tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29928993
10.10.2010
Vương Trí Nhàn
Nhà văn hôm nay với Hà Nội (6)

Đoàn Giỏi


Vào khoảng niên học 1956-1957, khi đang học lớp sáu tại trường Chu Văn An, Hà Nội, tôi từng được học một bài “Văn học trích giảng” mang tên  Ký ức tuổi thơ. Tá giả bài văn đó kể lại hình ảnh những con người miền Bắc sớm đến trong tâm trí một cậu bé ở một làng quê Nam Bộ. Một ông thợ ngoã chít khăn đóng về chữa tam quan đình làng, lúc rỗi lại hát cho lũ trẻ đứng cạnh nghe Làm trai cho đáng nên trai – Phú Xuân cũng trải, đồng Nai cũng từng Những cô gái áo nâu non khăn mỏ quạ thắt lưng xanh hoa lý về làng bán lụa. Và những người quẩy đôi đôi bồ thuốc bán đủ các thứ cao, quế. ý tác giả muốn nói: từ lâu với bà con quê Nam, miền Bắc đã rất gần gũi thân thuộc.


Nhà văn đó là Đoàn Giỏi.


Câu chuyện của chúng tôi hôm nay về Hà Nội cũng bắt đầu từ những ký ức tuổi thơ loại đó.


- Làng tôi chỉ cách Sài Gòn có 50 cây số… Trước cách mạng, đâu có mấy ai đi xa, thành thử hiểu về ngoài này còn ít lắm. Đại khái ngoài Nam kỳ lục tỉnh, từ Phan Thiết trở ra, đều gọi là Huế hết. Mãi đến kháng chiến chống Pháp, cán bộ, bộ đội ngoài vào nhiều, bà con mới phân biệt này là Huế Trung, kia là Huế Bắc. Nhưng tình cảm đối với miền Bắc thì sâu nặng thiêng liêng lắm.


- Vậy anh đến Hà Nội lần đầu tiên vào hồi nào?


- Ngày 14 tháng mười năm năm tư. Bấy giờ sau khi Thủ đô giải phóng, để lo việc tiếp quản cho tốt, không chỉ có cán bộ từ Việt Bắc về, mà còn có cả những đoàn cán bộ miền Nam được điều ra (chưa phải là cán bộ tập kết, chuyện ấy không kể vào đây). Đoàn tôi là đoàn tuyên truyền báo chí do anh Lưu Quý Kỳ dẫn đầu. Và tôi được đặt chân lên đất Hà Nội sau khi giải phóng thủ đô có bốn ngày. Lúc bấy giờ, tôi mới 29 tuổi, những ấn tượng mới về Hà Nội vào trong mình cũng nhanh mà kỷ niệm về miền Nam cũng còn hết sức tươi tắn… Tôi nhớ ra rồi, những đoạn “ký ức” mà cậu vừa kể là trích ra từ bài Giòng máu Việt phải lưu thông, tôi viết trên báo Văn Nghệ cuối năm 1955, nghĩa là ba chục năm trước. Cũng khoảng thời gian ấy, được sự cổ vũ của anh em đồng hướng lẫn bè bạn viết văn, tôi còn viết luôn được mấy bài Cây đước Cà Mâu, Ngọn tầm vông, Đèn tôi bay về lục Hồ Chí Minh và nhiều bài khác. Chẳng qua cũng là một cách giới thiệu với bà con ngoài này mấy nét về quê hương mình.


- Và anh cũng đã viết luôn “Đất rừng phương nam” từ những ngày này?


- Năm 1957. Thoạt đầu tôi chỉ tính viết cho mục Tổ quốc ta tươi đẹp của Đài tiếng nói Việt Nam, sau mới gom lại dần làm nên cuốn sách. Trong bài giới thiệu viết cho Đất rừng phương nam, anh Tô Hoài có nói đại ý đọc sách thấy gợi lên tình yêu với mọi miền quê khác của đất nước. Tôi cho như thế là hiểu tôi lắm.


Vậy là do sống giữa Hà Nội, nhà văn này đã viết được những dòng hay nhất về quê hương mình. Nhưng còn chính Hà Nội đã vào trong tâm khảm con người miền Nam này ra sao? Với một vẻ say sưa kín đáo, Đoàn Giỏi bắt đầu bằng cách nói về thiên nhiên.


- Tôi còn nhớ rất rõ cái lần từ bến Sầm Sơn, tôi phóng xe thẳng về Hà Nội, đúng ba chục năm trước. Bấy giờ miền Bắc đang là mùa thu, đất-trời-cây- cỏ tất cả là một gam xanh hoà hợp, ở đây có đủ màu xanh – xanh thẫm, xanh lá mạ, xanh ve chai. Tôi thầm nghĩ, học hội hoạ phải học ở Hà Nội, cũng như làm văn nghệ nói chung phải có lúc ở Hà Nội. Như người phương Tây phải có lúc ở Pa-ri. Hà Nội là trung tâm văn hoá của cả nước mà! Chỉ ở đây mới có một thiên nhiên nhiều vẻ đến như vậy, và con người thì khéo léo hoà theo thiên nhiên đến như vậy. Hoà hợp một cách giản dị, như mùa hè có mùng tơi, rau đay, cà, những món ăn tôi cũng rất thích.


Nói riêng về thiên nhiên trên đất Hà Nội. Từng ấy năm sống ở đấy mà cây cối vẫn làm tôi kinh ngạc về sức sống và vẻ đẹp của nó. Tôi yêu gì ư? Tôi yêu từ cây gạo, cây vông vang, những hàng phượng rực rỡ tới những hàng cơm nguội lặng lẽ và một ít gốc bồ đề hiếm hoi. Một thứ cây mà Hà Nội có rất nhiều là cây xà cừ. Theo tôi, xà cừ cuối xuân thay lá trông rất bình thường, nhưng chỉ sang thu, đứng dưới vòm lá nhìn nó theo lối trong nhiếp ảnh người ta gọi là  ngược sáng mới thấy thật là đẹp. Lại có những cây mùa nào cũng đẹp như cây bàng. Mùa xuân lá bàng mới nẩy trông như những ngọn lửa xanh. Sang hè, lá lên thật dầy, ánh nắng xuyên qua chỉ còn là màu ngọc bích. Khi lá bàng ngả sang mầu vàng đục ấy là mùa thu. Sang đến những ngày cuối đông, màu là bàng rụng nó lại có vẻ đẹp riêng…


-  Thưa, đấy có phải là vẻ huy hoàng của một cái gì đang tàn tạ nên càng làm mình ngẩn ngơ?


- Có lẽ nói thế cũng được. Những là bàng mùa đông đỏ như đồng hun ấy, sự biến đổi kỳ ảo trong gam đỏ của nó, tôi có thể nhìn cả ngày không chán. Năm nào tôi cũng chọn lấy mấy lá thật đẹp, về phủ một lớp dầu mỏng, bày lên bàn viết. Cậu có biết nó gợi lên chất liệu gì không? Chất sơn mài. Cái thú của người nhìn cây, nhìn hoa là biết nhìn ra vẻ đẹp ở những chỗ nguời khác lướt đi bỏ qua. Chẳng hạn có mấy ai nói cây sung là đẹp. Nhưng tôi thấy bên những cầu ao đầy nước vào mùa quả chín đỏ, những cây sung già rất đẹp, cũng như cây khế vào mùa ra hoa trông mộc mạc cũng rất đẹp. Đó là những vẻ đẹp mà từ khi ra Bắc, ra với Hà Nội, tôi mới nhận thấy.


Một phương diện khác làm nên ảnh hưởng của Hà Nội trong một nhà văn như Đoàn Giỏi mấy chục năm qua: ở đây anh thực sự bắt tay làm cái nghề chính trong đời mình, là nghề cầm bút. ở chỗ này nữa, nhà văn cũng thấy có nhiều kỷ niệm vô cùng thân thiết.


- Với Hà Nội, cuộc đời viết văn của tôi có thêm những người bạn mới Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Tô Hoài… Có những người vừa gặp đã thân ngay như ông Tưởng, ông dẫn tôi đi khắp Hà Nội thưởng thức các món ăn, từ những của hàng sang trọng, tới quán ông Thuỷ Hử giữa xóm nghèo, một hai giờ đêm anh em xích-lô đảo qua còn có cái ăn. Một lần trời tối, mưa lất phất, đường lầy lội. Nguyễn Huy Tưởng dẫn tôi đến một căn phòng lụp xụp, chung quanh tường bày đầy tranh và bảo “Đây là một người bạn trẻ nữa của tôi”. Đó là hoạ sĩ Trọng Kiệm. Tôi quen Trọng Kiệm từ đấy. Còn Nguyễn Tuân. Riêng một chuyện kéo nhau đi ngắm những dáng cây lạ cũng đã làm nên kỷ niệm của một tình bạn vong niên giữa ông với tôi. Có một cây xoan bên hông Nhà hát lớn, cao hơn những cây gạo bình thường, thân đến hai người ôm. Có lẽ nó thuộc loại cao niên nhất trong cây cối ở miền Bắc. Chúng tôi đã bao lần đứng ngắm nó hùng vĩ, khoáng đạt. Năm 1977, bỗng không hiểu sao, cây bị đốn, chúng tôi ra thấy người ta xẻ nó làm ván ngay cạnh gốc cũ. Thật đau lòng như mất một người bạn! A, nói tới Hà Nội những năm sau 1954, còn phải nói một người rất gần với tôi nữa là Nguyễn Bính. Tôi với Nguyễn Bính vốn là bồ với nhau từ hồi còn làm báo ở bưng biền. Ra Hà Nội, Nguyễn Bính dẫn tôi tới chơi nhiều anh em làm nghề này mà ông quen từ xưa, lại dạy tôi ăn những món ăn ngoài này như tiết canh vịt, chả rươi, gỏi cá mà trước đó tôi rất sợ. Càng ngày tôi càng nhận ra rằng sở dĩ mình gắn bó với Hà Nội vì ở đó những tấm lòng bè bạn chân thành. Tôi và Nguyễn Tuân giờ đây, có thể mấy tháng không đến nhau, nhưng cứ nghĩ rằng mình với ông vẫn đang ở một thành phố, muốn lại chơi lúc nào cũng có thể lại được thế là lại thấy yên lòng. Lại còn các bạn trẻ khác nữa… Như đỗ Chu, tôi thấy văn thật nền nã, chín, y như tiếng nói miền Bắc, tiếng nói Hà Nội mà từ lâu chúng tôi đã mến phục.


Chia tay, tôi hỏi Đoàn Giỏi “Thế nào anh cũng phải viết về Hà Nội để trả nợ chứ?” thì anh mỉm cười, trút một hơi thuốc lào kêu tanh tách, từ từ nhả khói mơ màng nhìn theo làn khói, gật gù. “Có chứ. Mà phải khi vào trong kia viết mới hay được”. Tôi tin điều đó, bởi lẽ có thể nói, Đoàn Giỏi là một nhà văn của những kỷ niệm, mà giờ đây, thì Hà Nội đối với anh đã là những kỷ niệm của một đời người!


