tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28883210
08.10.2010
Vương Trí Nhàn
Nhà văn hôm nay với Hà Nội (5)

Nguyễn Đình Thi


Trong số các hoạt động của Hội văn hoá cứu quốc hồi bí mật, có một sự kiện đáng ghi nhớ vào đầu năm 1944. Đó là buổi diễn thuyết về sức sống của dân Việt Nam trong ca dao và cổ tích, nhân ngày hội sinh viên hàng năm. Người nói chuyện hôm đó là nhà văn Nguyễn Đình Thi.


Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Thi có thể nói là cùng với Văn hoá cứu quốc và với các hoạt động văn nghệ sau 1945 mà trưởng thành. Sự nghiệp đó cũng gắn liền với Hà Nội.


Kể ra, từ xưa đến nay, số người là học sinh Hà Nội cũ (nhất là học sinh các trường học có tiếng như trường Bưởi, trường Thăng Long) đi vào viết văn, số đó rất nhiều. Đó là Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Công Hoan… mà chúng ta  đã biết.


Nhưng ở Nguyễn Đình Thi người ta vẫn thấy một trường hợp đáng lưu ý đặc biệt. Tại sao? Một phần có lẽ do Nguyễn Đình Thi là một tài nhưng đa dạng, không những làm thơ, viết văn, mà còn sáng tác nhạc và ở lĩnh vực nào cũng thành công, cũng gây được ấn tượng. Thông minh, lịch thiệp, tài hoa… những phẩm chất  chung của người Hà Nội thời nào, như được kết tinh lại rất rõ ở ông. Và người ta, có cảm tưởng ông đã thu hút được đầy đủ hơn ai hết những thành tựu của đời sống văn hoá thủ đô, lấy nó làm của riêng của mình.


Một điều khác, có thể thấy rõ trong việc Hà Nội chuẩn bị cho người học sinh này trở thành nhà văn, là chuẩn bị về mặt kiến thức, tư tưởng. Trước khi sáng tác, Nguyễn Đình Thi từng là tác giả những tập biên khảo về Béc-xông, Nít, về chủ nghĩa dân chủ mới… Về sau, vừa sáng tác, ông vừa là một cây bút lý luận có uy tín, trong các bài viết của ông, những ý kiến dẫn ra từ Tôn-xtôi, Đốt-xtôi-ép-xki. R. Rô-lăng, Goócki, bao giờ cũng đúng lúc, đúng chỗ. Trong khi phần lớn các nhà văn Việt Nam trước đây cũng như hiện nay đều viết trực tiếp từ những kinh nghiệm riêng trong đời sống, thì Nguyễn Đình Thi bên cạnh những kinh nghiệm riêng ấy, còn có sách vở. ở ông, nhà lý luận đồng thời trưởng thành và cùng hoạt động với người sáng tác.


Tất cả những điều này sẽ có dịp thể hiện đầy đủ, qua việc tác giả xây dựng tiểu thuyết Vỡ bờ.


Cái hạt nhân của Vỡ bờ như Nguyễn Đình Thi từng kể, chính là một mảng sóng Hà Nội. Trong suốt cả cuốn tiểu thuyết hơn một ngàn trang này, người ta còn có thể nhận ra nhiều cảnh, nhiều người đã thuộc về kinh nghiệm riêng, từng trải riêng của Nguyễn Đình Thi ở Hà Nội trước 1945, từ câu chuyện của một cậu học sinh nghèo, tỉnh nhỏ, lên đây trọ học như Đông, đến cảnh sống của những người thuộc loại nhà giàu như chị em Phượng, Hằng… và đặc biệt là cái đám người viết văn, viết báo, vẽ tranh, chơi nhạc. Hộ, Vũ, Toàn Tư kể cả Thanh Tùng, v.v… Bản lĩnh nhà văn của Nguyễn Đình Thi không chỉ thể hiện ở cách nhìn, mà còn ở cách khai thác tài liệu, cách viết nữa, nó là sự tổng hợp giữa kiến thức lý luận với kinh nghiệm như trên chúng ta vừa nói. Những người viết văn kết hợp được cả quan sát rung cảm với việc đọc, như Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi , là một thứ “đặc sản” chỉ ở Hà Nội mới có.


