻ ở ta đã được đặt ra, nhưng tiến hành còn chậm chạp, thì từ 1965 về sau, công tác này được đặc biệt coi trọng. Đây là những ngày miền Bắc sôi nổi khí thế chiến đấu chống Mỹ, một cuộc chiến tranh vĩ đại mà lúc ấy, mọi người đều háo hức chờ đón và muốn mang hết sức ra để đóng góp. Trong thanh niên, điều ấy càng rõ. Cảm hứng anh hùng bừng bừng trong lòng, nhiều bạn trẻ cầm lấy bút, những mong giãi bày những sôi nổi của lòng mình trên mặt giấy. Đấy là một lý do. Phần khác, chiến tranh lần này được tổ chức rất chu đáo, đội quân báo chí văn chương được sắp xếp đi về thường xuyên các mặt trận hoặc ở lại lâu dài ở cơ sở, vì thế công việc huấn luyện những chiến sĩ mới càng có vai trò không thể xem nhẹ.


Một điều có thể thấy ngay là mặc dù, trong thời gian 1965-1968, các cơ quan Hà Nội phải sơ tán về các tỉnh lân cận, song Thủ đô vẫn là nơi đào luyện hình thành  nên đội quân những người viết trẻ hết sức đông đảo này.


Đỗ Chu


Ngay từ 1963, nhà văn Đỗ Chu đã có những sáng tác đầu tay in trên Văn nghệ quân đội, và những Mùa cá bột, Hương cỏ mật, Thung lũng cô… đã làm cho nhiều bạn đọc say mê.


Từ thị xã Bắc Ninh, nơi ở của Chu cách Hà Nội chỉ 29 ki-lô-mét, gia đình lại có người chị sống ở Thủ đô, nên thỉnh thoảng cậu học sinh trường Hàn Thuyên vẫn ra đây luôn. Tuy vậy, phải đến khi anh đi bộ đội, có truyện đăng báo, rồi chuyển về công tác ở Cục chính  trị Bộ Tư lệnh Phòng Không, thì Hà Nội đối với anh mới thật gần gũi.


Đỗ Chu những năm chiến tranh đã trở thành một con người của Hà Nội, cùng chia xẻ vui buồn với mọi người như vậy. Anh như một cái dấu nối giữa Hà Nội đời thường với bộ máy chiến tranh đang hoạt động âm thầm, để bảo vệ Hà Nội.


Thật thế. Thử nhớ lại những năm đó, chúng ta sẽ nhớ lại cảm tưởng vui vui, khi được gặp một người lính áo xanh lá cây, quần tím than, những người lính phòng không- không quân. Ta sẽ biết thêm một chút về tình hình địch sẽ đánh phá Hà Nội ra sao, bộ đội bắn trả như thế nào. Ngược lại, những lúc đến với đơn vị Đỗ Chu sẽ mang chuyện Hà Nội kể cho đồng đội.


Nếu nói mỗi nhà văn phải vẽ ra một Hà Nội của riêng mình thì hơi quá, song phải nhận, tuy cách cảm thụ riêng, mà Hà Nội trong văn mỗi người lại có chút khác đi.


Trong văn Đỗ Chu, Hà Nội hiện ra một cách duyên dáng, một Hà Nội thường là ngoại ô, nghĩa là có những bóng bàng thưa, có những vệt dài cô gái đi gánh nước và tiếng chuông tàu điện leng keng. Con trẻ thích bắt cánh cam, xén tóc. Thanh niên thết nhau bằng cách mời nhau bát phở, que kem. Nhưng đó là thời mỗi người sống tự bằng lòng với mình, nghĩ nghèo mà trong sạch là quý rồi, không mong gì hơn, không ai bị tiện nghi ám ảnh và cái phần thưởng quý nhất với mọi người là những phần thưởng về tinh thần. ở Hà Nội bấy giờ người già, người trẻ sống hoà hợp với nhau, người ở nông thôn ra với người ở thành thị hết sức thông cảm, bà con hàng phố gửi chìa khoá nhà cho nhau, chăm sóc nhau, như người có họ hàng ruột thịt. Và Đỗ Chu cũng miêu tả mọi người một cách tự tin như là những ruột thịt của chính mình, ở cái thị xã bé nhỏ mà anh vẫn sống.


Kết thúc truyện ngắn Thành phố bên kia cầu (1966), Đỗ Chu viết mấy câu có vẻ bâng quơ.


Quê hương chúng ta là những xóm nhỏ, những cánh đồng và nếu là thành phố thì những thành phố ấy thường nằm trên bờ sông có nhịp cầu thân thuộc bắc qua.


Tuy Đỗ Chu không nói rõ, nhưng những thành phố mà anh nói sở đây có thẻ bao gồm cả Hà Nội. Một sự tiếp nhận thanh thản, dịu dàng! Và đó chính là cảm hứng chính mà Thủ đô gợi lên trong tâm trí Đỗ Chu và bạn bè anh những năm ấy, để rồi còn lại dư vị trong sáng tác của anh rất lâu về sau.


Lưu Quang Vũ


Cũng gắn bó thân thiết với Đỗ Chu ở Hà Nội trong những năm 1965-1970, có nhiều bạn bè khác, trong đó, nổi lên là Phạm Tiến Duật và Lưu Quang Vũ.


Trong những năm chống Mỹ, Phạm Tiến Duật  như một cái dấu nổi giữa mặt trận và Hà Nội. Từ khi đi bộ đội, gần như Phạm Tiến Duật rất “có duyên” với bom đạn, cứ ở đâu đánh mạnh, anh ở đó…


Năm 1965, anh ở Thanh Hoá. 1967-1968, về Hà Nội, chia lửa với Hà Nội. Từ giữa 1968, đi dần vào trong Vinh, Nam Đàn, Hà Tĩnh, Quảng Bình, rồi thấu suốt cả tuyến đường 559, nghĩa là sát với B2, B1 v.v… Nhưng dù đi xa tận đâu, gần như năm nào anh cũng có dịp ghé về “đất thánh” ít ngày. Đang ngồi với nhau ở một toà soạn nào đó, thình lình chúng tôi bắt gặp Duật vào. Chả bao giờ anh có balô, quà tặng gì cả, anh đi xe đạp tới, hẳn hoi, và đã đổi cách ăn mặc, y như lâu nay Duật vẫn ở Hà Nội. Anh ngồi ở nhà một bạn nào đó, vừa tham gia vào mọi mặt sinh hoạt, vừa viết. Rồi đến một hôm nào đó, lại nghe nói anh sắp phải đi, và bạn bè lại ùn đến đưa tiễn, như trước đó, đã đổ đến, để nghe anh kể chuyện về mặt trận.


Còn Lưu Quang Vũ thì vốn là một học sinh, học ở Hà Nội suốt từ cấp một đến cấp ba. Gốc gác gia đình ở Đà Nẵng. Nhưng bố Vũ, ông Lưu Quang Thuận đã ra Hà Nội từ trước 1945 và trước khi toàn quốc kháng chiến, 1946 ông Thuận đã từng chủ trì tạp chí Sân khấu và nhà xuất bản Hoa Lư. Mẹ Vũ là người Hà Nội gốc.


Tôi nhớ có lần được Vũ dẫn vào nhà bà ngoại chơi, ở phố Nguyễn Siêu. Đó là một ngôi nhà cổ, mái lợp ngói lá đề, ngoài có cửa bức bàn. Qua phòng ngoài chúng tôi vào sâu hơn, thấy một khoảng hẹp, sáng nhờ nhờ, nhìn lên, hoá ra có những mảng kính mờ, để cho nhà đỡ tối. Loại nhà này còn đặc biệt ở chỗ mái quay vào trong, và khoảng sân hẹp có những ống máng dẫn nước mưa xuống, đổ vào bể. Đấy là những căn nhà đã có tuổi thọ khá cao, theo gia đình kể, trước nhà lúc đầu còn là dòng sông Tô Lịch, sông này lại ăn ra sông Hồng. Vậy là nhà phải làm trước 1889 (Theo tài liệu của Nguyễn Vinh Phúc trong Đường phố Hà Nội H. 1979) và thuộc vào loại những căn nhà gạch đầu tiên được xây ở khu vực này.


Về nhiều mặt, Lưu Quang Vũ đúng là một thanh niên Hà Nội. Anh làm thơ từ nhỏ, lại còn học vẽ, từng cắp giá vẽ, theo hoạ sĩ Nguyễn Đức Nùng đi khắp nơi. Anh sống giữa nhứng người làm văn học nghệ thuật một cách thoải mái, như trong gia đình.


Cách ăn mặc, nói năng, đi lại của Vũ là cách của người trong phố, không thể lầm với người ở một ngoại ô nào, mà càng không phải là người thị xã. Tuy nhiên trong thơ của Lưu Quang Vũ cảm xúc về thiên nhiên còn rất mạnh. Tập thơ đầu tay của anh in chung với Bằng Việt có tên là tạp Hương cây, trong đó có rất nhiều bài nhắc đến “mùi hồng, mùi bưởi, mùi na”.


Đây cũng là một nét tiêu biểu cho nhiều thanh niên Hà Nội bắt đầu viết từ những năm chống Mỹ.