 


Hà Nội và một lớp nhà văn mặc áo lính


Tháng 4-1940. Giữa núi rừng Việt Bắc, một hội nghị văn nghệ đặc biệt được triệu tập – Hội nghị văn nghệ toàn quân. Tại hội nghị đó, bên cạnh Thế Lữ, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Nguyễn Xuân Khoát, Phạm Văn Khoa, Nguyên Hồng, Thanh Tịnh, Nam Cao, Tô Hoài… – những nhân vật văn học ít nhiều chúng ta đã gặp trong lòng Hà Nội trước 1945 – thấy xuất hiện những đại diện của một lực lượng những người viết chỉ mới cầm bút từ sau cách mạng và hiện đang mặc áo lính nhưng bắt đầu mang lại cho văn học những tiếng nói mới. Đó là Chính Hữu, Vũ Cao, Từ Bích Hoàng, Lưu Hương, Siêu Hải…. Sau này, đội ngũ đó sẽ được bổ sung thêm những ngòi bút rất khoẻ và cũng rất giàu sức sáng tạo: Nguyễn Khải, Hữu Mai, Hồ Phương, Nguyễn Ngọc Tấn, Nguyễn Minh Châu….


Đây là một đội ngũ viết văn có những đặc điểm riêng và mối quan hệ của họ với Hà Nội cũng có những đặc điểm riêng. Trong đội ngũ đó, có những người từng là học sinh Hà Nội mê văn chương rồi được  ánh lửa của sáu mươi ngày đêm chiến đấu của Thủ đô cổ vũ mà thấy ngọn lửa xúc cảm trong lòng mình càng bốc cao, như Chính Hữu, Hồ Phương, nhưng lại có những người mãi sau này mới làm quen với Thủ đô, nhìn bề ngoài thì sự nghiệp văn học có vẻ không liên quan gì đến Hà Nội cả, nhưng sự thật mỗi người vẫn từ đấy mà trưởng thành. Lúc mỗi người có dịp suy nghĩ nghiêm túc về nghề văn của mình cũng là lúc bản thân nhận ra những ảnh hưởng to lớn của Hà Nội mà thiếu đi, chắc đời văn của mình sẽ khác.


 


Trần Đăng – Hoàng Lộc


Vũ Cao – Từ Bích Hoàng


Tô Hoài, Bùi Hiển, Chế Lan Viên, Nguyễn Xuân Sanh.. nếu có thể coi các nhà văn sinh khoảng 1920 đó là lớp nhà văn trẻ nhất đã hình thành sự nghiệp trước Cách mạng tháng Tám, thì tiếp sau họ, không phải là khoảng trống. Trong số những học sinh trường Bưởi, trường Thăng Long… nổi tiếng của Hà Nội trước 1945 đã có nhiều thanh niên khác, đầy tài năng và tâm huyết, mới thử sức trên sổ tay với những bản thảo dang dở và đang tính chuyện sẽ tìm một chỗ thích hợp để đặt tên mình trong lâu đài văn học. Đội ngũ ngày sinh khoảng 1920 về sau, tức là khi cách mạng thành công, họ ở vào lứa tuổi đầy sức sống 20 -25. Bắt được không khí đời sống mới, họ bắt đầu viết. Và với việc đứng trong hàng ngũ Vệ quốc quân làm văn làm báo, cách viết của họ, quan niệm của họ về nghề văn cũng có những đổi mới, rõ rệt.


Một trong những trường hợp đó là Trần Đăng mà chúng ta đã biết. Trước khi đến với cách mạng đó là một thanh niên Hà Nội tài hoa, lịch sự, ham mê thể thao, và rất ham học.


Cụ thân sinh ra anh vốn là thủ thư ở trường đại học, bởi vậy, cụ chỉ mong cho con học hành nên người. Và Trần Đăng đã nhờ vào kho sách do ông cụ quản lý để đọc rất nhiều cả sách tiếng Pháp lẫn tiếng Việt.


Mặc dù những ngày đầu cách mạng, Trần Đăng viết còn ít, nhưng anh đã được coi như một nhân vật của đời sống văn hoá thủ đô.


Trong một tuyên bố của giới văn hoá tiến bộ ở ta công bố 1946, có tất cả 87 nhân vật văn hoá ký tên, người ta thấy có tên Đặng Trần Thi tức Trần Đăng bên cạnh Nguyễn Công Hoan, Xuân Diệu, Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng v.v…


Bài viết tiêu biểu của Trần Đăng hồi đầu cách mạng mang tên Một lần tới Thủ đô. Cảm hứng chính của thiên bút ký pha chính luận này là ý hướng muốn từ  biệt Hà Nội, xa lánh nó, không dây dưa gì với nó. Cái mà Trần Đăng muốn xa lánh bấy giờ là Hà Nội cũ, Hà Nội trong nhung lụa, một thứ kinh thành hoa lệ đẹp đẽ, sáng sủa nhưng ích kỷ, truỵ lạc.


Có điều, một sự phủ nhận kiên quyết như vậy chỉ có thể nảy sinh ở một con người đã hiểu kỹ Hà Nội và thấm nhuần truyền thống dám phủ nhận mình, làm lại mình của Hà Nội từ xưa đến nay. Đó là cái phần lành mạnh, khoẻ khoắn của Thủ đô mà những sinh viên tiến bộ như Trần Đăng đã tiếp nhận được.


Bên cạnh Trần Đăng, một thanh niên tiêu biểu khác của Hà Nội những năm đầu kháng chiến là Hoàng Lộc. Tuy không viết ra những tuyên ngôn như Một lần tới Thủ đô, và để lại nhiều trang nhật ký quằn quại muốn thay đổi như Trần Đăng, song chúng ta hiểu Hoàng Lộc cũng trải qua những đoạn trường tương tự. Làm sao khác được, đối với một người ở trong một hoàn cảnh thay đổi ghê gớm, khi vài  ba năm trước, còn viết những bài thơ uỷ mị làm xiêu lòng những cô gái Hàng Ngang, Hàng Đào, khiến các cô ấy phải góp tiền để in thơ của mình, vài năm sau đã lăn lộn giữa các chiến sĩ Vệ quốc, hút thuốc lá dùi phìn Cao Lạng, đắp chăn chung ba người với anh em đội viên, nghe họ kể chuyện tâm tình và trở về toà soạn giữa rừng Việt Bắc, ngồi  viết Chặt gọng kìm đường số 4 dưới ánh “nến”  nhựa trám tuôn khói khét lẹt?


Cả Trần Đăng và Hoàng Lộc đều đã thay đổi nhiều.


Nhưng trong sự thay đổi ấy, lòng yêu Hà Nội trong họ vẫn “canh cánh bên lòng”. Trong tuỳ bút Cháy bản thảo in trong tập Tình chiến dịch, nhà văn Nguyễn Tuân kể: Trước khi lên Đồng Đăng cùng với bộ đội chiến đấu và hy sinh tại bản N. L., Trần Đăng còn cùng với Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Thi mở lớp huấn luyện văn nghệ cho bộ đội. Và lúc chia tay, họ chào nhau bằng cái gật đầu “Chiến thắng Thủ đô!”


Qua cả Trần Đăng và Hoàng Lộc, chúng ta thấy một sự thực, sức sống của truyền thống văn học là rất mạnh mẽ, nó có khả năng giúp cho những thanh niên vốn đã nặng căn với sách vở tri thức cũ có thể “từ bỏ” chính mình để chan hoà vào sinh hoạt của anh em đội viên hiền lành (như hồi ấy người ta vẫn gọi), chan hoà vào quần chúng công nông, viết về họ, diễn tả được mọi sắc thái tình cảm ở họ.


Cả Trần Đăng, Hoàng Lộc đều mất từ những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhưng giá còn sống, quay về với Hà Nội, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, chắc họ sẽ nghĩ được nhiều điều mới về Thủ đô và tìm thấy nơi đây một nguồn động viên mạnh mẽ cùng những vốn liếng quý báu cần thiết cho một người viết.


Đấy là điều những nhà văn trưởng thành cùng thời ấy, như Vũ Cao, Từ Bích Hoàng cảm thấy rất rõ.


Vốn quê ở Nam Định, nhưng từ những năm bốn mươi trở đi nhà văn Vũ Cao đã ra học Thành chung ở trường tư thục Thăng Long, và cùng với người em trai là Vũ Tú Nam trọ học ở một căn gác phố Hà Trung. Đến nay Vũ Cao còn nhớ rất rõ tâm trạng của lớp học sinh như anh hồi ấy, các anh không cắm cúi học, “học gạo” , học cốt kiếm lấy mảnh bằng như một số bạn bè, song cũng không nhiều tiền để lấy ăn chơi làm lẽ sống, như một số thanh niên khác, do đó các anh thường sống trong chán nản, ngơ ngác, không hiểu đời mình sẽ đi đến đâu. Chỉ còn một lối thoát đối với những người như Vũ Cao lúc ấy là đọc sách, và các anh đã đọc, mải miết, cắm cúi. Cả một thế giới phong phú trong sách vở mở ra, ít nhiều mang lại cho người thanh niên này niềm vui cùng những ý tưởng lành mạnh.


Chẳng hạn có lần, một người bạn đưa cho Vũ Cao cuốn Tội ác và trừng phạt của Đô-xtôi-ép-xki, anh đọc ngày đọc đêm và lờ mờ cảm hấy Hà Nội của mình rất giống với thành phố Pê-téc-bua được tả trong truyện, còn bản thân mình cũng rất gần với anh sinh viên, và gần với cả cô gái trong đó nữa.


Thành thử, có thể nói rằng do sống hết một phía nào đó của Hà Nội trước cách mạng – cái nghèo nàn, buồn tẻ vô vọng của thành phố, – mà Vũ Cao sau nay có thể thoải mái bước vào hoạt động cách mạng, sẵn sàng đi tới các đơn vị viết bài, đưa tin, điểm ca dao bích báo, v.v… và làm mọi việc khác miễn là việc có ích cho kháng chiến.


Đứng về góc độ một người sáng tác mà xét, phải nhận Vũ Cao viết hơi ít, hai tập thơ mỏng và vài cuốn văn xuôi. Chính anh cũng thấy những tác phẩm này chẳng có gì quan trọng cho lắm. Tuy nhiên, hơn ở đâu hết, trong văn học, chuyện chất lượng có vai trò chi phối thật nghiệt ngã. Có những người nghe nhắc đến tên, ai cũng biết là nhà văn, nhà thơ, bởi luôn luôn thấy tên trên mặt báo, song khi cần gọi ra một bài tiêu biểu thôi, thì không ai biết lấy bài gì, bởi các bài đều sàn sàn như nhau, không có bài nào trội hẳn. Lại có những người viết không nhiều, song có cái may là có một hai bài được lưu truyền rộng và để lại ấn tượng đậm đà trong quần chúng cũng như trong anh em cùng nghề đến mức nhắc đến tác giả ấy là phải nói tới bài thơ ấy. Vũ Cao là một ví dụ về trường hợp thứ hai mà chúng ta đang nói. Bài Núi Đôi của anh được phổ biến rộng rãi, thậm chí nhiều người cứ chép Núi Đôi, đọc Núi Đôi, Bảy năm về trước em mười bảy – Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng, mà không biết tác giả nó là ai. Với Núi Đôi, ta hiểu tại sao người ta hay gọi Vũ Cao là nhà thơ hơn là nhà văn, dù anh cũng có mấy tập văn xuôi.