- Tôi không sinh ra ở Hà Nội, nhưng cuộc đời và sáng tác của tôi đã gắn bó rất nhiều với thủ đô.


- Nếu ai nói vì sao tôi viết nhiều và có những tác phẩm thành công về Hà Nội(…) thì xin thưa rằng đó hoàn toàn không phải do tôi sống ở Hà Nội nhiều mà là do tôi rất gắn bó với Hà Nội, với thủ đô của đất nước Việt Nam anh hùng. Nói về Hà Nội, về con người Hà Nội cao đẹp, cũng chính là nói tới những phẩm chất quý giá của cả dân tộc.


Có lần, trong dịp trả lời phỏng vấn một tờ báo – tờ Tuổi trẻ thủ đô, số kỷ niệm 10-10-1954 Nguyễn Đình Thi đã viết như vậy. Theo nhà văn tự nhận xét, thì từ các cuốn tiểu thuyết Xung kích, Vỡ bờ, Mặt trận trên cao, các vở kịch Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Tiếng sóng, Giấc mơ… tác phẩm nào của ông cũng có hình bóng những người thanh niên của đất ngàn năm văn vật.


Nhưng còn thơ? Trong sáng tác của nhà thơ rất độc đáo này, nhất là tập Người chiến sĩ gồm những bài làm trong kháng chiến, hình bóng, hơi thở, không khí Hà Nội được gợi rất cảm động. Hình ảnh mở đầu bài thơ nổi tiếng Đất nước:


Sáng mát trong như sáng năm xưa


Gió thổi mùa thu hương cốm mới


Tôi nhớ những ngày thu đã xa


Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội


Những phố dài xao xác hơi may


Người ra đi đầu không ngoảnh lại


Sau lưng thềm vắng lá rơi đầy.


đã ăn sâu vào tâm trí nhiều thế hệ thanh niên học sinh. Mỗi lần đi xa thủ đô, đọc mấy câu thơ ấy lên, lòng họ lại xao xuyến, tâm trí mỗi người lại trở về với bao kỷ niệm về Hà Nội thân yêu.


Tiếp xúc với nhiều bài thơ in trong Người chiến sĩ như các bài Không nói, Mưa xuân, Nhớ, Bài thơ viết cạnh đồn Tây, người ta không sao quên được hình ảnh một lớp thanh niên Hà Nội, những người con trai trên đường ra trận, những người con gái bồi hồi xúc động muốn chia xẻ với người yêu của mình mọi gian nan vất vả “Thì thầm em nói em yêu quá – Các anh vất vả vì giống nòi”. So với cách nghĩ bình thường, thì lối bộc lộ tình cảm trong thơ tình Nguyễn Đình Thi thường là rất bạo, nhưng vẫn tinh tế.


Còn có thể nói nhiều về những bái thơ như Nhớ, Chuyện hai người yêu xa cách, Chia tay trong đêm Hà Nội.


Tuy nhiên, kỷ niệm ban đầu của Nguyễn Đình Thi đối với Thủ đô mà cũng là đối với đề tài cách mạng nói chung, lại là một bài hát, bài Diệt phát xít