Gần đây hơn, trong những truyện ngắn in trong các tập Người kép đóng hổ, Mùa hè đang đến, người ta lại thấy Vũ nói với những khía cạnh sinh hoạt bình thường của người dân Thủ đô sau chiến tranh. ở truyện này, mấy người bạn già đấu đầu trò chuyện sự đời, con cái. Truyện kia, những cặp thanh niên yêu nhau, giận hờn gia đình về ở lại với nhau, rồi chán ngán chia tay. ở một truyện khác nữa, câu chuyện về một đứa trẻ bị bỏ rơi, được cứu sống lại


Sau những năm chiến tranh vất vả, thành phố hiện có bao bao nhiêu vấn đề đặt ra trong đời sống hàng ngày, không có vấn đề nào là riêng tư, bởi thành phố được làm nên từ những con người rất cụ thể. Lưu Quang Vũ đón nhận lấy để viết, viết từ những người hàng xóm mình, từ những người cùng cơ quan với mình, từ gia đình mình và từ chính mình… Viết như thế, cho nên Lưu Quang Vũ được chào đón nồng nhiệt, cả trong kịch, trong truyện.


Với cách làm việc hôm nay, Lưu Quang Vũ đạt tới trình độ tay nghề của các nhà văn chuyên nghiệp trước đây nghĩa là viết đều, viết khoẻ, bằng một cách viết dung dị mà ai cũng có thể hiểu được.


Khu vực nổi hơn cả của nhà văn Hà Nội này gần đây là sáng tác kịch. Trong dịp kỷ niệm ba mươi năm giải phóng Thủ đô vừa qua, vở Hẹn ngày trở lại đã được trình diễn rộng rãi, Lưu Quang Vũ thường nói với tôi:


Đã có lúc tôi thử tính chuyện chuyển vào Đà Nẵng hoặc thành phố Hồ Chí Minh, nhưng rồi thấy không đi đâu mình làm ăn viết lách tốt bằng ở Hà Nội.


 


Bằng Việt


Một thi sĩ khác, từ khi mới xuất hiện trong lực lượng  những người viết trẻ hồi đầu chống Mỹ, đã được coi như rất lịch sự, tài hoa, trí thức và thường  coi như tiêu biểu cho Hà Nội hôm nay, đó là Bằng Việt.


Cũng như Lưu Quang Vũ, Bằng Việt học phổ thông ở Hà Nội. Về sau, dù đã đi học ở nước ngoài, rồi lại về công tác ở một cơ quan rất nghiêm túc như Viện Luật, thuộc ủy ban khoa học xã hội, nhưng lúc nào trông anh cũng còn dáng dấp thư sinh, trẻ trung hiền hậu. Anh em bè bạn đến nhà chơi thường ngồi nghe Bằng Việt kể một ít tin tức văn học ở nước ngoài, đọc một ít bài thơ mới dịch, hoặc mở máy quay đĩa, nghe một vài bản nhạc cổ điển.


Nhưng tất cả những cái đó không xa lạ với Hà Nội chiến đấu. Trong cách giải thích của nhà thơ, tác giả tập Bếp lửa mới in ra bấy giờ, toàn bộ truyền thống văn hoá nói chung, truyền thống lịch sử của Hà Nội nói riêng, nghĩ cho kỹ, đều dẫn tới một kết luận duy nhất, chúng ta phải đánh Mỹ.


Đánh Mỹ là lương tâm, hy vọng!


Đánh Mỹ là “tận cùng hạnh phúc”!


Không phải ngẫu nhiên mà bài thơ viết về Hà Nội hay nhất của Bằng Việt có nhan đề Trở lại trái tim mình. Nó quy tụ nhiều suy aghĩ của thế hệ thanh niên có tri thức của Thủ đô lúc ấy, mà cái suy nghĩ thường trực nhất là sứ mệnh lịch sử của Hà Nội, tầm vóc của Hà Nội trong cuộc chiến đấu chung.


Tuy không có những chữ huyền thoại, thần thoại như thơ Bùi Minh Quốc hồi nào, nhưng âm hưởng chính mà thơ Bằng Việt toát ra, vẫn là âm hưởng hoà hợp, cá nhân và tập thể hoà hợp, hôm nay và hôm qua hoà hợp, nghĩa là thực chất vẫn là rất gần với sự thành kính thiêng liêng của huyền thoại. Có những chi tiết phác ra hình ảnh một thành phố trong chiến tranh, những chuyến hàng sang sông, cầu phao cót két, những hầm trú ẩn cá nhân… Nhưng cái phần để lại ấn tượng sâu sắc nhất, qua sự miêu tả của tác giả là một Hà Nội có truyền thống văn hoá lâu đời, lại từng trải, khiến người ta vừa cảm thấy vừa yêu, vừa phục.


 


Bằng Việt đã làm khá nhiều bài thơ về Hà Nội. Trong thơ anh, Hà Nội là gặp gỡ của bạn bè, của tình yêu. Là nơi xuất phát để đi xa. Là nơi sống với mọi vui buồn của đất nước. Lại là nơi sẽ quay về sau đất nước đã thống nhất, và theo cách nhấn mạnh của nhà thơ, bấy giờ, Hà Nội vẫn trọn vẹn vẻ đẹp cũ, như người con gái trải qua bao nhiêu thử thách của chiến tranh bên vẻ dịu dàng, có thêm cái rắn rỏi và sâu lắng hơn trong cách nghĩ, nên càng thêm đẹp. Không phải chỉ riêng nhà thơ tác giả Trở lại trái tim mình, Lương tâm mà có thể nói và rất nhiều người trong chúng ta, trong những năm chiến tranh, đã nghĩ như vậy.


 


Như trên vừa kể, khi cuộc chiến đấu chống Mỹ vừa bắt đầu thì Bằng Việt học xong đại học ở nước ngoài về, và từ đó, những nét tiểu sử riêng của nhà thơ hầu như hoà nhập với những lo toan bận bịu chung của người cán bộ thành phố. 1965-1966, bắt đầu sơ tán, người lên Sơn Tây, người qua Sông Hồng, về Bắc Ninh, Hải Dương. Cầu gẫy, rồi cầu được khôi phục. Những ngày về qua Hà Nội, nấu cho nhau bát canh mì sợi, mua ít gạo, kiếm ít sách vở rồi lại ra đi. Những năm bảy mươi, một đợt sơ tán ngắn nữa, một đợt đánh B52, và những ngày đi chiến trường, vào Đông Hà, Quảng Trị, vào xa nữa, B2, B1, sau đó là chiến thắng, là gặp mặt ở Sài Gòn.


Mười năm ấy, Bằng Việt luôn luôn đứng ở góc độ Hà Nội để viết. Có những băn khoăn, xao động, nhưng  rồi những yên tâm hợp lý lại đến, cái yên tâm rất cần thiết cho đời sống bình thường. Và cả cái tâm tình kỳ lạ này – say mê, ngơ ngác với chính mình.


Hà Nội ơi! Không biết bao lần


Tôi đi vắng rất lâu, trở về gặp lại


Hà Nội vẫn làm tôi ngơ ngác mãi


Giữa nhịp phố quá dịu dàng, mái phố quá yên tâm


 


Đó cũng là – theo nhà thơ – một cách chiến đấu của Hà Nội, một cách góp phần vào cuộc chiến đấu chung của cả nước.


 


Hoài Anh- Nguyễn Đức Mậu


Lê Lựu – Triệu Bôn


Năm 1967, trong một dịp nào đó, tôi có may mắn được quen Hoài Anh và thú vị được biết cái địa điểm anh ở. Đó là một căn gác xép trên tầng nóc rạp Chuông vàng Hà Nội. Bạn bè không mấy khi lên trên đó. Có việc cần, chúng tôi chỉ từ dưới đường Tạ Hiền réo lên, và thấy Hoài Anh – nếu anh có nhà – hiện ra qua khung cửa sổ nhoẻn cười, xuống đường rủ chúng tôi đi chơi. Không ít người chúng tôi lúc ấy đã có xe đạp. Nhưng Hoài Anh thì không hoặc không muốn có cũng được. Đi đâu, anh chỉ cuốc bộ và không hề phải băn khoăn gì về cách đi lại của mình. “đi như thế mình lại nghĩ được nhiều việc cần làm” – Hoài Anh giải thích.


Nghĩ đến Hoài Anh, chúng tôi hay nhớ đến bài thơ Nhớ ngày thủ đô kháng chiến, trong đó có mấy câu


Một người bạn tôi gặp trong đêm ấy


Ra phố mua một bao thuốc lá


Chín năm sau anh mới trở về nhà


Phải chăng đây cũng là một mẫu người viết Hà Nội kỳ lạ, độc đáo? Anh viết kịch bản cho các vở cải lương, đâu viết rất nhiều tuy không ký tên. Sau 1975 anh vào Sài Gòn làm Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh giữ mục Phê bình văn học nghệ thuật, và tỏ rõ tài đa-dê-năng của mình. Nhưng chỗ chúng tôi nhớ Hoài Anh nhất, vẫn là thơ.


Hoài Anh thuộc vào loại sống nhiều, sống kỹ với Hà Nội từ 1955 đến 1975. Giá kể, lúc nào đó, anh có điều kiện viết về đời sống nơi đây như anh biết, chắc có nhiều cái hay. Sự trưởng thành của Hoài Anh không giống một ai. Anh tiếp thu được cái phần Hà Nội mà nhiều người không biết và không quan tâm, nhưng chính vì thế, bạn bè hay nghĩ tới anh.


Qua Hoài Anh, ta thấy thêm một sự thật: ở Thủ đô thường có những người viết rất độc đáo, và thành phố này có thể chấp nhận được những kiểu người viết khác nhau, miễn họ thực sự là người cầm bút.