Đấy là xét riêng về phần sáng tác. Nhưng theo nhận xét của nhiều anh em cả trẻ lẫn già, thì đóng góp chủ yếu của Vũ Cao mấy chục năm gần đây, là làm công việc quản lý các cơ quan báo chí xuất bản, như tạp chí Văn nghệ Quân đội, như nhà xuất bản Hà Nội. Chắc chắn những lịch duyệt của một thanh niên Thủ đô cộng với sự từng trải của một người làm báo từ hồi có từ Vệ quốc quân ở Việt Bắc, sau nữa là vốn kiến thức Vũ Cao thường xuyên bồi đắp cho mình hôm nay, đã có phần đóng góp không nhỏ cho công việc của anh.


Khi Vũ Cao phụ trách tạp chí Văn nghệ Quân đội thì người cộng sự gần gũi nhất của anh là Từ Bích Hoàng. Nhìn bề ngoài, nhiều người chỉ thấy đây là một biên tập viên cần cù, thận trọng, chừng mực và đối xử với anh em trong toà soạn cũng như ở ngoài vừa chí tình, vừa có nguyên tắc.


Nhưng một lần khi mới về tạp chí này vài năm, tôi hỏi anh Thanh Tịnh, người cao tuổi nhất trong cơ quan, cũng là người quen thuộc nhất với giới văn học từ trước cách mạng:


- Theo anh, ở cái nhà 4 Lý Nam Đế này, ai rõ nhất Hà Nội nhất?


- Từ Bích Hoàng. – Thanh Tịnh trả lời không ngần ngại và cũng không phải suy tính nhiều.


Chỉ dần dà ở lâu, tôi mới thấy nhận xét của Thanh Tịnh là đúng. Nếu hiểu Hà Nội là hoạt, nhan nhản, hơi láu vặt một chút người ta có thể nghĩ tới anh A, anh B. Chất Hà Nội của Từ Bích Hoàng hiện ra ở chỗ khác, lịch sự, nhã nhặn, và đó là tinh thần quán xuyến cả trong công việc lẫn trong sinh hoạt hàng ngày.


Ví như, khi ra chỗ đông người. Một cán bộ trong cơ quan, anh Hà Trì phân tích. “Có vào hàng  cà-phê với Từ Bích Hoàng mới biết ông Hoàng Hà Nội ô-ri-gin thế nào. Nghĩa là tài hoa, khéo, từng trải… đủ thứ phẩm chất mà người ta chỉ có thể vị nể”.


Nhiều người khác, như Mai Ngữ, Nguyễn Minh Châu cũng nói vậy. Nhằm cắt nghĩa mọi chuyện cho hợp lý, những người ở lâu trong cơ quan còn kể mấy nét quá khứ của Từ Bích Hoàng : Trước cách mạng, anh đã là sinh viên đại học. Hồi ấy có thời anh rất “chơi”, rất “điệu”. Chỉ qua kháng chiến, Từ Bích Hoàng mới thay đổi để thành người như hiện nay.


Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Nguyễn Tuân từng kể với chúng ta về quyết tâm “tự cải tạo” ở Trần Đăng. Từ Bích Hoàng cũng có những ấn tượng về Trần Đăng tương tự.


Đến toà soạn Vệ quốc quân lần đầu, Trần Đăng tuyên bố với những anh em cũ ở đấy, trong đó có Từ Bích Hoàng:


- Cả cuộc đời cũ của mình chỉ còn sót cái này (cái quần tây vải đoóc-mơi cũ V.T.N.). Mình sẽ cho nó đi nốt, khi có cái thay. Mình cho hết, vứt hết dọc đường lên đây rồi, cả cái ở trong này (anh chỉ vào trái tim) – Đúng thế, phải làm lại cuộc đời.


Khi thuật lại đến chỗ này, Từ Bích Hoàng nói thêm: “Chúng tôi reo lên. Dạo ấy, mấy anh em chúng tôi từ Hà Nội đi kháng chiến, còn chập chững trên con đường theo cách mạng, thường hay lúc hét to lên, lúc lại thầm thì cái câu khá kêu ấy, để tự động viên mình, một cách hết sức thành thật”.


Từ một đoạn đường tự bạch ngắn ngủi này suy ra có thể đoán những bước đường tư tưởng của Trần Đăng, mà chúng ta vẫn nghe nói, cũng là tâm tình có thật ở Từ Bích Hoàng.


Các anh là những bóng dáng tiêu biểu cho thanh niên Hà Nội một thời. đứng về phía những người hoạt động văn học mà xét, các anh được ghi nhận như tiếng nói phủ nhận Hà Nội cũ, và tìm cho mình một lý tưởng mới. Nhiều mong mỏi của các anh sẽ được bè bạn và những đồng nghiệp trẻ hơn thực hiện.


 


Nguyễn Khải


Mở đầu truyện ngắn Người gặp hàng ngày, in 1982, khi tác giả đã không ở Hà Nội nữa, mà cùng với gia đình chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Khải viết một đoạn tự sự dài, trong đó anh tự nhận lâu nay, anh toàn viết những chuyện đâu đâu, người đâu đâu, còn chuyện nghe hàng ngày, người gặp hàng ngày, thì tuồng như còn nhiều xa lạ”. Một lời tự thú rằng mình nhạt nhẽo với cái khu tập thể sát mép nước bờ sông Cái, mà gia đình mình đã ở hai chục năm liền! Mà nếu có bảo là sự tự thú về sự nhạt nhẽo với Hà Nội thì cũng được!


Từ Trần Đăng nói trên, qua Vũ Cao, Từ Bích Hoàng, chúng ta đã thấy một sự thực là các nhà văn hầu như ít về về Hà Nội. Vì các anh là một lớp nhà văn mặc áo lính, mà cuộc đời của người chiến sĩ thì luôn luôn ở nơi xa xôi, những miền biên cương hẻo lánh, những nơi có chiến trận.


Vì yêu cầu của chính độc giả Hà Nội một thời cũng là hướng cả về những miền xa như vậy, và Nguyễn Khải chỉ thực hiện những yêu cầu ấy một cách nghiêm túc.


Nhưng không viết, không có nghĩa là không yêu, không gắn bó, lại càng không có nghĩa là xem nhẹ ảnh hưởng của thủ đô trong đời văn của mình.


Có một sự thực hiển nhiên là tuy đã viết từ 1951-52 nhưng Nguyễn Khải chỉ thật sự được biết nhiều từ 1957, tức là sau khi hoà bình lập lại, về sinh hoạt cùng với nhiều đồng nghiệp khác ở tạp chí Văn nghệ quân đội. Có một Nguyễn Khải của những vùng công giáo được mô tả trong Xung đột, Cha và con và…, có một Nguyễn Khải của Điện Biên, những trang văn xuôi trữ tình làm nên Mùa lạc), lại có một Nguyễn Khải với  những phòng khách sang trọng trong thành phố Hồ Chí Minh ( kịch Cách mạng, truyện vừa Gặp gỡ cuối năm).


Nhưng sở dĩ có được những Nguyễn Khải đó là vì có được một Nguyễn Khải – Hà Nội mà bạn bè, những người quen và anh em trong giới đều biết.


Khi nghe tôi nói “ Có những nhà văn nhà thơ nào chỉ cho có cách sống, cách nghĩ Hà Nội hơn cả?” nhà thơ Xuân Quỳnh nhắc ngay Nguyễn Khải bên cạnh một vài tên tuổi quen thuộc khác.


Nhà thơ Xuân Sách cũng hoàn toàn đồng ý với ý ngỹi đó, anh nói thêm. “Hà Nội cổ kính có ông Tuân, ông Tưởng, nhưng Hà Nội hiện đại lại chính là Nguyễn Khải. Tốc độ suy nghĩ của con người trong văn Nguyễn Khải bao giờ cũng nhanh. Văn nhiều tư liệu, lại đi thẳng vào các vấn đề trung tâm của đời sống, khiến người khác phải quan tâm. Cố nhiên, trong giới nhà văn cũng có anh này Hà Nội ở vẻ hoa hoè hoa sói, anh khác Hà Nội ở lối quảng cáo ầm ĩ như lơ tẩy hồng, Nguyễn Khải xa lạ với mọi lối phô trương như vậy”.


Thiết tưởng nhiều người trong chúng ta cũng có thể hoàn toàn đồng ý với cách đánh giá đó của Xuân Sách.


Nhà văn Nguyễn Kiên, một người bạn viết lâu năm của Nguyễn Khải, kể lại ít chuyện những năm sáu mươi.


- Có một dạo, ngày nào tôi, Nguyễn Khải, Mai Ngữ… và một vài anh em nữa cũng gặp nhau. Chán nhà này lại sang nhà khác, chán ngồi một chỗ lại đạp xe dong, nhưng quả là phải gặp nhau để nói mới hả! Hôm nay chuyện đủ thứ rồi, về không buồn chào nhau nữa, tưởng mai thôi. Nhưng không, mai vẫn đến. Có bao nhiêu chuyện chúng tôi cần bàn với nhau chung quanh các vấn đề về nghề nghiệp. Thời kỳ đầu, chúng tôi hoàn toàn nghe theo lời chỉ bảo của các bậc đàn anh trong việc viết lách – Thời kỳ sau, chúng tôi vừa nghe vừa bàn thêm, bảo là cãi lại cũng được, cố nhiên là không cãi trước mặt các vị đó, mà là cãi với nhau, cãi ngay trong đầu óc mình. Chính đó là lý do để chúng tôi phải gặp nhau luôn, mà cũng vì lý do để nói rằng dù không viết về Hà Nội đi nữa thì cũng chỉ ở Hà Nội, chúng tôi mới trưởng thành được trong nhận thức cũng như trong công việc cụ thể.


Nguyễn Khải, Nguyễn Kiên đã tiếp nhận Hà Nội như thế nào?


Trên đại thể, các anh coi đây là môi trường văn học không có nơi nào thay thế nổi. ở đây các anh có người đọc, có đồng nghiệp, mỗi người sẽ luôn luôn lắng nghe những bạn bè đồng nghiệp đó, để viết sao cho hết sức mình mà cũng đáp ứng đúng nhu cầu xã hội mong đợi.


Nói riêng về trường hợp Nguyễn Khải. Một thói quen trong khi làm việc của anh là vừa hết sức tập trung, vừa có vẻ nhẩn nha, từ từ, vừa viết vừa nghe, không hoàn toàn đắm đuổi vào những điều mình đang viết.


Như chúng ta đều biết, các văn hào lớn xưa kia cũng như người đang viết hôm nay, nhiều người có thói quen đã bắt tay viết là đóng chặt cửa, không tiếp ai, cũng không ló mặt ra khỏi nhà nữa.


Nguyễn Khải không thế, hầu như đang thời kỳ viết bận nhất, Nguyễn Khải cũng chỉ ngồi vào bàn ngày vài tiếng. Thời gian còn lại, anh phải ra đường, phải chan hoà với không khí Hà Nội, với những anh em viẽt khác, thì mới yên tâm.