Nguyễn Đình Thi kể: Bấy giờ là đầu 1945, Hà Nội đang chết đói dở, Hà Nội cũng rục rịch cách mạng. Bọn phát xít Nhật kiểm soát rất kỹ. Ai muốn ra đường phải có thẻ, không rõ làm sao Nguyễn Đình Thi lại có thẻ. Hình như ông có được là do nhặt từ một người nào đó đã chết. Nhưng ra đường càng thấy Hà Nội đang đau đớn dưới ách phát-xít, và tức nước vỡ bờ, lòng người đều quyết tâm đứng lên cứu nước, cứu nhà. Trở về trên cái gác xép nhà Trần Văn Cẩn mà Nguyễn Đình Thi đang ở nhờ, ông viết Diệt phát-xít. Làm xong, mang khoe Văn Cao. Thì Văn Cao cũng vừa sáng tác xong Tiến quân ca (mà ban đầu còn lấy tên là Bài ca Việt Minh) Ban đầu Diệt phát-xít được hát ở Hà Nội như một bài hát… vô danh. Ai cũng hát, tuy không ai nhớ tên tác giả. Sau khi dự Đại hội quốc dân ở Tân Trào ông đi bộ về Hà Nội, nhưng vì sốt rét nên tối 2-9 mới về tới nơi. Qua sông Hồng, đã thấy các đám biểu tình đi rầm rập trên đường. Không kịp nghỉ ngơi, Nguyễn Đình Thi nhập ngay vào hàng ngũ những người biểu tình, đến tự mít-tinh ở Nhà hát lớn. Và ở đấy, tác giả lại cùng mọi người hát to lên bài Diệt phát xít. Những lúc này, trong lòng người nghệ sĩ không khỏi dấy lên niềm tự hào: sáng tác của mình đã trở nên tiếng nói của mảnh đất thiêng liêng mà mình từng gắn bó.


Vinh dự đó còn đến với Nguyễn Đình Thi một lần nữa, bài hát Người Hà Nội. Nói chung, các bài hát, bài thơ, các cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Đình Thi ít nhiều đều có liên quan đến một phương diện của truyền thống Hà Nội hôm nay – Hà Nội cách mạng. Đọc Nguyễn Đình Thi, chúng ta nhớ tới lớp lớp những người con trai, con gái thủ đô hết lòng vì sự nghiệp chung của dân tộc, những người biết hy sinh, phấn đấu mà vẫn không thôi giữ được cái chất của đất kinh thành, lịch sự, tài hoa, duyên dáng.


 


“Khởi nghĩa tháng Tám như một lưỡi cày khổng lồ đào xới mảnh đất Việt Nam đau thương, để theo sự sống trở lại lên những luống đất đẫm máu và nước mắt. Bao nhiêu vấn đề đều phải đặt lại tất cả cùng một lúc”. Trong một bài viết tháng 2-1952, nhân việc nhà văn Nam Cao hy sinh, Nguyễn Đình Thi đã viết như vậy. Với cuộc cách mạng long trời lở đất này, đời văn của nhiều cây bút nổi tiếng trong văn học ta thay đổi, và cố nhiên, mối quan hệ của mỗi người với Hà Nội cũng thay đổi. Trong một số trường hợp, thủ đô là nơi chứng kiến những chuyển biến rất cụ thể.


Ngay sau cách mạng, Xuân Diệu, Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng… sôi nổi bắt tay vào làm tạp chí Tiền Phong của Hội văn hoá cứu quốc.


Nguyễn Tuân cùng đi với Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Lạp, Sĩ Ngọc, Nguyễn Văn Tỵ tham gia vào một đoàn văn nghệ sĩ Nam tiến trước 19-12-1946. Sau này, cả Nguyễn Tuân lẫn Nguyễn Đình Lạp, cũng như Thôi Hữu, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, còn có dịp trở lại với mặt trận Hà Nội.


Nhà thơ Thanh Tịnh trước nay sống ở Huế là chủ yếu. Cuối 1946, ông ra thủ đô dự Đại hội văn hoá toàn quốc, chưa kịp quay về quê hương thì tiếng súng toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Theo dòng những người Hà Nội tản cư, ông bắt đầu dùng độc tấu phục vụ kháng chiến, và thế là một quãng đời mới của  ông thực sự bắt đầu.


Bằng nhiều con đường khác nhau, trước sau các văn nghệ sĩ nổi tiếng đều theo tiếng gọi của đất nước ra khu Ba, vào Thanh, và nhất là lên Việt Bắc tham gia kháng chiến để rồi sau 10-10-1954, cùng với đoàn quân chiến thắng, trở lại thủ đô yêu dấu.