Dẫu sao, từ năm 1954 trở đi, kiểu người viết như Hoài Anh hơi ít. Phổ biến hơn là kiểu học sinh Hà Nội thích viết văn, đi xa để viết, thích viết về những miền xa ấy, hơn là viết về Hà Nội. Đó là những Bùi Minh Quốc, chúng ta đã nói ở trên, hoặc Nguyễn Thị Ngọc Tú, Dương Thị Xuân Quý sẽ nói dưới đây.


Một người như Bùi Bình Thi chẳng hạn. Bản thân cũng là học sinh Chu Văn An, nhưng Bùi Bình Thi cũng rất hay đi xa, từ Tây Nguyên tới Bắc Lào, các binh trạm Trường Sơn, những nơi ấy anh đã đi về nhiều lần, để rồi viết ra Ký sự Xiêng Khoảng, Đường về Cánh đồng Chum v.v… Có lẽ “thời chiến” đã tạo nên một kiểu lập nghiệp như thế!


Trong khi ấy, làm nên một phần cái nôi nổi của đời sống văn học ở Hà Nội lại là những anh bộ đội ở các tỉnh xa về, những Lê Lựu, Triệu Bôn, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Duy, Vương Trọng v.v… và v.v…


Trong thái độ đối với phố phường Hà Nội, Nguyễn Đức Mậu có phần giống như người đồng hương  trước đây của anh là Nguyễn Bình Nghĩa là, dù có lẽ là một chút, giữa những anh em sáng tác, thì Mậu vẫn không coi đây là nhà của mình. Tâm hồn anh để cả ở nơi khác, những mảnh đất chiến trường mà anh quen thuộc Tuy vậy, Nguyễn Đức Mậu không làm dáng, không đóng kịch, không chê bai cách sống Hà Nội. Anh lặng lẽ đón nhận không khí văn học nơi đây, học lấy những bài học có ích, để rèn giữ cho sáng tác của mình có thêm bản sắc. Lúc cần, anh cũng làm thơ về một bức Ghéc-ni-ca của Pi-cát-xô. Nhưng chỉ có thế.


 


Trong một bài thơ gần đây, viết nhân dịp 30 năm giải phóng Thủ đô, bài Hà Nội chiều nay, Nguyễn Đức Mậu vẫn giữ một thái độ bình thản như vậy. Không vồ vập, mà cũng không lảng tránh. Vẫn nhớ quê hương và cảm thấy tâm tình của mình để cả ở một miền quê Nam Định. ở Hà Nội, Mậu thèm từ một tiếng gà gáy quen thuộc trở đi, nhưng cũng vẫn sung sướng thấy rằng mình ở đây, trưởng thành lên, chỉ ở đây, sáng tác của mình mới đi hết được khả năng của nó, và mình mới có một cuộc đời như mình mong muốn.


 


Giữa Lê Lựu và Triệu Bôn có nhiều nét giống nhau. Các anh cùng bắt đầu viết từ trước 1964 ít lâu vào thực sự trở thành những cây bút văn xuôi từ những năm chống Mỹ. Các anh cũng đã lăn lộn nhiều ở các mặt trận, các đơn vị xã và chỉ thỉnh thoảng mới ghé về Hà Nội. Mà mỗi khi về, cũng chỉ quan hệ cầm chừng, không bị cuốn hút vào đấy.


 


Lê Lựu hồi ấy chưa có gia đình ở Hà Nội, nên ăn mặc rất gảin dị, thậm chí đôi khi có vẻ tố cái chất “nhà quê” của mình lên tí  chút, cố làm  ra vẻ thô lỗ.  Xuềnh xoàng. Luôn luôn anh muốn lưu ý người gặp anh “Tôi là người lính”.


 


Triệu Bôn cũng vậy. ở giữa Hà Nội, anh vẫn giữ một nếp sống như đang ở giữa rừng. Chỗ ăn chỗ ở thật sạch sẽ. Bao nhiêu tâm lực, để cả vào việc viết.


 


Thậm chí ngay đối với đời sống văn nghệ Hà Nội. Triệu Bôn cũng có phần dè dặt, không hăng hái xông vào cuộc như những người khác để tranh cãi luận bàn. Tuy anh không nói rõ, nhưng thường trở đi trở lại với một ý nghĩ âm thầm mình sẽ viết không phải để cho bạn đọc ở đây, mà để dành cho người lính ở các đơn vị đọc (ít ra là qua thái độ của anh, chúng tôi cảm thấy như vậy!)


 


Nếu ở Lê Lựu, đôi khi còn thấy có những run rẩy, muốn xem xem đời sống văn nghệ Hà Nội ra sao, thì Triệu Bôn rất dứt khoát trong cách nghĩ của mình, và quả thật, văn anh viết trước sau thuần nhất đi theo cái hướng anh đã chọn.


 


ấy vậy mà cả Lê Lựu và Triệu Bôn đó, mấy năm nay, đã có những thay đổi trong cách nhìn, cách quan hệ.


Từ chiến trường về, Lê Lựu lập gia đình ngay giữa Hà Nội. Có những lúc trông anh vẫn là người lính xưa. Nhưng có những lúc từ cách ăn mặc, đi đứng của anh đã khác, anh chấp nhận cuộc sống nơi đây một cách chân thành hơn, cởi mở hơn.


Trong cuốn tiểu thuyết mới của Lê Lựu, cuốn Thời xa vắng, nhân vật trung tâm là một thanh niên những năm chống Mỹ, và mối quan hệ giữa người thanh niên này với Hà Nội là một mảng truyện rất đậm, ở đó có những sắc thái ngọt ngào, nhưng có cả vị cay đắng.


Còn Triệu Bôn, gần đây nhất, anh chuyển về công tác ở Hội Văn nghệ Hà Nội và đang cùng với một số anh em trong Hội lo làm tờ Người Hà Nội.


Riêng việc Triệu Bôn tự nguyện chọn Hà Nội làm “chiến trường hôm nay” của anh, nơi anh làm việc và thực tế để anh viết… đã chứng tỏ rằng, trong nhận thức của lớp nhà văn như Triệu Bôn, vai trò của Hà Nội đang được “phục hưng” không những nó không có gì đáng để cho các nhà văn ngại ngần mà ở đó, có tất cả các vấn đề của đời sống đất nước, các nhà văn cần viết, nên viết. Từ chuyện sản xuất đến chuyện sinh hoạt gia đình, từ những cuộc đấu tranh tư tưởng tinh vi mà không kém phần quyết liệt đến những mẫu người mới đang hình thành… bấy nhiêu khía cạnh làm nên đời sống hàng ngày của mỗi người dân Thủ đô, thực tế cũng là điều bạn đọc đông đảo trong cả nước mong chờ văn học quan tâm và giải đáp.


 


Trong phần cuối của chương này, chúng tôi dành để nói về sự gắn bó với Hà Nội của mấy cây bút phụ nữ tương đối trẻ.


Dương Thị Xuân Quý.


Nhà chị trước ở 195 Hàng Bông. Gia đình vốn thuộc loại nền nếp, ông bố là Dương Tự Quán, từng làm báo, Xuân Quý lớn lên đi học phổ thông, học trung cấp mỏ, rồi chuyển sang một lớp báo chí, và về công tác ở báo Phụ Nữ. Cũng tập viết văn từ đó.


Hà Nội có đóng góp gì trong việc hình thành cuộc đời viết văn ngắn ngủi nhưng vẻ vang của Xuân Quý?


Ngày nay tác giả không thể trả lời câu hỏi đó nữa, nhưng tất cả bạn bè đều nói: Chính không khí Hà Nội những năm 1954-64 đã khơi gợi ở Xuân Quý những ước mơ trở thành nhà văn. Đối với lứa học sinh như Xuân Quý, nhà văn bấy giờ là những con người rất thiêng liêng. Những con người có khả năng cải tạo xã hội. Những người có khả năng mang cuộc đời thật vào trang sách làm cho nó đẹp lên, óng ánh lên không biết bao nhiêu lần….


Mọi người đều nhớ Xuân Quý rất mê Goor-ki. Trên bàn Xuân Quý có để tranh, tượng nhà văn Nga vĩ đại này, và trên giá sách có gần đủ các sách dịch của ông. Xuân Quý không tuyên bố, nhưng hầu như ai cũng hiểu, Xuân Quý muốn trở thành một thứ Goor-ki ở Việt Nam.


Phan Thị Thanh Nhàn còn ghi trong sổ tay lời bạn mình tâm sự:


Tao chán cái lối văn chương hoa lá cành của các ông, các bà bây giờ lắm rồi. Tao sẽ viết như cuộc đời thực này chúng ta đang sống. Như Goor-ki đã viết.


Hà Nội trở thành một thứ môi trường rất tốt, giúp cho Xuân Quý thực hiện ươc mơ của mình.


Theo sự phân công của báo, Xuân Quý có dịp đi nhiều địa phương trên miền Bắc lúc đó. Đi về, bao giờ cũng trốn vào một chỗ ngồi viết.


Viết rồi lại đi.


Và đợt đi quan trọng nhất, đối với cuộc đời Xuân Quý, là đợt từ giã Thủ đô, lên đường vào Khu Năm (1968)


- Văn xuôi không có đời sống thì không thể viết được… Mày bảo nước mình bây giờ làm gì có ai sống yên ổn?


Trên nhưng trang nhật ký của Xuân Quý lúc vào chiến trường, có hai nỗi nhớ tha thiết, nhớ con và nhớ Hà Nội. Con cái là cuộc đời riêng. Là tình cảm gia đình. Còn Hà Nội là công việc, là ước mơ trở thành nhà văn viết hay, cống hiến nhiều cho nhân dân, đất nước.