Tài liệu để viết, đã ghi chép được không thiếu trong những chuyến đi. Nhưng viết về cái gì đây, đưa cái gì ra thì mọi người chú ý, đặt vấn đề gì thì mọi người sẽ phải để công việc riêng lại, tìm đọc tác phẩm của mình? Bằng ấy câu hỏi, đối với nguời viết đâu phải chuyện bình thường! Mà chỉ có một nơi cho phép Nguyễn Khải tìm ra câu trả lời chính xác, đó là Hà Nội.


Hà Nội với những cơ quan thông tấn, báo chí, thạo tin, thạo việc, Hà Nội với lớp công chúng là cán bộ mới, lớp thanh niên tiếp xúc nhiều với nước ngoài, những người làm khoa học kỹ thuật, trẻ trong suy nghĩ, trẻ trong nếp sống. Nguyễn Khải cần những người ấy lắm! Nguyễn Khải sống giữa những người đó, như cá bơi trong nuớc, thanh thoát, thoải mái, thỉnh thoảng không quen một thoáng vùng  vẫy sung sướng!


Bởi vậy, mặc dù đi thực tế ở tận các vùng đất lạ, như vùng công giáo Nam Định, hoặc lên Phú Thọ, lên quá mãi tận Điện Biên, hoặc ra Cồn Cỏ, sống với một đơn vị công binh trên chiến trường Lào, song lần nào Nguyễn Khải cũng trở về Hà Nội mới viết.


Và Hà Nội không phụ anh, gần như bao giờ thành phố này cũng mang lại cho Nguyễn Khải những thông tin chính xác, để rồi, khi ngồi trước trang giấy anh tỉnh táo phân tích phần tài liệu thu thập được sau các chuyến di, và đưa ra được những tác phẩm hơi “gắt” một chút, hơi mới mẻ một chút, khiến mọi người cùng bàn tán một hồi, rồi mới ngã ngửa ra với nhau, hoá ra, đây cũng là một vấn đề của cuộc sống, của mình, chính mình phải nghĩ về nó hàng ngày.


Nhìn vào chất lượng sáng tác, ai cũng bảo Nguyễn Khải là một cây bút chăm chỉ, cần mẫn. Vậy mà tôi nhớ, những năm còn ở Hà Nội, không ngày nào là Nguyễn Khải không ghé qua cơ quan ở 4 Lý Nam Đế trò chuyện, thỉnh thoảng còn rủ chúng tôi ra ngồi hàng nước để hóng chuyện. Hầu như có chuyện gì mới trong thành phố, Nguyễn Khải cũng tìm biết. Những khi nào có dịp “đăng đàn diễn thuyết” trước bạn đọc nhất là bạn đọc trẻ tuổi ở các trường cấp ba, các trường đại học, các cơ quan khoa học kỹ thuật chung quanh thủ đô, Nguyễn Khải không bao giờ từ chối. Anh kể: Khi nói như thế, tức là mình nhận lấy công việc đối mặt với dư luận. Mình phải tự chứng tỏ rằng mình cũng những rung động với người ta, cũng có những điều lo toan như người ta.


Ngồi lê đôi mách là  chuyện không hay ho gì. Nhưng những vấn đề trong ngành, trong giới là điều Nguyễn Khải bao giờ cũng quan tâm và muốn nắm cho bằng được.


Qua Nguyễn Khải và cách làm việc của anh như trên, chúng tôi nhận thức một điều. Sáng tác không phải là công iệc thuần tuý tách rời hoàn cảnh. Sáng tác bao giờ cũng gắn liền với đời sống tinh thần của xã hội. Và cái nơi đóng vai trò quan trọng nhất, kể cả vai trò hàn thử biểu của đời sống tinh thần, đấy chính là thủ đô. Thủ đô là trung tâm của dư luận xã hội. Dù viết về đời sống các tỉnh xa, dù là nhà văn mặc áo lính, người ta vẫn phải nhớ tới điều đó. Nếu không đếm xỉa gì đến dư luận thủ đô, không bao giờ anh có thể thành công. Và nếu sáng tác của anh đã không được thủ đô công nhận thì trước sau, không chóng thì chầy, sẽ rơi vào quên lãng.


 


Nguyễn Minh Châu


Nhìn vào gốc tích quê hương của nhà văn từ sau 1945 tới nay, nguời ta nhận ra hai vùng có nhiều nhân tài hơn cả. Một là Nà Nam Ninh, xứ Sơn Nam hạ ngày trước, một địa điểm đặt các trường thi ở các tỉnh phía bắc, thời nhà Nguyễn. Hai là Nghệ Tĩnh, một vùng đất văn vật cũ. So với Hà Nam Ninh thì Nghệ Tĩnh còn có phần trội hơn về lực lượng người viết. Nói riêng trong số các nhà văn đang mặc áo lính, số người Nghệ Tĩnh cũng khá đông đảo. Chính Hữu, Nguyễn Trọng Oánh, Xuân Thiều, Hải Hồ, Nam Hà, Phạm Ngọc Cảnh, v.v.. và v.v…


Bởi vậy, một lần nói chuyện với một người bạn trẻ hơn ở Văn nghệ Quân đội, nhân đả động tới hiện tượng người Nghệ Tĩnh rất đông ở Hà Nội và trong giới viết văn, Nguyễn Minh Châu nửa đùa nửa thật bảo:


- Bây giờ chúng tôi đã là dân Hà Nội thực sự rồi, phân biệt làm gì!


Có điều phải nói ngay là trong khi ở một số người khác dấu vết gốc tích còn nhiều, thì ở Nguyễn Minh Châu gần như ngược lại. Anh “Hà Nội hoá” khá nhanh. Trên những trang viết của anh người ta bắt gặp được cái tinh tế, những ý nhị, tài hoa, mà theo quan niệm từ xưa, chỉ đồng bằng Bắc Bộ mới có.


Nguyễn Minh Châu kể với tôi: Anh quê ở Quỳnh Lưu, Nghệ An và trước 1945, có được vào Huế học ít năm. Nhưng cái nơi để lại trong tâm hồn anh dấu vết sâu đậm nhất, là vùng khu Ba cũ, nơi anh chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống Pháp với tư cách một người lính của sư đoàn 320.


Có lẽ đó là cái cầu nối khiến cho tình cảm của Nguyễn Minh Châu sâu đậm với Hà Nội chăng? Cái thiêng liêng ttành kính mà một người như Nguyên Hồng cảm thấy rất rõ khi bước vào nghề văn, tiếp xúc với sách vở và một Hà Nội văn học – những tình cảm ấy ở Nguyễn Minh Châu cũng có, tuy anh chưa trực tiếp nói ra bao giờ.


Một cách lặng lẽ, kín đáo, anh chỉ làm việc hết sức để đón nhận cái hoàn cảnh thuận lợi đến với mình – đó là khoảng 1959, khi Nguyễn Minh Châu được chuyển lên công tác ở phòng văn nghệ quân đội, sau đó về tạp chí Văn nghệ Quân đội, tức là sống giữa lòng Hà Nội văn học.


Và Nguyễn Minh Châu đã làm được điều mình mong đợi. Những trang viết của anh không đơn giản “tỉnh lẻ” như người ta hay nói mà có được cái chững chạc của một ngòi bút chín về mặt nghề nghiệp. Trong khi làm nhiệm vụ của một người viết trong quân đội là viết về những người lính ở các đơn vị đang chiến đấu và sản xuất, tức là mô tả những con người, những công việc không có vẻ Hà Nội chút nào, Nguyễn Minh Châu vẫn cho ta thấy anh tìm cho mình một chỗ đứng bao quát hơn.


Phải nói ở chỗ này, Nguyễn Minh Châu có cả một cơ sở lý luận. Anh tâm sự:


- Không biết có thể gọi là một kinh nghiệm nhỏ được không, tôi nghiệm thấy rằng trong những năm vừa qua, tôi không thể viết nổi một cái gì, nếu không thoát mình ra khỏi cái hiện tượng thực tế mà tôi đã lấy tài liệu. Hãy xê dịch khỏi nơi đó và tìm đến ở một nơi mà hoàn cảnh sống khác hẳn, đối lập hẳn cũng được. Trong cái môi trường mới ấy, có thể tính cả việc đọc sách, những sự nghĩ, những dự tính đã thành hình, hoặc còn phân vân và cả cái phần tư tưởng của tác phẩm dự định viết nữa, tất cả phải được nhìn lại xem xét lại bằng con mắt khách quan hơn. Nếu xuống biển hay về thành phố, chúng ta sẽ nghĩ về rừng sáng tỏ và khái quát hơn, tất nhiên trước đấy phải có những ngày sống ở rừng, sống lâu dài và sống hết mình. Cái “hoàn cảnh khác” mà Nguyễn Minh Châu nói ở đây, chính là Hà Nội. Thanh phố giúp cho nhà văn nhìn kỹ cuộc sống của người lính ở các mặt trận xa. Quan trọng hơn, thành phố giúp cho nhà văn ở khâu suy nghĩ, đi sâu vào các vấn đề, đồng thời là nâng vấn đề lên, tạo cho nó một ý nghĩa khái quát, khiến cho người đọc ở bất cứ đâu cũng có thể thông cảm được với các vấn đề của người lính.


Sáng tỏ và bao quát, hai yêu cầu ấy sóng đôi với nhau. Khi nhà văn tìm được hình thức biểu hiện thích hợp, từ cách bố cục quyển sách, cách chia chương chia đoạn, cho đến câu chữ… tất cả những yêu cầu ấy được thực hiện đầy đủ, cũng là lúc tác phẩm thật sự hoàn thành.


Nói như ý nghĩ của nhân vật chính uỷ viên Kinh trong Dấu chân người lính, Hà Nội là cái điểm tĩnh, thật tĩnh, để giúp nhà văn nhìn ra cái điểm động của cuộc chiến đấu. Là cái tài hoa văn hoá giúp vào việc soi sáng cái vất vả lam lũ đang hình thành, đang thay đổi. Là độ chín của quá khứ và ánh sáng tương lai để giúp vào việc soi tỏ hiện tại.


Nếu xét theo ý nghĩa như vậy, thì không cần khiên cưỡng chút nào cũng có thể nói chắc là Hà Nội đã có mặt đáng kể trong những tác phẩm quan trọng nhất của Nguyễn Minh Châu ở Cửa sông, và các truyện ngắn viết trong những ngày đầu chống Mỹ, đặc biệt là ở Dấu chân người lính. Lữ, nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết này đã từ Hà Nội mà ra đi, và ở chiến trường đã ngã xuống trong tư thế đang chiến đấu. Lúc ấy “qua một chiếc đài để trong góc một cái hầm sập, tiếng hát vang lên từ những thanh gỗ nằm ngổn ngang. Nó là tiếng nhạc hào hùng của bài Người Hà Nội”. Nguyễn Minh Châu dường như muốn  nói: nguồn gốc sức mạnh của nhiều người chúng ta trong cuộc chiến đấu này là tình yêu Hà Nội.