Từ ấy, đời văn của mỗi người sang một trang hoàn toàn mới!


Phần thứ hai


Nói tới văn học Việt nam sau 1945, người ta thường chú ý tới sự hình thành hai lớp nhà văn


a. Thế hệ các nhà văn chống Pháp.


b. Thế hệ chống Mỹ


Trong khi chưa có điều kiện đầy đủ để miêu tả hết sức gắn bó của các nhà văn tiêu biểu của hai thế hệ này với Hà Nội, chúng tôi tạm đi vào thế hệ các nhà văn chống Pháp qua hai nhóm chính, nhóm các nhà văn khu Năm – Nam Bộ ra tập kết ở miền Bắc sau 1954 và nhóm các nhà văn mặc áo lính. Quan hệ của mỗi nhóm này với đời sống văn học Hà Nội có những đặc điểm riêng khá rõ. Còn thế hệ các nhà văn chống Mỹ sẽ được xem xét ở góc độ chung: Hà Nội và việc đào tạo các nhà văn trẻ.


 


Hà Nội và các nhà văn khu Năm, Nam bộ ra tập kết sau 1954


Không những đối với các tỉnh lân cận Hà Đông, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên, mà đối với các tỉnh xa, từ Nghệ Tĩnh vào, qua Trị Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hoà v.v… Hà Nội từ lâu đã là một trung tâm văn học, khiến cho nhiều chàng trai trước cách mạng ao ước có dịp ra học tập. Đó là điều xẩy ra với Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên và nhiều người khác, mà trên kia chúng ta đã nhắc qua.


Nhưng nếu như trước cách mạng, người yêu Hà Nội chỉ đến với thủ đô lẻ tẻ, từng người một, thì sau cách mạng, có một thời gian mảnh đất này đột ngột hội tụ về mình rất nhiều anh tài khắp nơi, và tạo cho sinh hoạt văn học nơi đây có một bước chuyển rõ rệt. Cái thời gian sau 1954 ấy quả là một cái mốc mà chúng ta cần ghi nhớ.


Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Bảo Định Giang, Đoàn Giỏi … từ Nam Bộ ra.


Tế Hanh, Phạm Hổ, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Viết Lãm, Đào Xuân Quý, Lưu Trùng Dương… cả đội quân văn nghệ hùng hậu  của khu 5 cũ, gần như tập kết đầy đủ, và chia nhau đảm nhiệm các mặt công tác văn học quan trọng nhất lúc bấy giờ. Rồi từ trong phong trào đó, từng người sẽ trưởng thành lên và tạo dựng cho mình sự chững chạc cần thiết của ngòi bút.


 


Nguyễn Văn Bổng – Nguyễn Thành Long – Phạm Hổ


Thật ra không phải từ sau 1954, các nhà văn chúng ta vừa kể trên, mới tiếp xúc với Hà Nội.


Nguyễn Thành Long  cho chúng tôi biết: Sau khi học ở Quy Nhơn, anh ra Hà Nội học chuyên khoa và  thường đến Thư viện Trung ương đọc sách. Trong đầu óc những người như Nguyễn Thành Long bấy giờ Hà Nội thật là huyền ảo, những cô gái Hà Nội thẹn thò e lệ sau các khung cửa từng làm cho các chàng trai, các anh bấy giờ bâng khuâng. Và yêu đủ thứ. Trước 1945, Nguyễn Thành Long đã có bài viết in trên Thanh Nghị. Có thể nói là anh đã yêu nghề, say nghề văn từ đây. Và suốt chín năm kháng chiến, ở khu Năm nhưng những kỷ niệm về đời sống văn học ở Hà Nội không thể phai mờ, cho nên, khi ra tập kết, anh cảm thấy thoải mái, như trở lại với quê hương gia đình mình.