Nguyễn Thị Ngọc Tú


Có một dạo, thấy Ngọc Tú viết một ít truyện ngắn về vùng mỏ, và người ta dễ dàng gặp chị trong một buổi họp mặt các cây bút viết về công nghiệp. Một thời gian sau, với các tiểu thuyết Đất làng, Buổi sáng… Ngọc Tú lại thường được xếp vào diện các cây bút chuyên về nông thôn. Thế thì tác giả người ở đâu? Số báo Văn Nghệ đặc biệt “Các nhà văn Việt Nam” 1983 đã ghi rõ chị quê quán Hà Nội. Nghĩ cũng thấy có lý, chẳng phải đó cũng là một nét tính cách người Hà Nội, tức khả năng thích ứng với mọi hoàn cảnh, để trưởng thành và xứng đáng hơn với Hà Nội.


 


Ngọc Tú kể với tôi đầy đủ hơn: Chị sinh ra và lớn lên ở ngõ chợ Khâm Thiên. Gia đình rất nghèo. Nhớ lại những kỷ niệm hồi nhỏ, chỉ riêng chuyện Tết đã thấy thấm thía. Mẹ chuyên đi gói bánh chưng thuê. Trở về, dáng mệt mỏi, hai bàn tay nhăn nhúm vì lạnh, người chỉ toàn mùi lá dong, vậy mà cả nhà chỉ được có dăm cái bánh là công người ta thí cho.


- Thế thì làm sao chị lại nảy ra ý nghĩ trở thành người viết văn?


- Nhà nghèo, nhưng tôi vẫn cố gắng theo học, cho đến lớp đệ tam (cũ) ở trường Tây Sơn. Vả chăng chính ông bố tôi trước kia cũng có làm báo. Cụ viết cho Trung bắc tân văn và một số báo khác. ở nhà, cụ dạy con cái rất cẩn thận.


- Vậy chị có ý định viết văn, ngay từ trước khi chuyển đi công tác ở các tỉnh xa?


- Đúng thế. Năm 1958, mới 16 tuổi, tôi đã viết một số truyện, nhưng không biết gửi đi đâu. Bèn đến gõ của Nhà xuất bản Sự thật và nói thác đi. “Đây là chị cháu viết, sai cháu mang đến” Độ một tháng sau, mới dám đến hỏi, và cũng nói thác đi tương tự. “Chị cháu đi công tác vắng, chị cháu bảo đến xem các bác có nhắn gì không” Dĩ nhiên, Nhà xuất bản gói ghém trả lại đầy đủ.


Ngọc Tú kể tiếp: Khi thấy chị lớn lên, mơ ước của mẹ chỉ là kiếm cho con gái một cửa hàng nào đó buôn bán, như các cụ ở Hà Nội xưa vẫn mong như vậy. Đối với Ngọc Tú, chị lại thấy đó là chuyện đâu đâu, không dính dáng gì đến mình.


Bởi vậy để tránh những phiền phức của sự thúc ép gia đình, sau khi học xong trường trung cấp sư phạm Ngọc Tú xin chuyển về một vùng nông thôn ở Hà Sơn Bình. Cuộc sống ban đầu thật vất vả. Lương không có là bao, cô giáo phải học thêm nghề đan thúng lấy tiền mua dầu để tối có ngọn đèn làm việc. Bên cạnh công việc ở trường, là việc tích luỹ tài liệu. Một số  gọi là ghi chép sau này còn được dùng trong các tiểu thuyết Đất làng, Buổi sáng. Còn trước mắt, Ngọc Tú kể một phần chuyện mình trong Huệ, cuốn truyện xinh xắn in năm 1964.


Sau Huệ, Ngọc Tú về học ở trường viết văn khoá một. Nhưng đấy chỉ là đợt “tạm trú” vì ở trường ra, Ngọc Tú còn về Hội Phụ nữ Hải Phòng, báo Vùng mỏ mãi từ 1967, mới trở về hẳn “quê cũ”.


- Nhưng chị viết còn ít về Hà Nội?


- Cũng có đấy chứ. Câu chuyện dưới tán lá rợp, Ngõ cây bàng liên quan đến những kỷ niệm hồi thơ ấu. Hạt mùa sau là câu chuyện về những cuộc đấu tranh tư tưởng ở một cơ sở khoa học vùng ngoại thành. Tới đây tôi còn viết về một bệnh viện, với khuôn mặt đa dạng của những người làm nghề y tế ở thủ đô.


Nét đặc biệt trong lao động của một người viết như Ngọc Tú, là viết rất chăm, có thể nói là rất “lì”, đã định viết là kiên nhẫn ngồi đến cùng, viết bằng được mới thôi, và không ngại viết dài. Ai đó thường nói người Hà Nội phải tài hoa. Nhưng Nguyễn Thị Ngọc Tú phần tài hoa ấy chỉ là cái ngọn, cái gốc của nghề văn phải là  chăm chỉ, kỹ càng, nếu bảo là lao động nặng cũng được.


Một lần nào đó, bàn về tiểu thuyết, nhà văn đã phát biểu. “Viết tiểu thuyết cũng giống như là nấu cỗ. Một người đầu bếp đã có tài ba đến mấy cũng đành bó tay nếu trong bếp chỉ có rau và ớt. Mà phải có thật nhiều thứ. Không phải chỉ có những thứ chính như thịt, cá, gà vịt, mà thậm chí cả đến củ tỏi và rau húng cũng không thể thiếu.


Qua sự ví von chúng ta cảm thấy người viết ở đây rõ ràng là một người kỹ tính và có những yêu cầu cao về mặt nghề nghiệp. Nhưng đấy lại chính là một phương diện làm nên chất Hà Nội ở ngòi bút Nguyễn Thị Ngọc Tú.


 


Phan Thị Thanh Nhàn


Theo cách phân chia khu vực địa lý hiện nay, nội thành Hà Nội khá rộng, bao gồm hết cả những vùng trước kia (1954) là ngoại thành, như làng Bưởi, làng Hồ, Yên Phụ v.v… Nhưng đối với người làm thơ như Thanh Nhàn, thì ý niệm rằng mình vốn dân “ven nội”, “ngoại thành” không phải một lúc phai mờ ngay được. Trong đời cũng vậy mà trong thơ cũng vậy. Một trong những bài hay nhất của Thanh Nhàn , bài Xóm đê mở đầu bằng những câu:


Xóm đê ngày trước  gọi nhau


Mụ còng bới rác


Mẹ con nhà lông gà giẻ rách


Lão Tư say


Thằng bé đánh giày


Ông già mù tẩm quất


Chính từ một trong những xóm nghèo đó – nay là phố Yên Phụ – mà Thanh Nhàn lớn lên, và ước mơ trở thành một người làm thơ, viết văn cũng ngày một chín dần lên.


Sổ tay của Nhàn còn ghi.


- Đi cắm trại ở Đa Hoà, một làng ở Khoái Châu ven sông Hồng. Đi chùa Trầm, chùa Thầy.


- Mê truyện. Những năm đó, đã đọc Những người khốn khổ, đọc Dế mèn phiêu lưu ký. Phố có một bà gọi là bà Kẹo, cho thuê sách. Toàn những sách cũ còn lại. Hồn bướm mơ tiên, Vàng và máu, v.v… Có ấn tượng nhất là Những ngày thơ ấu. Mình khóc ghê quá. Nói với cái Vân, “Giống cảnh tao thật. Vân ạ…Nhưng mẹ tao còn hay hơn mẹ ông Nguyên Hồng nhiều”.


- Cạnh hàng xóm có cụ đồ Mít. Cụ hay gọi sáng đọc hộ thơ.


Một vùng cỏ áy bóng tà


Gió hiu hiu thổi một và bông lau


Rút trâm sẵn giắt mái đầu


Vạch da cày vịnh bốn câu ba vần


Đọc Kiều, Chinh phụ ngâm, Tống Trân Cúc Hoa. Toàn chuyện những người tài sắc mà khổ.


v.v…


Hoá ra, những xóm nghèo Hà Nội cũng có khả năng hun đúc cho người ta ham muốn viết văn. Ngày trước những Tô Hoài, Nguyễn Đình Lạp… đã vậy, ngày nay thêm nhiều bạn trẻ khác, trong đó có Thanh Nhàn. Công việc phóng viên báo hàng ngày khiến chị rất bận. Nhưng nhờ là phóng viên báo Hà Nội Mới hai mươi năm nay, nên Thanh Nhàn lại có dịp tiếp xúc với nhiều mặt đời sống Thủ đô. Và chị làm thơ.


Đây là tên một số bài thơ đã in. Với sông Hồng, Bên hồ, Một vòng Hồ Tây, Mùa mưa Hà Nội, Thành phố và tôi. Rồi Xóm đê, Khâm Thiên. Rồi Trong một hiệu ảnh thủ đô, Những ngôi chùa Hà Nội…


Mấy ai trong chúng ta, khi đi qua đường Thanh niên, nhận ra rằng ven chùa Trấn Quốc có một vài bóng thông. Vậy mà Thanh Nhàn đã mang những cây thông đó vào thơ. Thơ Thanh Nhàn mộc mạc, giản dị và “ăn” ở những nét duyên thầm như thế.