Ngoài ra, sự đời có những chuyện lạ, không phải người trong cuộc nói ra, người ngoài dễ không sao đoán nổi. Khi viết Dấu chân người lính, Nguyễn Minh Châu không những chỉ lấy cảm hứng từ cuộc chiến đấu sáu mươi ngày khỏi lửa để tạo ra những chi tiết chung quanh nhân vật Thái Văn, mà còn rút ra từ cuộc sống thủ đô chất liệu cho những mảng miêu tả khác. Theo anh kể với chúng tôi, không khí vườn Bách Thảo mà thỉnh thoảng anh ghé qua, trên đường từ cơ quan ở 4 Lý Nam Đế về nhà ở Công trường 800 đã gợi cho Nguyễn Minh Châu viết những câu tả rừng. “Tiếng lá khô rơi xào xạc. Một cơn gió từ lòng suối cạn thổi hắt lên, bốc tung lên cao một đám lá khô những chiếc lá bay múa trước mặt mọi người như những lá thư huyền bí của cuộc đời”.


Ngoài ra, những chi tiết gắn với thời đi học của nhân vật Lữ nào là cả trường tập hợp chào cờ, nghe cô hiệu trưởng dặn dò, nào là Lữ bắt gặp Hiền tay cầm que kem… đều được lọc ra từ quan sát của Nguyễn Minh Châu những lần đi qua trường Chu Văn An. Cố nhiên, giữa việc cung ấp những chi tiết cụ thể với việc giúp cho nhà văn có sự ổn dịnh trong suy nghĩ thì vai trò thứ hai của Hà Nội lớn hơn nhiều.


Không những mượn chi tiết sinh hoạt thủ đô để tả nơi khác, cũng đã nhiều lần Nguyễn Minh Châu còn lấy ngay Hà Nội để tả Hà Nội, mà tập trung nhất là trong tiểu thuyết Lửa từ những ngôi nhà.


Chúng ta đã biết những trang Nguyễn Tuân tả khu trung tâm thành phố trước cách mạng. Chúng ta cũng rất yêu những trang tả ngoại thành Hà Nội trong các tác phẩm của Tô Hoài. Dường như mỗi nhà văn đều có cách đóng góp riêng của mình.


Về phần Nguyễn Minh Châu, hoàn cảnh của anh có hơi đặc biệt. Bắt đầu về sống ở Hà Nội từ 1959, nhưng thoạt đầu nhà văn còn bỡ ngỡ, sống như người ở nhờ, tự thu hẹp mình trong doanh trại, vì bấy giờ gia đình anh còn ở Hải Phòng. Từ 1965, gia đình Nguyễn Minh Châu mới chính thức chuyển về Hà Nội. Song mấy năm từ 1965 đến 1968 lại là mấy năm sơ tán triệt để, mãi sau 1968, Nguyễn Minh Châu mới đưa gia đình trở về khu công trường 800 ở mạn chợ Bưởi. Đấy là một khu quân sự đặc biệt, gồm nhiều dãy nhà khác nhau, do các đơn vị khác nhau quản lý.


Trong khi viết Dấu chân người lính, Nguyễn Minh Châu có dịp sống kỹ với cái mảng Hà Nội đặc biệt này, một thứ Hà Nội vừa mới hình thành để phục vụ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nó nham nhở, tạm bợ luộm thuộm như một thứ bờ rừng, nơi thường xuyên có những đoàn quân đi qua. Nhưng nó lại có phụ nữ chửa đẻ, trẻ con đi học, những đôi trai gái yêu nhau và bàn chuyện tương lai. Đúng là Hà Nội của một thời mà không ai có thể quên nổi. Hà Nội trải mình ra rộng rãi khắp các khu vực ngoại ô, để đứng vững trong chiến đấu.


Mãi sau 1975, gia đình Nguyễn Minh Châu mới chuyển về một nơi ổn định hơn, một khu tập thể bộ đội đầu chợ Ngọc Hà. Nhà văn kể lại với tôi nỗi xao xuyến kỳ lạ trong anh khi dọn đến nhà mới. Anh rất hay ra phố và sẵn sàng cho phép con cái ra phố. Xưa, từ nhà ra phố phải đi một thôi rất xa. Nay, ở giữa phố xá, chẳng phải một điều kỳ lạ sao!”.


Và Nguyễn Minh Châu lại lấy nơi ở của mình để hình dung ra Hà Nội. Nhân vật chính trong một số truyện ngắn của anh gần đây như Hạng, Bức tranh, Khách từ quê ra, Hai con nhóc…. là những người quen thuộc mà anh vẫn gặp trong khu tập thể của anh hôm nay. Trong các tập truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê… anh tìm cách phác ra hình ảnh một Hà Nội thời chúng ta đang sống. Phác hoạ, tự nhận thức, chiêm nghiệm để mong sao Hà Nội ngày một trở thành chính nó, một trung tâm văn hoá.


 


Xuân Sách – Hà Ân và những người khác


Trước khi giới thiệu sự gắn bó giữa hai nhà văn Chính Hữu và Hồ Phương với đời sống văn học Hà Nội, chúng tôi xin được phép nói qua về một số trường hợp khác của các nhà văn lớn lên trong kháng chiến chống Pháp.


Cuối 1954 đầu 1955 có một thanh niên quê ở Thanh Hoá đi bộ đội, đang đóng quân ở Sơn Tây, làm một công việc quan trọng với đời mình. Một lần, chủ nhật, anh mượn một chiếc xe đạp, đạp từ Sơn Tây về Hà Nội. Thủ đô mới được giải phóng ít lâu, mọi chuyện với người thanh niên này hết mức lạ lẫm. Anh kín đáo quan sát con người và cảnh vật. Anh không quên đi một vòng Bờ Hồ. Trở về với đơn vị, anh càng quyết tâm hơn với cái ý định đã có từ lâu: viết văn, Nơi anh gửi bài, là tạp chí Văn nghệ quân đội. Thỉnh thoảng, tạp chí này lại họp cộng tác viên, anh lại có dịp về với thủ đô nhiều hơn, cho tới 1963, anh được chuyển thẳng về Văn nghệ quân đội. Và thế là Xuân Sách – vâng, người đó là Xuân Sách – đã gắn bó với tạp chí này gần hai chục năm (cho mãi tới 1980 anh mới chuyển về công tác tại nhà xuất bản Hà Nội và nay chuyển vào Đồng Nai).


Viết về người lính, Xuân Sách thường phải đến với các đơn vị xa. Nhưng Hà Nội là nơi anh tu sửa tài liệu, bàn bạc với anh em trong cơ quan về nghề nghiệp và nghiền ngẫm, nghiền ngẫm thật kỹ trước khi viết, đến mức, đôi lúc nhìn lại, mặc dù thấy đủ những hạn hẹp trong sáng tác của mình, Xuân Sách vẫn nghĩ giá kể mình không lên với Văn nghệ quân đội, lên với thủ đô chắc mình cũng không viết được như thế. Từ thế đứng của Hà Nội trong chống Mỹ, Xuân Sách có lúc sẽ viết được những câu thơ hay nhất của mình như lời ca anh soạn cho bài Đường chúng ta đi (Nhạc Huy Du) mà từ 1973 đến nay, người dân Thủ đô không ai không biết.


Cả một thế hệ người viết đã vào nghề một cách tự tin như thế. Xuân Thiều và Hải Hồ, Xuân Thiêm và Xuân Miễn, Tạ Hữu Yên và Hồ Khải Đại… Có thể nói, đa số họ đến với nghề một cách lặng lẽ, từ tốn. Dù đã có bài đăng tải đều đều ở các tờ báo, tạp chí trung ương, song việc viết văn vẫn được hiểu như một công tác. ảnh hưởng của thủ đô với tư cách một trung tâm văn hoá thường đến với họ ở phần thực chất chắc chắn của nó.


Từ Thâm Tâm, Trần Đăng… qua Vũ Cao, Từ Bích Hoàng, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Xuân Sách, chúng ta đã nói tới một lớp nhà văn tại ngũ khá lâu và quây quần ở các cơ quan chuyên về sáng tác. Thực ra, nói tới đội ngũ những người viết mặc áo lính, phải thấy đội ngũ này rất đông. Hoài An và Xuân Cang, Văn Linh và Lê Phương, hàng loạt các nhà văn, gốc khu Năm, Nam Bộ. Nguyễn Quang Sáng, Hoàng Văn Bổn, Phan Tứ, rồi các nhà văn phụ nữ Nguyệt Tú, Bích Thuận v.v… đều đã có thời gian tại ngũ (chủ yếu là trong những năm kháng chiến chống Pháp), một số tiếp tục ở thêm vài năm sau hoà bình lập lại 1954, rồi mới đi học và chuyển ngành, trở thành người viết chuyên nghiệp.


Nhưng trên nét lớn, cách nghĩ của họ về đời sống rất gần với lớp nhà văn tại ngũ mà chúng tôi nhắc ở trên. Họ cùng trưởng thành từ kháng chiến. Họ gần gũi với nhau về nhiều mặt, lòng tin, lẽ sống, nhận thức về tầm quan trọng của mỗi ngòi bút trong xã hội ta và ý thức trau dồi nghề nghiệp để ngòi bút thêm sắc bén.


Một số cách hình thành đời văn và cách quan hệ với Hà Nội của những Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu vừa nói, cũng như Chính Hữu, Hồ Phương sẽ nói sau đây, cũng là điều mà những Xuân Cang, Lê Phương, Văn Linh và cả Trần Hữu Thung, Minh Huệ, Xuân Hoàng, Trần Thanh Giao… và nhiều người khác có thể chia xẻ.


Hiện nay khu vực đề tài mà các nhà văn vừa kể bao quát và đang cần cù làm việc, thường rất rộng rãi, có người khá nổi tiếng trên lĩnh vực viết cho thiếu nhi. Và cũng có người chuyên viết truyện lịch sử như Hà Ân.


Theo chính anh kể với chúng tôi, anh có những may mắn như leo lên Cột Cờ vào thăm lầu Ngũ Long ở khu vực thành cũ Hà Nội. Bấy nhiêu hiểu biết đã là tài liệu rất tốt, tạo nên bề dày lịch sử cho những cuốn sách tác giả viết về đời sống.


Trong phần viết về Nguyễn Huy Tưởng, chúng ta đã nói phần lớn các cây bút tiểu thuyết lịch sử đều là cây bút về về thủ đô, bởi thủ đô nước nào cũng vậy, là đầu mối của mọi biến đổi hưng vong trong lịch sử. Mà thủ đô cũng là nơi tạo ra điều kiện tốt nhất cho những người viết tiểu thuyết lịch sử làm việc bởi chỉ ở thủ đô công tác nghiên cứu lịch sử, xã hội học, dân tộc học mới được dành cho những vị trí thích đáng, những hoạt động ấy là nền tảng tốt cho những ngòi bút viết về quá khứ. Những nhận xét ấy cũng rất đúng với Hà Ân và trang sách hôm nay của anh.


Hai cuộc phỏng vấn ngắn


Chính Hữu


- Xin anh kể cho một ít kỷ niệm lần đầu đến và tiếp xúc với Hà Nội.