Còn lớn tuổi hơn cả Nguyễn Thành Long, là Nguyễn Văn Bổng. Trước cách mạng, chủ yếu anh dạy học ở Huế, và có viết bút ký, truyện ngắn cho tạp chí Thanh Niên ở Sài Gòn, Thanh Nghị ở Hà Nội, Nguyễn Văn Bổng kể:


- Hè 1946, tôi ra Hà Nội, đến với tạp chí Tiền Phong gặp các anh Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Xuân Diệu… Trụ sở Hội văn hoá cứu quốc và tạp chí Tiền Phong hồi bấy giờ ở 40 Quang Trung. Các anh đã biết tôi qua một vài bài tuỳ bút hồi trước 1945, tuy nhiên đối với các anh, tôi vẫn là người rất mới. Ngày trước, giữa một tên tuổi như Xuân Diệu, Nguyễn Tuân với chúng tôi mới vào nghề, khoảng cách rất xa, xa đến ngao ngán. Sau Cách mạng tháng Tám, gần lại dần. Vào kháng chiến, gọi nhau bằng đồng chí, tình trở nên ấm áp.


Chúng ta thấy gì qua những lời “tự thú” này? ở đó, có niềm ngưỡng vọng chân thành đối với những giá trị của Hà Nội văn học (mà tiêu biểu ở đây là Nguyễn Tuân, Xuân Diệu), một cái gì như là có chút tự ti. Và ở đó, cũng có chất reo vui, khi cảm thấy đời mình từ nay đã gắn chặt với nền văn hoá đó.


Đây cũng là tinh thần toát ra qua bài viết của Nguyễn Văn Bổng, tường thuật Đại hội văn hoá toàn quốc in trên Tiền phong, 1946.


Nhập vào đám đông tập sách đầu tay của Nguyễn Văn Bổng cũng in ra ở Hà Nội. Sách gồm có một số bút ký nói suy nghĩ của tác giả trước những đổi mới cách mạng trong đời sống. Sách do nhà xuất bản Hoa Lư của Lưu Quang Thuận cho in. Tiếc rằng, chưa kịp phát hành khi tiếng súng kháng chiến bùng nổ, tập sách không còn giữ được bản nào.


Một buổi sáng cuối thu đầu đông 1946, Nguyễn Văn Bổng đã ra ga Hàng Cỏ, tiễn các nhà văn Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Lạp lên tàu, vào với các mặt trận ở Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên. ít lâu sau, chính Nguyễn Văn Bổng cũng từ giã thủ đô quay trở về với Đà Nẵng tham gia kháng chiến. Mãi 1950 anh mới có dịp ra Việt Bắc họp một lần, và 1953… ra họp lâu hơn, rồi ở lại luôn Việt Bắc, đi cải cách ruộng đất. Thành thử cùng với Kim Lân, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, đến tháng 10-1953 tác giả Con trâu lại ở trong đoàn cán bộ trung ương về tiếp quản thủ đô. Lần này Nguyễn Văn Bổng đến với Hà Nội với tư cách nhà văn đã có tác phẩm được nhiều người biết. Tư thế có khác. Nhưng tình yêu của nhà văn với Hà Nội thì trước sau vẫn là nguyên vẹn.


Một người đồng hương với Nguyễn Văn Bổng và Nguyễn Thành Long là Phạm Hổ, kể với chúng tôi:


- Mãi đến 1946, tôi mới có dịp ra Hà Nội, nhưng trước đó, một người anh tôi là học sinh trường Bưởi mỗi lần nghỉ hè trở về vẫn kể với tôi về sinh hoạt thủ đô nên không phải là tôi không có ấn tượng gì về miền đất thú vị này. Cái mà anh tôi lưu ý tôi nhất: Hà Nội là nơi người ta học hành, sinh hoạt văn hoá có nhiều sâu, nên thanh niên cầu tiến ra đấy có lợi lắm. Cố nhiên là khi tôi ra, ấn tượng của tôi về đời sống nghệ thuật Hà Nội vẫn đậm nhất. Tôi nhớ cửa hàng Bách hoá thiếu nhi bấy giờ còn mang tên Quán nghệ sĩ. Vào đấy người ta được thưởng thức tài nghệ của Nguyễn Xuân Khoát bên cây vi-ô-lông, Bùi Công Kỳ trước pi-a-nô và nhiều bậc thầy khác. Đúng như anh Bổng có nói, hồi ấy những tên tuổi này đối với chúng tôi là rất cao xa, tôi chỉ chiêm ngưỡng, nhưng chính vì thế, càng thấy thiết tha với nghệ thuật.