Ngoài thơ, Thanh Nhàn còn viết truyện  Hoa mười giờ đi vào một số nét sinh hoạt của làng Chuông hồi kháng chiến chống Pháp. Xóm đê ngày ấy là thiên truyện viết cho thiếu nhi, trong đó có lồng vào một ít kỷ niệm tuổi thơ của tác giả. Có lần, Thanh Nhàn đã kể trong một bài báo, mặc dù bây giờ chị đã chuyển sang một chỗ ở mới, nhưng mỗi lần về thăm mẹ, chị lại chứng kiến cái cảnh cảm động. “Các em học sinh tôi chưa hề quen biết rụt rè đi qua, nghé đầu vào cười rồi chạy biến di trên hè phố, miệng gọi Chị Thanh Nhàn”


Tác giả Xóm đê thật đã giành được sự công nhận của bà con hàng xóm và đông đảo các bạn đọc nhỏ tuổi nơi chị từng lớn lên. Một lúc nào đó, Thanh Nhàn đã kêu lên niềm tự hào chung cho nhiều nhà văn chúng ta.


- Được là một người viết của Hà Nội, đó thật là một hạnh phúc lớn lao.


Xuân Quỳnh


Đầu những năm 50, khi Thanh Nhàn, Ngọc Tú học ở Hà Nội, thì Xuân Quỳnh  còn học ở Hà Đông và chỉ thỉnh thoảng đi tàu điện ra với những phố lớn ở trung tâm thành phố. Nhưng có lẽ chính vì còn xa lạ với Thủ đô một khoảng cách nào đó, dù là rất nhỏ, nên tình yêu Hà Nội trong lòng người con gái này mạnh mẽ thêm.


Xuân Quỳnh kể trong số những kỷ niệm về Hà Nội thời nhỏ, chị nhớ nhất những lần ra chữa răng ở bệnh viện Phủ Doãn (nay là bệnh viện Việt Đức). Từ trên gác nhìn xuống đường, thấy nhiều người phụ nữ  đẹp đi qua, chỉ ước lớn lên mình cũng đàng hoàng đẹp đẽ như vậy. Tình yêu Hà Nội trong Xuân Quỳnh được bền chắc còn do ông bố chị hun đúc. Trước 1954, ông cụ sống ở phố Tô Hiến Thành và rất mê đường nét Thủ đô, đã để nhiều phim ảnh chụp lại thành phố. Có lần cụ đưa cho con gái xem một bức ảnh Quỳnh chẳng hiểu gì bố phải chỉ mãi mới nhận ra những ánh đèn trên hồ Thuyền Quang.


Từ sau 1954, Xuân Quỳnh chuyển về công tác ở một đoàn văn công . Từ đó, người con gái La Khê (Hà Đông) mới chính thức nhập tịch Hà Nội. Sau 1965, chị chuyển về báo Văn Nghệ. Từ nay tình yêu Hà Nội với chị còn có thêm một ý nghĩa nữa. Hà Nội là môi trường hoạt động văn học, nơi có nhiều bè  bạn, đồng nghiệp.


 


Xuân Quỳnh kể:


Những năm chống Mỹ, chúng tôi mới thật phát hiện ra Hà Nội. Đi sơ tán ít ngày, càng thấy yêu thêm Thủ đô, y như một ít ngày sốt nhẹ, giúp cho người ta thêm yêu đời thường hơn. Rồi sau khi sơ tán trở về: Nếu như bây giờ chủ yếu chúng tôi sống với gia đình, cuộc sống thu gọn trong mấy bức tường, thì thuở ấy, khi còn hai mươi, hai nhăm, chúng tôi đã thật sự sống với phố xá. Cùng với bè bạn, tôi đã đi khắp Hà Nội, ra ngoại thành, và Hà Nội không chỉ thu vào mấy khu phố cũ, mà mở ra đến vùng ven sông Hồng, Hồ Tây và nhiều cảnh đẹp khác” Những làng hoa hương thoảng xa gần - Vườn hoa trẻ như khi mười sáu tuổi”. Những làng hoa ấy, đã bao nhiêu lần chúng tôi đi về yêu mến.


Lại còn những lần đi công tác xa Hà Nội nữa chứ! Việc đi là rất cần thiết, chúng tôi đã tự nguyện đi . Nhưng trong khi đi, mới hiểu mình đã gắn bó với Hà Nội biết ngần nào! Tôi nhớ những lần vào Vĩnh Linh, có khi đi một mình giữa cánh đồng tự nhiên muốn nói lên mấy lời, để mình nghe được chính giọng mình, và cảm thấy Hà Nội đã là một bộ phận của con người mình rồi. Trong những lần đến với các đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong, ngay giữ núi rừng, bom đạn, tôi nghiệm ra một điều là mọi người rất muốn cùng mình ôn lại một ít kỷ niệm về quê hương, gia đình, cái thời bình, mà từ đó, mọi người đã ra đi và mong mỏi trở về. Trong cái thời bình đó. Hà Nội bao giờ cũng hiện lên rạng rỡ.


Hai cuộc phỏng vấn ngắn Phạm Tiến Duật


Trong một bài viết mang trên Nhà thơ trẻ và cánh rừng già in năm 1973, nhà văn Nguyễn Minh Châu từng tả lại chỗ ở của Phạm Tiến Duật. Đó là một ngôi nhà thuộc khu phố “ồn ào đông đúc”  Nguyễn Minh Châu phải “dắt chiếc xe đạp lách qua dãy xích-lô, dãy hàng vỉa hè, những dãy gà trống, gà mái của những người đàn bà và những anh bộ đội phục viên mang từ thôn quê lên bán”. ý Nguyễn Minh Châu muốn nói là chỉ ngồi ở đây, giữa chốn kinh thành sôi nổi và náo nhiệt này, Phạm Tiến Duật mới lắng nghe hết trong mình những gì anh đã tiếp nhận được ở chiến trường và như vậy, phố xá Hà Nội là một thứ máy lọc rất tốt giúp cho anh viết hay hơn về những vùng rừng không dân, về đời sống chiến trường mà anh đã từng nhiều năm lăn lộn.


Sự thực, Phạm Tiến Duật từng cùng với gia đình ở trong một ngõ nhỏ khá yên tĩnh, có điều, chỉ bước ít bước là anh có thể ra ngay phía sau ga hoặc đường Nguyễn Thái Học, cả hai đều thuộc loại phố ồn ào như Nguyễn Minh Châu vừa nói.  Vả chăng, Hà Nội lâu nay với anh không phải là nơi ghé lại giữa những chuyến đi mà thực sự là quê hương thứ hai, là nơi ở thường xuyên, có đi đâu thì cũng phải quay trở lại.


Chúng tôi bắt đầu câu chuyện bằng cách nói về những nhà người quen, những cơ quan mà Phạm Tiến Duật đã ở qua, những ngôi nhà này phác ra đã cho thấy cái tầm rộng mà một Hà Nội để lại trong lòng nhà thơ trẻ.


- Vâng, chính tôi cũng thấy là mình có một cái may nào đấy, trước khi có gia đình riêng, đã ở gần như đủ các phố, các loại nhà khác nhau. Khoảng mấy năm 1966-1967 cơ quan Cục Vận tải thuộc Tổng cục Hậu cần của tôi ngay ở trong ngôi nhà của báo Độc Lập ở phố Lý Thường Kiệt. Có một hồi, một bộ phận cơ quan lại đóng ngay ở căn nhà chỗ ngã tư đường Tràng Thi gặp đường Quán Sứ. Mấy năm sau, ở chiến trường về, nhiều lần tôi được nhường hẳn một buồng trong toà soạn Văn nghệ quân đội. Về nhà riêng thì có khi ở với Trần Tự đường Lý Thái Tổ, khi với anh bạn Thiên Đĩnh trong trường Kinh Tài, khi đâu Khâm Thiên nhà Trần Trương, khi theo anh em kéo nhau xuống nhà Tô Hoàng ở sau chùa Láng.


Nghĩa là ngay ở Hà Nội, tôi cũng luôn luôn được xê dịch được đổi chỗ, nó làm cho mình biết thêm Thủ đô ở nhiều góc cạnh khác nhau, và tự mình có thể tin là mình tạm đủ kiến thức về Thủ đô để khỏi ngại khi nói chuyện với bất cứ ai, dù là người đó sinh ra ở đây từ nhỏ.


- Tính cho chính xác thì anh “gặp Hà Nội” lần đầu vào lúc nào?


- Trước khi học Đại học Sư phạm, tôi đã có về Hà Nội một hai lượt, lượt về chơi, lượt về mua một cái xe đạp. trong những năm chúng tôi bước vào tuổi thanh niên, một cái xe đạp đã là cả một niềm ao ước của các bạn trẻ và việc mua được một cái xe đạp như vậy đã có thể coi như một sự kiện trong đời, phải không anh?


Vậy là lần đầu tôi đến Hà Nội, là khoảng cuối những năm 1950.


- ấn tượng của anh trong những lần gặp gỡ đầu tiên này ra sao?


- Tôi là người thích cái lạ. Cái lạ nhất của Hà Nội đối với tôi lúc bấy giờ là nhịp điệu. Thành phố này có một nhịp điệu khác hẳn trung du quê tôi. Đấy là  nói chung.


- Còn ấn tượng cụ thể?


- Lần đầu về Hà Nội, tôi ở với một bà chị ở ngõ Vọng Đức. Từ cái ngõ vắng này tôi đi rộng ra chung quanh, gì cũng muốn ngó một chút. Hà Nội kỳ diệu với tôi như cánh cửa quay bằng thuỷ tinh, với cái khung bằng gỗ mun chắc nịch ở cửa khách sạn Thống nhất.