- Đó là những năm 1943-1944, tôi từ Vinh ra trọ học phố Lý Quốc Sư gần trường Văn Lang. Đối với một học trò nghèo như tôi bấy giờ. Hà Nội trước hết là nơi tập trung của tài năng. Có bao người nổi tiếng bấy lâu tôi chỉ được nghe tên, giờ cảm thấy được sống ngay bên cạnh, được nghe họ nói, được theo học trong những giờ họ giảng, được đọc những gì họ viết rất sớm. Bấy giờ và sau này cũng vậy, tôi cảm thấy không bao giờ nếu hiểu Hà Nội chỉ riêng gồm những người sinh trưởng ở đây, mà phải hiểu là Hà Nội là tinh hoa của cả nước. Cũng như khi vào Nam, tôi mua ít vải thiều làm quà. Vải – vốn của đất Hải Dương, nhưng đã mang về Hà Nội bán, và với bà con trong Nam, hoàn toàn tôi có thể nói là quà Hà Nội.


ở phố Lý Quốc Sư, ấn tượng rõ nhất của tôi với Hà Nội bấy giờ là những ngõ phố. Tôi hay đi bộ tha thẩn trên những ngõ phố gần đây, theo các ngóc ngách của Ngõ Huyện sang tận bên Phủ Doãn. Bờ Hồ vắng lặng cũng như Thư viện quốc gia, là nơi tôi thường ngồi học, và ở cả hai nơi, những lúc rời mắt khỏi sách, tôi thường ngắm nhìn không biết chán những tàu lá những vòm cây. Trọ học ngay trong chùa, nên tôi lại và thường cảm thấy hết sức sung sướng được ngồi lặng lẽ suy nghĩ. Nếu Nghệ Tĩnh quê tôi đã cho tôi chất trầm tư thì Hà Nội mang lại cho những trầm tư đó một vẻ tinh tế. Tôi cảm thấy rất gần với những suy nghĩ của Anatôn Phơrăngxơ, mà tôi đọc được qua những trang sách lân la kiếm ở các hiệu sách cũ phố Huế và ngay phố Lý Quốc Sư của tôi, phía Nhà Thờ Lớn đi xuống. Tôi cảm thấy Hà Nội với những quán sách cũ này, với Bờ Hồ chẳng khác gì nhiều so với Paris của A. Phơ răng xơ Paris với những hiệu sách cũ và những người câu cá bên bờ sông Xen


- Nghĩa là có cả một nếp sống bình lặng ổn định?


- Đúng vậy, ổn định và quen thuộc lắm. Chùa vắng, thế giới trong chùa vốn là cách xa thế giới bên ngoài. Nhưng cả khi ra ngoài, tôi cũng có cái thế giới riêng của mình, thế giới của học trò nghèo, và tôi sống trong cái thế giới đó thoải mái. Nói cách khác, tôi cảm thấy có một Hà Nội của tôi và chỉ riêng thế, Hà Nội đối với tôi đã là khá nhiều.


ở trên, tôi đã nói với anh về những ngõ phố, những quán sách, và những hàng cây ở Thư viện quốc gia cũng như ở Bờ Hồ. Cũng nên nói thêm đến một nét sinh hoạt khác của chúng tôi bấy giờ là đi xem hát ở Nhà hát lớn. Kịch nói mới hình thành, nên những năm ấy, người ta xem còn ít lắm. Chúng tôi thì lại thấy ở đây một hình thức biểu diễn rất thích hợp với tư tưởng tình cảm của mình. Nhưng buổi công diễn của các ban kịnh Tinh Hoa, Thế Lữ, tôi thường có mặt mặc dù vào đó tôi không bao giờ đủ tiền mua vé lô mà chỉ ngồi cánh gà, thậm chí có khi leo tít lên tận chuồng cu, tức là những hàng ghế thuộc loại mạt hạng. Sau này ra kháng chiến gặp anh Thế Lữ và nhắc lại chuyện này với anh. Thế Lữ bảo “Tôi vẫn quan niệm rằng đấy là những khán giả hiểu chúng tôi nhất”.


Cũng thời gian này tôi được xem và cảm thấy rất mê Nguyễn Tuân đóng kịch, chẳng hạn, như một vai trong vở Ngã ba của Đoàn Phú Tứ.


- Anh đã có mặt ở đây từ đầu đến cuối, ý tôi muốn nói tới thời gian Hà Nội bước vào toàn quốc kháng chiến?


Đấy cũng là thời gian Hà Nội để lại trong tôi thật nhiều kỷ niệm. Nguyên hồi trọ học ở Lý Quốc Sư, tôi đã nhiều dịp lê la cơm đầu thế ở phố Hàng Da và có dịp tiếp xúc với nhiều bà con lao động trong thành phố. Nay cùng với họ đứng trong hàng ngũ kháng chiến, tôi càng có dịp hiểu họ hơn. Trong đơn vị tự vệ ở Liên khu Một của tôi bấy giờ có đủ hạng người, từ anh em sinh viên, học sinh tới bác phu xe, anh thợ, ông bác sĩ. Đội quân hội đủ thứ người này thật là một thứ Hà Nội thu nhỏ. Sự gần gũi với nhiều khuôn mặt lao động thủ đô chính là bước đầu thuận lợi để sau này tôi đi vào quần chúng công nông trong bộ đội.


Riêng với đời sống tinh thần của mình thì đối với tôi, thời gian này để lại nhiều xúc động kỳ lạ. Tôi viết khá nhiều nhật ký và những trang nhật ký này được một nhà văn chuyên về Hà Nội là Nguyễn Huy Tưởng rất chú ý. Nhân vật nam học sinh Loan trong Sống mãi với Thủ đô được Nguyễn Huy Tưởng hư cấu dựa trên nhiều tâm sự riêng mà tôi đã kể với ông. Dĩ nhiên nghĩ mình có lúc trở thành nguyên mẫu cho một nhân vật như thế, tự tôi cũng thấy vui vui. Cũng như Loan trong tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng, tôi cảm thấy cuộc chiến đấu ở HàNội lúc này thiêng liêng. Theo những con đường tạo ra bằng cách đục thông từ nhà nọ sang nhà kia, tôi la cà, hoặc nói là tôi lang thang cũng được, lang thang trong nhiều khu phố mà trước đây tôi chỉ có dịp nhìn bề ngoài Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Bạc, đổ cho đến tận Ngõ Gạch. Phố mới. Có khi tôi đi suốt từ sáng đến trưa trong cái mê lộ đó và cảm thấy được tiếp xúc với một Hà Nội nhìn từ bên trong. Có chỗ hôm qua đi bộ thoải mái thì hôm nay đường tắc không đi được. Nhưng có chỗ hôm qua tắc nay thông. Cứ thể một Hà Nội khác hiện ra vừa là tiếp tục, vừa đảo lộn rất nhiều so với Hà Nội cũ.


- Anh ở đấy liền hai tháng, cho đến ngày tất cả các đơn vị được lệnh rút ra?


- Vâng, đúng là tôi đã được thấy ánh lửa đỏ của đội phát hoả dấy lên soi xuống nước sông Hồng như nhiều lần người nọ người kia trong chúng ta đã viết.


- Từ đấy, những ý thơ đến với anh hoặc như người ta nói, với Hà Nội, anh đã trở thành nhà thơ?


- Thật ra từ hồi còn học ở Vinh tôi đã thích thơ lắm. Một trong những thày học của tôi ở Vinh là Huy Cận. Dạy văn học, cố nhiên. Đối với tôi lúc ấy. Lửa thiêng của Huy Cận là một cái gì xa vời, tôi không biết mình bao giờ mới có thể với tới được. Nhưng tôi vẫn làm quen với Huy Cận và lúc tôi ra Hà Nội cả Huy Cận lẫn Xuân Diệu có đến thăm tôi ở cái chùa Lý Quốc Sư cũng như bản thân tôi có lại thăm hai ông ở một căn gác phố Hàng Bông. Nhưng nói chung chúng tôi chỉ nghĩ sau này mình làm một nghề tự do nào đó như nghề dạy học và mãi mãi yêu thơ yêu văn học, thế thôi.


Nhưng vẫn có thể nói là Hà Nội giúp tôi nâng đỡ tôi trở thành người làm thơ với nghĩa thật cụ thể của nó. Lý do là ở Việt Bắc, đơn vị tôi, bấy giờ là sự đoàn 308, thường xuyên có dịp gặp gỡ các nhà văn nhà thơ Hội văn nghệ Việt Nam đến công tác. Tại đây tôi đã có dịp làm quen với Nguyễn tuân, Nguyễn Huy Tưởng. Sau khi làm việc, chúng tôi còn thường kéo nhau ra phố Đại Từ ngồi với nhau rất lâu. Sau bài Ngày về ở dạng lời một bài hát của Lương Ngọc Trác đến bài Đồng chí, tôi càng được các ông khuyến khích rất nhiều. Một số bài thơ tôi viết về Hà Nội mang tình cảm chung của anh em trong đơn vị tôi và nhiều người tôi quen biết trò chuyện lúc đó.


- Anh có kỷ niệm gì thêm và những văn nghệ sĩ lúc ấy đến công tác tại đơn vị anh phụ trách?


- Phần đông cũng rất quần chúng giản dị, dễ gần….


- Ông Tưởng người ra sao ạ?


- Bề ngoài có vẻ lì xì, nhưng bên trong, đó là một người rất nhiệt tình và cũng rất tốt bụng. Thật tài hoa thì không phải, nhưng làm việc kiên trì, bền bỉ.


- Ai viết về Hà Nội trong văn chương ta gần đây anh thấy đạt hơn cả?


- Tâm hồn mà thật Hà Nội nhất, thì là Nguyễn Tuân, thứ hai là ông Tưởng, Nguyễn Tuân những ai sống gần cũng rất đáng mến.


Sau đây là đoạn cuối trong câu chuyện giữa tôi và nhà thơ.


- Theo chỗ tôi nhớ, mặc dầu nhiều người biết anh qua bài Ngày về với những rách tả tơi rồi, đôi giầy vạn dặm, bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa, nhưng anh vẫn cho rằng bài thơ đó không tiêu biểu cho thơ anh mà anh muốn coi mình bắt đầu từ bài Đồng chí. Tại sao?


- Tôi cho rằng nhận thức ban đầu của tôi về Hà Nội còn hời hợt và không khỏi ít nhiều mang chất tiểu tư sản. Và chỉ về sau đó, gần gũi với anh em công nông, tôi mới trưởng thành hơn và cách hiểu của tôi về Hà Nội cũng đằm hơn, chắc hơn. Đấy cũng là quá trình nhận thức thông thường, nghĩa là xảy ra với nhiều người).


 


Hồ Phương


Từ Xóm mới (1963) qua Những tầm cao (1973) rồi Những tiếng súng đầu tiên (1980) hơn hai chục năm qua Hồ Phương liên tục đi vào đề tài Hà Nội và đã viết về Thủ đô trong mọi giai đoạn lịch sử khác nhau.


- Điều gì đã lôi cuốn anh khiến anh “bao” suốt một giai đoạn dài trong lịch sử Thủ đô như  vậy?


- Là một nhà văn hiện đang công tác trong quân đội, nhưng từ nhỏ, tôi đã rất gắn với sinh hoạt thủ đô, nên việc viết về đời sống nơi đây cũng là chuyện bình thường. Viết về Hà Nội cũng đồng thời là dịp để tôi tiếp tục viết về chiến tranh, về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, về những cán bộ, chiến sĩ thân yêu của mình… Như trong trường hợp gần đây…


- Trường hợp cuốn Biển gọi trong đó cũng có một mối tình Hà Nội?