Lần ấy Phạm Hổ định ra học trường võ bị Trần Quốc Tuấn nhưng yếu sức khoẻ, phải quay về. Suốt mấy năm kháng chiến, anh ở khu 5. Có điều, một tình yêu chân thành với thủ đô vẫn “làm tổ” trong anh và hiển hiện ra bằng đủ cách. Chẳng hạn, mê tiếng Hà Nội, thấy người nào nói tiếng Hà Nội chuẩn đều bâng khuâng muốn được nghe mãi không thôi. Trung ương chính phủ năm ấy ở Việt Bắc, nhưng Đài tiếng nói Việt Nam vẫn sử dụng tiếng Hà Nội. Nghe đài, lại nhớ thủ đô!


1955, Phạm Hổ ra tập kết. Theo ấn tượng mà anh ghi nhớ được, thì thủ đô lúc ấy phải nói là rạng rỡ trong một sức sống mới.


Cũng theo nhận xét của Phạm Hổ thì, với việc trở lại Hà Nội sau 1954, sáng tác của nhiều nhà văn khu Năm cũ có thay đổi. Khương Hữu Dụng như trẻ lại mà Tế Hanh ngày một “chín” hơn (đặc biệt phải kể tập thơ Gửi miền Bắc). Võ Quảng từ một cán bộ chính trị, nay trở thành nhà văn nổi tiếng viết cho thiếu nhi, và để lại cho bạn đọc trẻ tuổi cả nước ấn tượng rất đậm về vẻ riêng của quê hương (Quê nội, Tảng sáng). Từ những miền quê hương khác nhau của Nam Bộ ra tập kết, những Hoàng Văn Bổn và Nguyễn Quang Sáng, Bùi Đức ái và Đinh Quang Nhã… cũng sẽ bắt đầu viết nhiều, viết khoẻ hơn, khi nhập vào không khí văn học thủ đô, và trở thành những cây bút chủ công trong cuộc chiến đấu chống Mỹ. Có một dạo báo chí và làn sóng điện Đài phát thanh ở ta truyền đi nhiều bài tuỳ bút Anh Đức gửi Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân gửi Anh Đức. Sau một thời gian ra Bắc, nay nhiều nhà văn quê khu 5, quê Nam Bộ đã trở lại quê hương, nhưng nhiều người vẫn thường hướng về Hà Nội để trò chuyện, tâm sự.


 


Nguyễn Quang Sáng


Tìm hiểu quá trình vào nghề của nhiều nhà văn, chúng ta thường thấy có những giai đoạn người viết ở vào chỗ ngã ba đường. Do một hoàn cảnh nào đó, mình cũng có tập viết tí truyện ngắn, ít bài thơ, nhưng đây đâu có phải là nghề mà mình định theo từ nhỏ, chẳng qua hoàn cảnh, đẩy tới thì làm! Nhiều người đã dự định sẽ dễ dàng chia tay với văn học ở quãng ngã ba này. Nhưng rồi lại do hoàn cảnh xô đẩy và nếu đó là hoàn cảnh thuận lợi cho sự sáng tác, chẳng hạn gặp một số bạn bè quen, trong không khí văn học đang mời mọc – người ta lại dấn thêm một bước nữa. Kết quả, ăn chịu với nghề, và có thể xoa tay mà tuyên bố rằng, tí nữa thì từ giã cái nghề mà thật ra, hợp với mình hơn cả.