Nhưng những năm đầu về Hà Nội và sau đó những năm đầu sống ở Hà Nội – thậm chì cả những năm về sau, khi đã có thơ đăng báo và có nhiều bạn bè người Hà Nội – tôi vẫn cảm thấy nơi đây có một chút gì khiến mình ngần ngại. Tôi cho là tôi gần với anh em ở các tỉnh khác đến hơn là những anh em sinh trưởng nơi đây. Chúng tôi thường xô bồ mà không có cái hào hoa phong nhã như người ta vẫn nói. Mãi gần đây ý nghĩ tôi mới thay đổi. Càng ngày, tôi càng hiểu Hà Nội rất bao dung, tự bản thân Hà Nội có rất nhiều vẻ khác nhau. Bên cạnh một Hà Nội xưa cũ nền nếp – bây giờ ta vẫn cố giữ gìn và phát triển những khía cạnh tốt đẹp đó – Hà Nội còn là đường phố rộn rã bụi bậm, tất cả còn ngổn ngang chưa thành hình gì cả… Chính đấy là chỗ chúng tôi thấy mình gắn bó với Hà Nội và trở thành người Hà Nội lúc nào không biết nữa.


- Nhưng dù sao thì anh cũng đã liên tục viết về Hà Nội viết ngay từ lúc cảm thấy mình là người ngoài cuộc như trên đây anh vừa nói. ý tôi muốn trở lại từ Đàn tam thập lục thủ đô ta. Hàng cây yêu đương, tới Phố chéo. Buổi sáng qua Hồ Tây … anh đã viết. Anh có thể kể lại trường hợp ra đời cụ thể của một bài nào đó?


- Lấy bài Hàng cây yêu đương chẳng hạn. Hồi đó, trong một đợt giặc Mỹ đánh vào Hà Nội, các đơn vị cao xạ của ta được phép về triển khai trận địa ngay trên đường Thanh Niên để tạo thế bất ngờ đánh trả địch. Một số cây ở đường phải cưa đi để lấy chỗ đặt ụ pháo. Một bữa đã khuya lắm rồi, tôi đang nghỉ tạm ở tạp chí Văn nghệ Quân đội, 4 Lý Nam đế, thì Lưu Quang Vũ, và Đỗ Chu đến bảo phải ra ngay để chứng kiến giờ phút thiêng liêng, khi cây trên con đường nổi tiếng này hi sinh vì việc nước. Ra đến nơi không phải tất cả các cây đều bị hạ như chúng tôi tưởng, nhưng đúng là một số cây đã ngã xuống rồi thực, tôi chỉ kịp cảm nhận hăng hắc một mùi gỗ mới và sờ lên mặt gỗ ứa nhựa. Đã ngả xuống rồi hàng cây tình tự… câu thơ đầu tiên trong bài nảy ra một cách tự nhiên ngay lúc ấy, mở cho tôi một dịp may gắn Hà Nội với một ít kỷ niệm của đời mình.


Nói chung các bài khác cũng vậy, mỗi bài một duyên cớ tương tự.


-  Những ngày B52 đánh Hà Nội cuối 1972, anh có mặt ở Thủ đô?


- Không, lúc đó tôi đang ở Bộ Tư lệnh 559, nhưng vì vậy, lại có dịp sống những giây phút này hết sức đáng nhớ. Nguyên đơn vị tôi luôn luôn được thông báo về tình hình chiến sự, đặc biệt là hoạt động của địch trên toàn chiến trường Đông Dương. Bởi vậy B52 đánh Hà Nội xuất phát từ các sân bay Thái  Lan lúc nào chúng tôi đều được thông báo đầy đủ.


Để tôi kể anh nghe một dự định viết của tôi, có liên quan đến đợt đánh B52 này. Có một lần, cách đây hai năm nhân dịp vào hè, tôi có đi chùa, lần này đến đền Nhà Hoả, và được biết rằng Hà Nội ngày xưa nhiều lần cháy lắm, có lần cháy ngay cả dinh Chúa Trịnh, vào khoảng khu vực Hà Nội bây giờ. Người ta phải làm cái chuông rất to để khi có hoả hoạn thì thỉnh thuông báo cho mọi người biết, chuông này đặt ở ngay đền Nhà Hoả và nay vẫn còn. Thế mà trong đợt B52 chuông cũng chỉ gõ đến ngày thứ hai rồi ông sư cũng đi sơ tán. Trụ lại để báo động cho Hà Nội, dĩ nhiên chỉ còn có hiệu còi trên nóc Nhà Hát Lớn.


Từ câu chuyện ở đền Nhà Hoả đó, tôi lần thêm vào lịch sử Hà nội. Rồi tôi nghĩ vân vi mọi chuyện khác, có một sự trùng hợp vui vui giữa cuộc chiến đấu chống B52 và sự sáng tạo ra thế giới. Cũng có lặp ngày lặp đêm, cũng có tách đất tách nước (việc mình gỡ thuỷ lôi) và cũng cả thảy 12 ngày. Tôi định đặt tên cho bài thơ dài tôi làm là Sáng thế kỷ cũng là vì lẽ ấy. Nhân tìm hiểu vụ B52, tôi có đọc kỹ lại báo Nhân dân cuối 1972 và nhặt ra được một ít tin như sau. Trong số những người bị thương trong đợt B52. Có một bà mẹ có thai đã sắp đến ngày đẻ. Người ta phải mổ. Bà mẹ bị chết. Nhưng đứa con đã được cứu thoát. Tôi đi tìm lại đứa trẻ nay đã mười tuổi đó. Nghe đâu có đến vài chục trẻ em ra đời tương tự như vậy. Rồi tôi trở lại lân la hỏi chuyện những gia đình ở phố Khâm Thiên bị bom hồi ấy. Có người giầu lên, có người nghèo đi. ở một gia đình nọ có một anh bộ đội tranh thủ về phép cũng bị chết, để lại một vợ và năm đứa con, người vợ hiện nay phải chạy vạy xoay xở không thiếu việc gì để nuôi đám con. Đây cũng là một dịp để ý nghĩ của tôi về Hà Nội có thể thay đổi. Hà Nội không chỉ hào hoa lịch thiệp, Hà Nội cũng có cái chất ghê gớm dữ dằn của nó, phải nhiều người đấu sức vào mới hiểu nổi và viết nổi, viết cho hết.


- Giờ đây, có thể nói là Thủ đô Hà Nội mang lại cho anh những đổi mới gì trong cách cảm cách nghĩ?


- Tôi nhớ từng mảng tường lở trên trần nhà bạn này, cây hồng bì với những chùm quả chín mọng ở nhà bạn kia. Tôi nhớ những lần chia tay bạn bè để vào chiến trường công tác trở lại, không lần nào có người đưa tiễn dưới năm người. Tôi cảm thấy mình đã giàu có lên trong tình nghĩa và thay đổi cách cảm cách nghĩ như anh nói. Chủ yếu tôi cảm thấy mình trở nên phóng khoáng tự do hơn, mà cũng nề nếp, ý nhị hơn, chỗ nào đi đáng chỗ ấy, không tuỳ tiện như trước. Tôi đã thoải mái sống giữa Hà Nội như con cá bơi trong nước.


 


Nếu được nói hết,  thì tôi đặc biệt nhớ những lần thức trắng đêm Hà Nội cùng bạn bè, trong đó có hai lần với Đỗ Chu. Một lần là Đỗ Chu nhận quyết định chuyển ra khỏi bộ đội. Một đêm khác vào mùa đông, trời lạnh kinh khủng, đang ngồi ở nhà thì thấy Đỗ Chu đến. Chu kể, đọc bài thơ chữ Hán Nguyễn Du, có câu đại ý “bao nhiêu gió lạnh dồn cả vào một người” thấy buồn quá nên mới chạy bổ đến đây. Đỗ Chu mang đến một ấm chè to hai đứa ngồi uống thật tỉnh táo rồi tha thẩn ra đường.


Đường Hà Nội ta đi đến sáng


Đêm khuya ơi tinh khiết vô cùng


Những câu thơ ấy chỉ mới nhắc qua được thôi chứ chưa nói hết cảm tưởng tôi đã sống qua. Chẳng hạn tôi nghiệm thấy trong đêm, người ta có dịp trở về với cả bề sâu thăm thẳm của Hà Nội. Năm sáu giờ chiều, thậm chí mười, mười một giờ đêm nữa, vẫn còn là Hà Nội hôm nay nhưng chỉ mấy tiếng đồng hồ sau người ta cảm thấy mình với Hà Nội trở về một quá khứ rất xa, xa lắc xa lơ.


- Tóm lại anh đã thấy mình thực sự là người Hà Nội?


- Không hẳn thế. Nếu nghĩ đến những người Hà Nội thật hạt mà thỉnh thoảng chúng ta vẫn gặp đây đó – thậm chí không gặp cả người mà chỉ gặp đôi nét nào đó còn sót lại mong manh thấp thoáng – thì tôi vẫn thấy một cái gì cao xa quá, mình không bao giờ trở thành, không bao giờ được nhuyễn như vậy. Nhưng tôi lại cảm thấy cùng với các bạn khác – gốc Hà Nội có, từ các tỉnh về có làm nên một Hà Nội hôm nay, xô bồ, nhiều vẻ, thu vào mình rất nhiều thứ nhưng vẫn có một cốt cách trộn không lẫn và ngày càng biến chuyển, để trở thành thật là mình hơn. Một Hà Nội như thế đã vào tôi, vào thơ tôi và ở lại mãi mãi.