Và nhiều nét Hà Nội trong những năm chống Mỹ nữa chứ anh! Chuyện cơ quan đi sơ tán, người đi kẻ về nối giữa nơi sơ tán và cơ sở của từng người. Và cả những quan niệm sống nữa. Tôi tưởng đứng về một phương diện nào đó, nó cũng là bổ sung cho cuốn Những tầm cao trước đây của tôi.


- Nói cách khác, theo anh, một nhà văn có thể trở đi trở lại với một đề tài nhiều lần?


Dùng chữ đề tài có lẽ cũng  còn là hơi rộng. Tôi xin được nói cụ thể hơn, ví dụ viết về Thủ đô trong chống Mỹ, tôi thấy mình còn viết được nhiều. Sau Những tầm cao, sau Biển gọi, có còn có thể có những cái khác. Mà viết về Thủ đô hồi 1945-1946 cũng vậy. Theo tôi, giai đoạn 1945-1946 tuy chỉ có hai năm, nhưng là một giai đoạn lịch sử cực kỳ sôi động, và với tư cách là trung tâm của cả nước, đời sống của Hà Nội cũng trải qua những diễn biến hết sức phức tạp, đáng để cho ta tìm hiểu và viết, viết nhiều hơn nữa. Trong thời kỳ này, con người Hà Nội ăn mặc ra làm sao, nói với nhau ra làm sao, nội một chuyện đó cũng cần nghiên cứu rất kỹ. Tôi không phải là người viết tiểu thuyết phong tục, nhưng tôi cho rằng mang vào tiểu thuyết thêm được những nét về thói quen sinh hoạt mà người đương thời ai cũng biết, thì chỉ làm cho tiểu thuyết thêm hấp dẫn. Nhiều khi chỉ cần nhắc qua một vài cái tên quen thuộc, họ cũng đã thấy thông cảm hẳn lên.


- Nhưng hình như anh đến với đề tài này hơi muộn, mãi sau hoà bình mới viết, còn Thư nhà và mấy cái khác viết trong kháng chiến, đều không phải tục tiếp về Hà Nội?


- Tôi có cái tật hay mê những chuyện trước mắt, thích nhập cuộc ngay. Vì như hồi kháng chiến chống Pháp, thích những chuyện dáo mác xung kích. Lính quần phu la đỏ lao vào đồn địch, còn trong chống Mỹ thì sẵn sàng viết về Kan Lịch, Lê Mã Lương. Nhưng khi nào rảnh là tôi nghĩ viết về Hà Nội thậm chí càng đi xa, càng viết được những dòng tâm tình về mảnh đất thân yêu này. Hai bài ký Giây lát Mạc Tư khoa và Thắm thiết Pra-ha của tôi đã chứng minh cho thiện chí đó. Chính khi đi xa, mình mới cảm thấy mình là người của Thủ đô thật sự.


- Người Hà Nội gốc?


Không hẳn thế, không đúng một trăm phần trăm, nhưng cũng gần như thế. Quê tôi ở vùng Kiến Hữu, ngay sát thị xã Hà Đông. Thuở nhỏ, tôi ở quê hoặc theo ông bố xuống học tiểu học ở Thái Bình, nhưng Hà Nội vẫn là nơi tôi đi về qua lại luôn luôn. Đọc sách Hà Nội cũ của Sở Bảo Doãn Kế Thiện, đọc các tiểu thuyết của Nguyễn Triệu Luật, đọc báo Ngày nay lúc ấy, tôi thấy mê một Hà Nội tài hoa và có nhiềi truyền thống lịch sử. à trước đó, còn phải nói đọc những bài thơ như La ga Hà Nội, như Chợ Đồng Xuân của Tản Đà và nhiều bài khác đăng trong Tứ dân văn uyển nữa chứ, đọc để thấy Hà Nội thật bình thường, mình đang được sống ngay trong lòng nó, năm nào cũng được đến với nó, mà thật ra là một mảnh đất thiêng liêng cao quý.


- Anh có mặt ở Hà Nội ngay từ những ngày khởi nghĩa?


- Thật ra, đúng hôm ấy thì tôi ở Thái Bình, tôi được chứng kiến dân ở đây chiếm dinh tuần phủ và bắt thằng Bang làm việt gian. Nhưng ngay hôm đó, tôi cảm thấy phải về Hà Nội, những ngày này mà không có mặt ở Hà Nội là không được. Tôi trở về trong một Hà Nội đỏ rực màu cờ. Từ đó vừa đi học tiếp tôi vừa tham gia hoạt động phong trào học sinh, kể cả có một thời gian cùng anh Phong Nhã làm tờ báo Trẻ tháng Tám tiền thân của tờ Thiếu niên tiền phong ngày nay.


- Cứ thế anh trở thành thành viên của Trung đoàn Thủ đô ngay giữa Thủ đô Hà Nội?


- Không, cũng có đứt quãng ít chút, nhưng cái gì thật là của mình thì trước sau vẫn gặp. Nguyên là tham gia chiến đấu một thời gian, tôi bị kiết lỵ phải đưa ra ngoài. Đến khi khoẻ, do tôi vốn là người của phong trào thanh niên nên lại được đưa sang một đội thanh niên khai hoang phụ trách một ấp nông dân ba mươi người. Tôi ở đấy vài tháng, nhân nghe nói vùng bên kia sông có một đơn vị bộ đội, mới mò sang chơi, thì lại gặp đúng các đồng chí chỉ huy cũ. Đồng chí Hồng Cư, đồng chí Đặng Quốc Bảo, các đồng chí mới kéo đi học quân chính và bổ sung về 308. Sinh hoạt hồi ấy vui nhộn lắm. Thì anh tính cánh lính trẻ mới 17, 18, chúng tôi cứ gặp nhau là hỏi tin Hà Nội. Có khi bạn bè gặp nhau ngồi nói chuyện về những kỷ niệm ngày trước mà thức trắng đêm. Làm nội san cũng toàn viết về Thủ đô. Đến ngay cắm trại, bao giờ cũng quy hoạch địa điểm thành ra phố xá vuông vắn. Này là Hàng Ngang kia là Hàng Đường, giữa có Hồ Gươm, Tháp Rùa là nơi ban chỉ huy đơn vị đóng.  Cứ kể ra, viết lại, tả cho thật kỹ càng, tỷ mỉ, cũng  đã là hay lắm rồi.


- Vấn đề bản sắc riêng của Hà Nội nên được hiểu ra sao?


- Bên cạnh những đổi mới hiện đại, phải giữ lấy những gì tốt đẹp trong quá khứ. Không phải tất cả những gì thuộc về ngày hôm qua đều bỏ đi cả. Nhất  đây lại là những nét truyền thống của một Hà Nội ngàn năm văn vật, và truyền thống này đã phát huy sức mạnh của mình, cổ vũ chúng ta tiến lên trong những năm chống Mỹ.


- Trong các giai đoạn lịch sử gần đây của Hà Nội (từ năm 1945 đến nay) thì anh mê giai đoạn nào nhất?


- Nói ra có lẽ có người bảo mình tham lam, nhưng quả thật giai đoạn nào của Hà Nội tôi cũng mê, tôi chẳng bỏ giai đoạn nào cả và khi có điều kiện là tôi ngồi viết. Dự định sắp tới của tôi ấy ư? Tôi định viết ngay về Hà Nội những năm từ sau 1975 trở đi. Có người chê cuộc sống bây giờ hỗn tạp quá, thậm chí một vài người chỉ thấy những nét tiêu cực. Tôi thì không thế. Tôi thấy Hà Nội vẫn có những nét đáng yêu của nó, vẫn đầy sức sống, vẫn giầu tài năng và giữ được một nếp sống tài hoa. Phải viết chứ anh.


Chia tay Hồ Phương, trong tôi hằn lên ấn tượng về một con người hồ hởi nhẹ nhõm, cứ băng băng mà lướt tới, theo ý đồ đã định sẵn. Con người đó hăm hở, tự tin, không cần  trăn trở gì nhiều vì cảm thấy trăn trở chả có ích gì, trước mắt, chỉ có một điều lo lắng là làm  nốt công việc đang làm dở, bởi lúc nào cũng còn bao nhiêu việc đã nghĩ xong mà chưa kịp làm. Trong con người đó hầu như lúc nào cũng toát lên một thách thức. Có việc gì là khó đâu! Thế nào ta cũng sống được mà còn sống khá nữa là khác!


Chẳng phải đó cũng là một nét làm nên tính cách Hà Nội ở trong anh, ở tôi, ở nhiều người chúng ta?


Chẳng phải có bao nhiêu người Hà Nội hôm nay cũng đang sống bằng một triết lý như thế?


 


Hà Nội và việc đào tạo lớp nhà văn trẻ từ sau 1954


Theo một báo cáo về công tác đào tạo lực lượng những người viết trẻ của Hội Nhà văn Việt Nam; thì từ 1962, Hội bắt đầu mở các lớp đào tạo người viết văn tại Quảng Bá. Từ đó, một phần đáng kể những người viết trẻ qua trường này mà có dịp chính thức về học ở Thủ đô ít ngày và làm quen với những phong trào sáng tác.


Nhưng trước khi có trường viết văn Nguyễn Du, có một nơi đã sớm làm việc thu hút và rèn luyện các cây bút trẻ, đó là các cơ quan văn hoá Hà Nội. Các hoạt động do Sở văn hoá khởi xướng khoảng 1958-60 tuy nhỏ bé, nhưng không phải không có ý nghĩa.


Xin được bắt đầu bằng một kỷ niệm riêng sau đây.


Đang học lớp 8, ở trường Chu Văn An, niên khoá 1958-59, tôi được một anh bạn cùng lớp tên là Xuân Đạm cho xem mấy tờ bướm in ca dao, do Sở văn hoá Hà Nội phát hành. Đạm cũng có ca dao in ở đấy. Theo ý anh, làm ca dao như thế này không khó lắm, đại khái trong những bài thơ, ca dao chúng tôi vẫn làm và “đăng” ở bích báo của lớp học ra những bài khá sửa chữa thêm, gửi đến 47 Hàng Đậu, chắc cũng đăng được. Điều đó làm cho tôi rất thú vị. Tôi mạnh dạn làm theo lời Xuân Đạm khuyên. Thế là ít lâu sau, tôi đọc thấy tên mình sau một số bài ca dao, với số nhuận bút cũng đáng kể lúc ấy là 2 đồng một bài bốn câu.


Nhưng điều thu hoạch lớn nhất của tôi trong những ngày viết cho Tiếng hát quê ta, Tiếng máy… là được biết mặt, biết tên một số người viết khác. Các anh Võ Văn Trực, Ngô Văn Phú, đang học Đại học Tổng hợp, anh Ngô Trực Nhã đâu ở một khoá của Đại học Bách Khoa, rồi các anh Bùi Kim, Văn Tuế, Văn Sửu, Nguyễn ái Mộ, ở ngoại thành.


Sở dĩ chỉ nói biết mặt biết tên mà không dám nói quen vì so với các anh đó, tôi còn ít tuổi hơn, và viết lách không có là bao. Sau này, khi chuyển về công tác ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội, ở Tác phẩm mới, chúng tôi mới nói chuyện với nhau nhiều hơn. Dù thời gian viết cho Tiếng hát quê ta chỉ ngắn ngủi nhưng nghĩ lại, chúng tôi đều thấy đấy là những kỷ niệm đáng ghi nhớ.