Nguyễn Quang Sáng là một trong những trường hợp như thế. Nguyên hồi kháng chiến chống Pháp, anh  chỉ mới viết một ít truyện ngắn hoặc những bài báo nhỏ in trên báo Quân đội nhân dân miền Tây. Tập kết ra Bắc ít lâu, anh được chuyển ngành. Trước mắt, Nguyễn Quang Sáng mở ra mấy khả năng. Một là, đi vào con đường thể thao. Bạn anh, Hoàng Văn Bổn chuyên đánh vô-lây, Nguyễn Quang Sáng từng giật giải nhất về bóng bàn ở đơn vị. Nên vào đây chăng? Hai là, đi học thêm văn hoá (như Nguyễn Ngọc Lượng, một bạn học cũ của Nguyễn Quang Sáng, sau đi học ở Cộng hoà dân chủ Đức). Ba là đi viết văn. Nghĩ một hồi, Nguyễn Quang Sáng chọn con đường thứ ba.


Truyện ngắn vào nghề của anh là Con chim vàng in ở báo Văn Nghệ. Thế là từ nơi đơn vị cũ là Sầm Sơn, Thanh Hoá, anh trở đi trở lại nhiều lần với Hà Nội, và bước vào văn học với những bước vững chắc.


Nếu Con chim vàng là tác phẩm ra mắt của Nguyễn Quang Sáng, thì tác phẩm tương đối chín của anh trước 1965, tác phẩm mà đến nay anh “ưng” nhất, là Đất lửa Nhưng tiểu thuyết này cũng đã thu hút không biết bao nhiêu tâm sức của tác giả, và quá trình hoàn chỉnh tác phẩm, cũng là quá trình Nguyễn Quang Sáng tiếp xúc rộng rãi với giới viết văn thủ đô.


Một trong những người đọc Đất lửa đầu tiên là Nguyễn Huy Tưởng. Ông Tưởng coi là Đất lửa có chất  tiểu thuyết và rất khuyến khích Nguyễn Quang Sáng. Nguyễn Tuân cũng thích, Nguyễn Tuân bảo…”Tôi thấy cậu nên tả cho nó ra cái dòng sông quê hương hơn nữa”. Kim Lân, Nguyên Hồng đều cho nhận xét cụ thể. Có buổi Nguyễn Quang Sáng mang ra đọc để mọi người nghe ở Cổ Tân, có cả Hoàng Trung Thông dự.


Một lúc nào đó, Nguyễn Quang Sáng đã có thể tự nói với mình, là giá không ra Hà Nội, không bao giờ anh trở thành nhà văn cả. Không khí văn học ở thủ đô những năm 1958-1960 đã thực sự trở thành một hoàn cảnh tốt, giúp cho tài năng của Nguyễn Quang Sáng nẩy nở toàn diện.


Để hiểu về tâm tư các nhà văn khu Năm – Nam Bộ tập kết ra Hà Nội sau 1954 và sự gắn bó đời văn của mỗi người với thủ đô, sau đây chúng tôi xin giới thiệu hai trường hợp cụ thể. Một là, đoạn “độc bạch:” của Nguyễn Thành Long và một là bài phỏng vấn nhà văn Đoàn Giỏi.


 


Hà Nội với tôi Nguyễn Thành Long


1.


Đến lúc tôi thành nghề, biết mọi những điều bí mật của đời những con người, muốn đặt cho cha tôi nhiều câu hỏi về cuộc đời của ông, thì ông không còn nữa. Làm sao ông là một người tầm thường mà lại yêu văn thơ không phải yêu mà thôi, mà tỏ ra còn có chút ít khả năng đó – và trong cảnh nhà nghèo  sự sa sút đã tới ở lì đuổi cũng không chịu đi nữa, ông vẫn mua cho tôi, và hàng ngày ông cũng đọc, những sách báo chủ yếu từ Hà Nội vào. Từ khi lên bảy, tôi đã mê Hà Nội qua văn thơ. Mê từ một bát bún riêu bốc khói đến một chiếc bánh đậu xanh tan dần trên đầu lưỡi. Mê từ một rặng cây bàng đổ lá đỏ đến một buổi sáng  gió lạnh đầu mùa. Có một người bạn – bản thân là một nhà thơ không thành – bảo tôi. “Các anh bây giờ viết văn xuôi giỏi hơn hồi đó nhiều”. Nhưng văn xuôi hồi đó về Hà Nội cuốn hút tôi như vậy.