 


Trần Đăng khoa


- Đọc thơ của và những bài viết về thơ anh tuổi nhỏ, chúng tôi hiểu đối tượng khơi nguồn cho xúc cảm của anh hồi ấy là bờ tre, cánh đồng, cảnh vật và con người nông thôn. Nhưng điều mà chúng tôi muốn biết thêm hồi đó anh hình dung ra sao về Hà Nội? Có ai kể chuyện với anh Hà Nội và qua lời kể đó, anh có những ý nghĩ gì?


- Trước hết, phải nói làng quê tôi tuy cách Hà Nội không bao xa, nhưng là một vùng nông thôn rất thuần ít người đi làm xa và cuộc sống Hà Nội gần như không có chút gì gọi là vang vọng tới nơi đây. Đối với những người dân bình thường, cả đến báo chí cũng hiếm, chỉ có chiếc đài ga-len mà chúng tôi áp tai vào nghe là có thể mách thầm với một cậu bé như tôi biết rằng ở đó có một cuộc sống khác mà tôi chưa từng biết… Và Hà Nội hiện ra trong tâm trí tôi như những tên đất, tên người tôi từng nghe trong các chuyện cổ tích. Hoặc nói theo chữ nghĩa bây giờ, thì đó là một Hà Nội được bao bọc trong một không khí huyền thoại. Có điều như các anh biết, chính cái đó lại làm cho tôi viết về Hà Nội dễ càng.


Nhân đọc tập thơ Tấm lòng chúng em do Nhà xuất bản Kim Đồng in ra năm 1964, tôi cảm thấy rằng nếu thơ là thế này thì mình cũng làm thơ được.


Và tôi bắt tay viết bài thơ đầu tiên của mình. Bác Hồ nói ở trên tủ, trong đó tôi tả Hà Nội là nơi Bác Hồ thân yêu ở, và Hà Nội này có tất cả những địa danh mà tôi từng nói, đại khái Nước Hồ Gươm xanh như một mảnh trời Ngọc Hoàng đánh rơi xuống đấy, hoặc Chiếc cầu sắt bắc qua những mái nhà – Xe lửa, ô-tô tầu đi không gẫy.


Các anh bộ đội qua làng là những người đọc đầu tiên và góp nhiều ý kiến cho thơ tôi, một anh để ý nhận ra xe lửa tức là tầu rồi, không việc gì phải lặp lại như vậy nữa. Hoá ra, hai từ đó để chỉ một thứ chứ không phải hai như tôi vẫn nghĩ. Tôi phải bỏ ngay chữ tầu trong câu thơ nói trên.


Ấy hiểu biết của tôi về Hà Nội những năm ấy còn thô thiển như vậy, nó gắn liền với sự nhận thức ít ỏi nếu không nói là không biết gì về cuộc sống ở các thành thị.


- Nhưng rồi khi đã có thơ đăng báo, chắc anh cũng hay về để còn trao đổi về bài vở hoặc nhiều chuyện quan hệ khác?


- Cũng không hoàn toàn như vậy. Chuyến đầu tiên tôi về Hà Nội là chuyến đi do nhà trường tổ chức dành cho những học trò tương đối khá hơn cả của năm học đó. Chúng tôi đến Hà Nội giữa mùa hè. Ngày đi thăm quan, tôi về ngủ nhờ ngay trong phòng làm việc của Nhà xuất bản Kim Đồng. Năm đó tôi mười một tuổi và những cái để lại ấn tượng nhiều nhất trong tôi về Hà Nội là kem, quạt máy và tiếng ve kêu suốt dêm. Lúc ấy về tôi có làm vài bài thơ, trong thơ có nói đến quạt máy. Hà nội có chong chóng – tự quay ở trong nhà – không cần trời nổi gió – không cần bạn chạy xa. Nhân được đến thăm quảng trường Ba Đình tôi viết: Bác ơi, cháu đến đây rồi – Ba Đình phượng đỏ một trời tiếng ve… Cháu nghe Hà Nộ vào hè…


Nnưng suốt thời niên thiếu, tôi cũng chỉ lên Hà Nội có lần ấy. Học hết phổ thông, tôi chuyển đi bộ đội, cũng không có dịp nào qua Hà Nội, chỉ từ 1976 trở đi được gọi về học ở trường viết văn, tôi mới lên đây ở lâu hơn. Nhưng chuyến ấy tôi cũng chưa đi học ngay mà còn được bố trí mấy năm đi thâm nhập ở các đơn vị hải quân, thành ra cứ đi đi về về chứ cũng chưa bao giờ ở hẳn.


- Sau lần về Hà Nội, anh có cảm tưởng gì đặc biệt?


- Bấy giờ những cái mà tôi nhìn nhận đuợc chủ yếu là những khía cạnh bên ngoài, chứ gần như chưa thâm nhập được vào đời sống bên trong của Hà Nội. Nhưng bảo có gì đấy choáng ngợp thì không! Ngay cả những di tích lịch sử như Hồ Gươm. Tháp Rùa, hôm qua tôi hình dung phải ghê gớm hơn, nay đến, thấy cũng rất gần gũi. Tôi nhớ lúc ấy tôi chỉ chớm nghĩ là Hà Nội có gì vừa cổ xưa vừa ồn ào và con người thì sao lúc nào cũng tất bật, vội vã, không thanh thản từ tốn như trước đây tôi từng được nghe kể: (nghĩ cũng lạ, bây giờ về quê, thì vùng quê rất thuần của tôi như trên đây tôi vừa nói, con người mấy năm nay cũng trở nên tất bật, vội vã, mặc dầu đấy vẫn là một làng quê thực thụ. Nhưng thôi, đấy lại là chuyện khác).


- Nhưng như thế tức là anh công nhận có những người đậm chất Hà Nội hơn, và viết ra không khí Hà Nội hơn?


- Có chứ. Chưa nói các bác, các chú ở tuổi lớn hơn hãy nhìn ngay lứa nhà thơ gọi là lớp trẻ trong chống Mỹ, các anh Vũ Quần Phương, Bằng Việt. Mấy câu thơ Bằng Việt in trong tập Bếp lửa.


Từ ánh nê-ông pha biếc buổi chiều


Đến hơi mưa trong khóm hoa màu tím


Gáy sách cũ xếp chồng như kỷ niệm


Lá thiếp mừng đám cưới mất trên tay


đối với tôi rất rõ chất Hà Nội, cái phần Hà Nội bên trong


- Hà Nội vẫn có cái phần nội chất của nó mà không gần tự nhiên như phần vốn liếng cũ của anh, có lẽ nên nói thế chăng? Nhưng theo tôi hiểu, người ta cũng hay nói đến cây cối ở Hà Nội…


- Không, đấy chính là một phía của Hà Nội làm tôi rất thích. Cây cối và sách vở! – ở Hà Nội tôi thường thích thức khuya và càng khuya hình như Hà Nội càng trở lại với chính mình. Đường phố thưa vắng, con người thanh thản, nếu ban đêm có dịp ra đường, đi bộ, bao giờ tôi cũng tìm cách tận hưởng một thứ không khí riêng mà chỉ Hà Nội ban đêm mới có được. Thậm thí lúc đó thành phố lại như được bao bọc trong một không khí huyền thoại mà thuở nhỏ tôi vẫn nghĩ tới.


Còn như về mặt sách vở, nói chung là về phần kiến thức ở đây có rất nhiều điều tôi có thể học tập được. Đời sống một làng quê như làng tôi, có cái gì đó tự nó đã đủ, có thể cắt hết mọi mối liên hệ với bên ngoài, nó vẫn sống được. Nhưng sống trong đó nhiều khi con người không thể tự hiểu nó đang ở đâu – mà đó là một điều phải nói là nguy hiểm! Còn một ngày ở Hà Nội, người ta có thể biết rất nhiều thứ, người ta có thể học được rất nhiều.


- Anh có hay đọc các sách vở viết về Hà Nội?


- Có chứ, nhất là các sách thuộc loại tài liệu nghiên cứu như Bóng nước Hồ Gươm, Người và cảnh Hà Nội, Người Hà Nội thanh lịch. Đọc để hiểu một Hà Nội nghìn năm văn vật đôi khi có bị khuất đi sau một Hà Nội sôi động bây giờ.


Hiện nay chưa thấy công bố những thống kê xem trong dân số các quận nội thành Hà Nội hôm nay bao nhiêu phần trăm là người Hà Nội gốc, bao nhiêu phần trăm là người các tỉnh đến mới nhập cư trong vòng ba chục năm nay. Nhưng bằng cảm tính chủ quan, chúng ta dễ đoán số người từ những vùng quê khác nhau về đóng góp cho Hà Nội rất đông, và cái xu thế mà người ta gọi nôm na là xu thế thành thị hoá có là điều đặt ra trong suy nghĩ của nhiều người, với cả mặt thuận và mặt nghịch của nó. Trường hợp nhà thơ  Trần Đăng Khoa chỉ là một trong muôn vàn trường hợp đó. Đã có rất nhiều người có cách nhìn nhận như anh, mà cũng có rất nhiều người có cách nhìn nhận khác anh.


Vả chăng tất cả là đang ở một trong quá tình biến chuyển.