Người dìu dắt các “cây hút trẻ” viết cho Tiếng hát quê ta, Tiếng máy lúc ấy là anh Huyền Tâm. Tôi còn nhớ bấy giờ đâu anh trên bốn mươi, người gày cao, dáng lòng khòng, nhưng mắt sáng, và nụ cười rất tươi. Anh đã nổi tiếng với bài Lúa tháng năm kén tằm vàng óng từ kháng chiến, nên đối với chúng tôi rất có uy tín. Ngoài việc biên tập bài vở, Huyền Tâm còn tổ chức cho chúng tôi một số buổi học chính trị, và trao đổi về nghiệp vụ. Gần đây, nhân một lần cùng với một số bạn bè khác gặp nhau tại nhà Huyền Tâm, ở phố Phùng Hưng (nay anh đã nghỉ hưu), tôi mạnh  dạn bảo “Tất cả bọn chúng tôi đều từ ống tay áo của Huyền Tâm mà chui ra cả”, anh Huyền Tâm cười vui, mà những anh em khác cũng rất đồng tình.


Và Võ Văn Trực kể: thời gian 1958-60 rất quan trọng đối với anh. Tuy chưa viết gì nhiều, nhưng đây là thời gian anh nung nấu với nghề, và việc gặp gỡ với những anh em viết ở Hà Nội càng giúp cho sự nung nấu ấy ở anh thêm mạnh mẽ. Sau khi tốt nghiệp đại học Tổng Hợp ra. Võ Văn Trực được phân công về Bộ ngoại giao, nhưng anh quyết tâm xin chuyển sang nhà xuất bản Thanh Niên để viết. Có gì phải hối hận trong chuyện đó không? Khi nghe tôi hỏi. Võ Văn Trực cười, cảm thấy không có gì phải tính lại con đường của mình cả.


Ngô Văn Phú, Võ Văn Trực cũng như nhiều anh em “nhân cốt” trong lực lượng sáng tác của Sở văn hoá Hà Nội năm ấy hiện nay đang là thành viên tích cực của lực lượng văn nghệ thủ đô. Ngoài thơ, Võ Văn Trực còn là tác giả tập bút ký Nắng sáng trời ngoại ô, Ngô Văn Phú thì có tiểu thuyết Tình yêu đến từ nơi ấy, đều in ở Nhà xuất bản Hà Nội. Dù quê hương nơi đâu, các anh đã cùng với đất này mà trưởng thành, và thành thật coi đây là nguồn thúc đẩy cho mọi sáng tác của mình.


Nhân đây, xin được nói phác qua thêm về lực lượng văn nghệ trẻ Hà Nội.


Từ khi Hội Nhà văn Việt Nam có cả một tiểu ban đặc trách lực lượng sáng tác trẻ, các cơ quan văn nghệ trực thuộc thành phố vẫn tiếp tục duy trì các hoạt động bình thường và thu hút vào mình nhiều mầm non văn nghệ khác.


Quây quần chung quanh Sở Văn hoá Hà Nội, và về sau, Hội Văn nghệ Hà Nội, có các cây bút Lý Thị Trung, Bùi Kim, Lê Bầu, Chử Văn Long, Vũ Đình Minh, Vũ Xuân Hoát, Tô Hải Vân, Vũ Đình Văn… Một số bạn tuy thuộc các cơ quan khác, nhưng cũng có nhiều gắn bó với phong trào sáng tác Thủ đô. Đó là Trần Hoàng Bách, Nguyễn Thái Vận, Trần Dũng, Vũ Duy Thông… và số trẻ hơn, Nguyễn Thuỵ Kha, Hoàng Việt Hùng, Trần Hoà Bình v.v… và v.v… Nhiều anh chị em này đã được tặng thưởng trong các cuộc thi sáng tác ở Trung ương và Hà Nội. Trưởng thành từ Thủ đô, các bài thơ, bút ký truyện ngắn và cả những trang tiểu thuyết của họ thường viết nhiều về sinh hoạt Thủ đô. Những người như họ làm nên một phần nếp sống bình thường của sinh hoạt văn nghệ Hà Nội hôm may.


 


 


Bùi Minh Quốc


Có những bài thơ tuy không thật hay, nhưng do nhiều lý do khác nhau, trong đó lý do quan trọng nhất là nói được đúng tâm lý người đương thời, nhất là thanh niên, nên được truyền tụng rộng rãi.


Một trong những bài thơ đó là Lên miền Tây của Bùi Minh Quốc. Thanh niên những năm 1958-60, hẳn nhiều người còn thuộc nó:


Xe chạy nghiêng nghiêng trèo dốc núi


Lên miền Tây vời vợi nghìn trùng


Ôi , miền Tây, ở dưới  xuôi sao nghe nói ngại ngùng


Mà lúc ra đi, lửa trong lòng vẫn cháy


Cái tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy


Thì xa xôi biết mấy cũng lên đường


Sống ở Thủ đô mà dạ để  mười phương


Nghìn khát vọng chất chồng mơ ước lớn.


Nhớ tới bài thơ, chúng ta nhớ lại những ngày sôi nổi khi hoà bình lập lại trên miền Bắc, đặc biệt là 1958, không khí hết sức hồ hởi.


Nhớ tới bài thơ, những người năm nay trên bốn mươi cũng nhớ lại một quãng đời tuổi trẻ, với lý tưởng phấn đấu thật trong sáng, lúc nào cũng nghĩ tới cống hiến, chứ không tới hưởng thụ, nghĩ tới tập thể chứ không nghĩ tới cá nhân. Nhiều công trường được mở ra. Người thanh niên năm ấy sẵn sàng đi  xa, làm đủ công việc vất vả, ăn uống thế nào cũng xong, không cần tiện nghi, miễn làm sao làm được công việc có ích. Tất cả như mê đi trong một niềm say mê lý tưởng cao quý.


Riêng trong thanh niên học sinh cấp ba (hồi ấy sinh viên đại học có rất ít) luôn luôn có những cuộc thảo luận về mục đích lý tưởng sống, về động cơ làm việc. Rồi xuống xã cùng ăn, cùng ở, cùng làm với bà con nông dân. Rồi vào nhà máy, làm việc với công nhân, và mở xưởng trường, tự tay làm xà phòng, làm dầu xả v.v…


Học sinh cấp ba những năm 1954-55 nhiều nơi nam còn mặc com-plê, nữ còn mặc áo dài đến trường . Bước sang những năm 1957-58, người ta khoác lên vai cái áo nâu một cách thoải mái. Không khí lúc nào cũng sôi nổi, như trong những ngày hội.


Đấy chính là cái môi trường làm nảy sinh  Lên miền Tây và nhiều sáng tác tương tự.


Bùi Minh Quốc kể với tôi về trường hợp làm bài thơ. Bấy giờ, anh đang học ở trường Chu Văn An, Chi đoàn nhà trường phát động một đợt học tập Paven Coócsaghin (nhân vật chính trong Thép đã tôi thế đấy). Bùi Minh Quốc dùng thơ để phát biểu, bài thơ ban đầu mang tên Gửi Pa-ven, sau được tác giả sửa chữa lại, và có hình thù như hiện nay.


Theo Bùi Minh Quốc tự nhận, sở dĩ bài thơ có được tiếng vang nào đó trong lòng những người cùng lứa tuổi, và cả giới văn nghệ nữa (đã được chọn vào Thơ Việt Nam 1945-1960, được đưa vào chương trình phổ thông v.v…), vì nó nói đúng một phần tâm trạng thanh niên Hà Nội trong những năm ấy, nhìn lại kháng chiến chống Pháp, thấy sự nghiệp của cha anh vĩ đại quá, thấy đời mình chỉ có ý nghĩa, nếu lao vào gian khổ, phấn đấu tiếp tục huyền thoại ấy. Bài thơ cũng nói đúng khát vọng đi xa, hết tầm mơ ước của  tuổi trẻ.


Trước khi viết Lên miền Tây, Bùi Minh Quốc đã có làm thơ, nhưng chỉ từ Lên miền Tây anh mới được nhiều người biết. Với một số học sinh cấp ba đương thời, nghề văn đang là một nghề hết sức tốt đẹp, và thành công của Bùi Minh Quốc hình như ít nhiều có góp phần khẳng định cho một số người do là nếu kiên trì phấn đấu chắc mình sẽ đến với nghề này được.


Cùng với Bùi Minh Quốc, trong thời kỳ này (1964 về trước, tức là trước cuộc kháng chiến chống Mỹ) phải kể Trần Nhật Lam, Nguyễn Đình Hồng, Thái Giang, Ca Lê Hiến (Lê Anh Xuân) v.v…


Sau Lên miền Tây, Bùi Minh Quốc  còn là tác giả truyện ngắn Cô thợ nề, và một truyện viết cho thiếu nhi, Phi lao út của Bé Ly. Anh cũng viết nhiều cho Tiếng hát quê ta, Tiếng máy, trong đó có những bài nói tới sông Hồng, hồ Bảy Mẫu (sau là công viên Thống Nhất, và nay là công viên Lê Nin).


Trong thời gian học cấp ba Chu Văn An và học Đại học Tổng hợp anh làm quen thêm với báo chí, những người viết văn chuyên nghiêp, để rồi đứng hẳn vào đội ngũ đó. Trung thành với lý tưởng “Sống ở Thủ đô mà dạ để mười phương” từ 1967 anh xung phong vào Nam chiến đấu. Hiện nay, Bùi Minh Quốc vẫn công tác ở Hội văn nghệ Quảng Nam – Đà Nẵng. Những khi ra Hà Nội họp, gặp lại bạn bè, anh không quên nhắc tới kỷ niệm những năm 1958-60.


Những người cùng học với Bùi Minh Quốc những năm ấy, ở trường Chu Văn An, như Trần Nhật Lam, Bùi Bình Thi, Vũ Quần Phương, Lữ Huy Nguyên, v.v… hiện đang đảm đương nhiều mặt công tác của đời sống văn học ở Thủ đô. Các anh đã bước vào tuổi bốn mươi, lứa tuổi chín chắn cả trong cuộc đời, lẫn trong sáng tác.


(còn tiếp)


Nguồn: Nhà văn hôm nay với Hà Nội (Kể chuyện đời sống văn học). Ký của Vương Trí Nhàn


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
Na Hang: Sắc nước hương trời - Trần Mai Hưởng 30.09.2019
Nhìn mưa, nhớ Nguyễn Ngọc Ly - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Trúc Cương - Liêu xiêu một đời - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Ngôi sao xa xôi thưở ấy - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Sun Group, Địa Ngục Tự - Bài 2: Dấu chấm hỏi về 'vòng tròn khép kín' ở Tam Đảo II - Nhiều tác giả 26.09.2019
Điều tra độc quyền: Sun Group, Địa Ngục Tự và ma trận chiếm lĩnh rừng quốc gia Tam Đảo - Nhiều tác giả 23.09.2019
Nguyên Ngọc con người lãng mạn - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2019
xem thêm »