Chia tay với Trần Đăng Khoa, tôi nghĩ là mình vừa được anh chia xẻ những suy nghĩ rất thành thực. Nhưng cảm tưởng của anh về Hà Nội là đúng với thơ anh thuở nhỏ, một thứ thơ Trần Đăng Khoa mà lâu nay chúng ta vẫn đọc. Nhưng chính vì thế, khi nhìn bước đường phát triển sắp tới về thơ của Trần Đăng Khoa – một vấn đề đang được đặt ra ở anh hết sức quyết liệt- tôi tưởng mình sẽ không nói vơ vào nếu bảo chắc chắn trong đó có phần đóng góp của những nhận thức của Trần Đăng Khoa về Hà Nội. Biết đâu một vài năm tới khi gặp nhau câu chuyện của chúng tôi sẽ đi theo một hướng khác hẳn, và cái tình yêu nhiều mặc cảm của anh với Thủ đô hôm nay sẽ chuyển thành một tình yêu thoải mái như chính anh mong mỏi?


 


đoạn kết


Trong tập sách nhỏ này, chúng tôi mạnh dạn làm công việc ghi lại một số nét thuộc về quá trình thưởng thành, hoạt động của một số nhà văn hôm nay, cụ thể là mối quan hệ của các đời văn đó với Hà Nội. Mong sao giúp bạn đọc hiểu thêm nghề văn. Và cũng mong sao nói được một phần dù là rất nhỏ, đời sống văn hoá Hà Nội mấy chục năm nay, bước đầu gợi ra vai trò của Thủ đô trong việc hình thành sinh hoạt văn hoá trong cả nước và chứng tỏ rằng trên phương diện văn hoá Hà Nội có rất nhiều điều có thể tự hào được.


Sau khi nhắc lại một vài khía cạnh làm nên một ít đời văn như trên, một điều chúng tôi hoàn toàn có thể yên tâm là nhìn cho kỹ, những đời văn ấy nào có khác gì những mẫu người Hà Nội khác? Nếu Ngô Tất Tố cho ta hình dung lại quá trình đến với Thủ đô của lớp nhà nho từ thời Tản Đà trở về trước, thì Xuân Diệu, Bùi Hiển… cho ta thấy quá trình đến với Hà Nội của lớp trí thức gần đây. ý nghĩ cho rằng Hà Nội là một nơi lập nghiệp thiêng liêng, ý nghĩ ấy không phải của riêng Nguyên Hồng ngày nào, mà là của rất nhiều người khác, kể cả những người không viết văn. Cảm thấy mình là Hà Nội thì tất phải viết về Hà Nội thôi, đó là cảm nghĩ quán xuyến từ Tô Hoài đến Lưu Quang Vũ, Bằng Việt… Nguyễn Bính tưởng là sống cách biệt Hà Nội, kỳ thực chỉ trong sự “đôi lập” với kinh thành – đối lập trong sắc thái thẩm mỹ, chứ không phải trong tình cảm, – thơ ông mới rõ chất chân quê vốn có. Nam Cao càng “giãy giụa” càng chứng tỏ ông đã bị Hà Nội thuyết phục biết là ngần nào! Ai dám bảo tiếng thơ bi tráng Trần Huyền Trân không tiêu biểu cho Hà Nội, như những giọng thơ vui trẻ khác? Và cũng là Hà Nội cách mạng, nhưng Nguyễn Huy Tưởng khác Nguyễn Đình Thi bao nhiêu, như sau này Xuân Quỳnh khác với Thanh Nhàn bao nhiêu! Cuộc sống luôn luôn có sự tự điều chỉnh của nó. Cũng trên mảnh đất Hà Nội, mà mỗi cây bút mang một sắc thái riêng, và vì vậy, mỗi người mới có lý do tồn tại.


Một đời văn không chỉ được tính bằng những  trang sách đã được viết ra. Một đời văn còn là bao nhiêu thăng trầm mà người cầm bút đã chịu, bao nhiêu mồ hôi nước mắt nơi ấy đã sống, để dồn tụ cho sáng tác – ở đó, có sự năng động của cá nhân nhưng lại có sự chi phối của hoàn cảnh, tới mức, có khi, chỉ nhắc đến một người thôi, người ta nghĩ ngay tới cả một thời, với bao số phận khác cũng cùng một hoàn cảnh tương tự.


Bởi vậy, một lần nữa, phải nói lại là bản thân chúng tôi rất tiếc chưa có dịp nhắc tới ở đây một số tác giả có cuộc đời rất hay và sự gắn bó với Hà Nội cũng lâu dài, uyển chuyển. Văn Cao từng hoạt động trong phong trào Việt Minh từ trước tháng 9-1945. Văn Cao viết Tiến quân ca cũng là Văn Cao tác giả bài thơ Chiếc xe xác đi qua phường dạ lạc, diễn tả một nét khó quên của đời sống Hà Nội trước cách mạng.


Một lửa lang thang ma đói sa trường.


Còn một nửa lang thang tìm khoái lạc


Quang Dũng thuộc về thế hệ các nhà văn viết từ kháng chiến, song từ trước 1945 ông đã theo học ở Hà Nội, và ở một bài bút ký như bài Cống trắng Khâm Thiên (in trong tập Nhà đồi), ông đã trình bày một ít những khía cạnh sinh hoạt của Hà Nội cũ từ bên trong, nhất là cái phía vừa tài hoa vừa chua xót của cuộc sống nơi đây. Lại nữa, Quang Dũng cũng rất thông thạo các vùng ngoại thành, từ Bãi Sậy phía bắc Hồ Tây đã bị triệt phá từ 1951. Ông voi làng Láng, các đội cá ở Yên Duyên… cho mãi tận Sườn bắc Tản Viên, và chân núi Ba Vì nhiều chim ngói. Trong thơ, hai  bài Quang Dũng được nhiều người nhắc nhở là Tây tiến và Đôi mắt người Sơn Tây đều viết từ kháng chiến. Mỗi bài ấy mang một phía của Hà Nội, ở bài trên, cái chí xông pha đôi khi nhuốm màu sắc anh hùng cá nhân của lớp trai trẻ Thủ đô 1945-1950. Bài dưới, những đau xót, trong lưu lạc thời chinh chiến và niềm ao ước thiết tha về một thuở thanh bình  sẽ tới. Đối với nhiều người dân Thủ đô, vùng xứ Đoài mà Quang Dũng nói ở đây (Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm,) bao giờ cũng rất gần gũi, như một vùng quê nhiều kỷ niệm.


Nhân đây, cũng xin nói thêm, từ Hoàng Ngọc Phách (sinh 1896) đến Trần Đăng Khoa (sinh 1959), những người viết văn được nhắc ở các phần trên thuộc những thế hệ thật khác nhau. Sống trong một thời đại có những biến động long trời lở đất, mỗi người có một số phận riêng, không ai giống ai. Nhưng một tình yêu chung đã liên kết họ lại với nhau, tình yêu Hà Nội.


Tập sách của chúng tôi dừng lại ở Trần Dăng Khoa. Đứng về mặt lứa tuổi đến nay, Trần Đăng Khoa còn thuộc loại trẻ trong các nhà văn, nhà thơ ở ta. Nhưng  về tuổi nghề, Trần Đăng Khoa đâu có “nhỏ” tí nào. Từ cuối những năm sáu mươi, nghĩa là gần hai chục năm nay, thơ Trần Đăng Khoa đã được nhiều người biết tới và trước 1975, nhà thơ đã có vị trí rõ ràng. Bởi vậy, kết thúc ở Trần Đăng Khoa thật ra chủ đề các nhà văn Việt Nam hôm nay và Hà Nội vẫn dừng lại ở một giai đoạn lịch sử đã ổn định. Từ mười năm gần đây, đất nước bước sang một giai đoạn mới, về mặt văn hoá, đã có nhưng đổi mới ghê gớm: bên cạnh Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đang nổi lên như một trung tâm văn hoá có khả năng hoạt động đa dạng, sức thu hút mạnh mẽ và về văn hoá vật chất, có một tiềm lực lớn lao hỗ trợ cho hoạt động báo chí, xuất bản nghĩa là những phương tiện hành nghề trục tiếp của người cầm bút rất phát triển. Chỉ riêng việc đó thôi, đã gợi ra nhiều vấn đề phải suy nghĩ. Về phần mình, mười năm qua, đời sống Hà Nôi cũng biến động theo những hướng hoàn toàn mới. Các vấn đề kinh tế – xã hội luôn luôn được đặt ra cấp bách. Tâm lý con người có thay đổi, tự nhiên là tâm lý người sáng tác cũng thay đổi, dù người sáng tác đó đang ở đâu cũng vậy. Những Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu… hôm nay sống và viết không hoàn toàn giống hôm qua. Những Dương Thu Hương, Thái Bá Lợi,… mới viết, có rất nhiều nét đổi khác. Đặc biệt lại có sự xuất hiện của Nguyễn Mạnh Tuấn, một học sinh Chu Văn An cũ, mới vào thành phố Hồ Chí Minh từ sau 1975 v.v… mối quan hệ giữa những đời văn này với Hà Nội ra sao? Tất cả những biến động này nếu sớm được ghi nhận, chắc không kém phần thú vị.


 


Hè 1985


VTN.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đông Tây cổ học tinh hoa (3) - Vũ Bằng 05.08.2019
Đông Tây cổ học tinh hoa (2) - Vũ Bằng 05.08.2019
Đông Tây cổ học tinh hoa (1) - Vũ Bằng 05.08.2019
Nói có sách (tiếp & hết) - Vũ Bằng 05.08.2019
Điếu văn tại Lễ truy điệu Nhất Linh - Vũ Hoàng Chương 01.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (5) - Huỳnh Quang 30.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (4) - Huỳnh Quang 30.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (3) - Huỳnh Quang 25.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (2) - Huỳnh Quang 25.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (1) - Huỳnh Quang 25.07.2019
xem thêm »