Trường phổ thông tôi học ở Quy Nhơn gồm có mười lớp nối nhau, thành một đường thẳng. Tôi biết từ bé, cuối con đường thẳng đó là Hà Nội. Anh em cùng lớp phần nhiều viết như nói, thường thường để nhiều vết tích giọng địa phương, riêng tôi, sách báo giúp tôi sớm có giọng văn Bắc – câu phổ thông bây giờ. Không những thế, tôi đã thấy lờ mờ từ lúc nhỏ, mối quan hệ giữa mình với cái mình viết, không thể viết mà không thấy, viết mà không thành thật, viết mà lòng dửng dưng. Các bài tập là văn (“luận” – như tên gọi hồi đó) đều sớm mang cái quan niệm đó. Cũng như chuyện thường xảy ra cho nhiều nhà văn, tôi vừa đọc sách, vừa nhận định rằng mình, mình cũng có cái gì để nói, và lắm khi tôi bỏ cuốn sách đang đọc dở ra để thử viết chuyện mình. (Cái chuyện mình đây, từ lúc học cấp hai, đêm nào tôi cũng thức đến một hai giờ sáng để lần tìm nhưng mấy chục năm sau mới tưởng tìm thấy nó). Điều đáng ghi nhận ở đây là cách hai nghìn cây số Hà Nội đã ảnh hưởng đến tôi như vậy, và ý muốn ấy dần dần trở nên mãnh liệt. Cha tôi chạy vạc mặt để giúp tôi đi Hà Nội học, mỗi tháng gửi cho tôi sáu đồng.


Một buổi sáng mùa đông, trên chuyến tàu xuyên Việt tôi ra đầu toa, gặp một người bạn thân nhất của tôi ở đầu toa bên kia, hai đứa chúng tôi vẫn là hai đứa nhỏ nhất trong lớp, học với nhau từ bé. Anh cũng như tôi, tìm cách đi ngang, chúng tôi là một lớp chàng trai muốn lớn thật nhanh, không yên tâm đi từng bước một nữa. Hà Nội sẽ giúp chúng tôi học trước hết là giúp chúng tôi học. Năm ấy, chúng tôi vừa mười bảy. Và anh bạn tôi nay là nhà xã hội học.


Những năm Hà Nội trước cách mạng ấy, riêng tôi coi là một số những năm đẹp nhất đời tôi. Tôi cứ như  người được sống trong giấc mộng của mình. Những cảnh trí, những địa điểm mà tôi gặp trong sách báo, tôi đều tìm thăm hết. Tôi làm được một việc mà người Hà Nội cũng chẳng mấy người làm được là bỏ trọn một ngày chủ nhật để đi bộ một vòng quanh Hồ Tây. Tôi làm một việc ít người làm nữa là lại bỏ một ngày mang bánh mì theo để ăn và ở trong Văn Miếu. Hà Nội trong tôi trộn lẫn với văn thơ như vậy. Tôi học về văn hoá lúc ban ngày lúc ban đêm, lại có cái may được gặp những ông thầy cực giỏi như cụ Nguyễn Văn Tố chẳng hạn. Những thì giờ khác, ban ngày hay ban đêm tôi vào Thư viện quốc gia. Tôi đọc được nhiều sách thời kỳ này. Không khí Thư viện quốc gia thúc giục tôi làm việc, thúc giục tôi học, vì ở đấy bao giờ cũng đông, tôi biết số đông đều là nhân tài, đều dùi mài chăm chỉ cả, nhân viên rất tận tình và lễ phép. Đêm đêm đi học về, hay ở thư viện về, trên các đường phố Hà Nội vắng lặng, trăng sáng xanh thơm ngát mùi hoa sữa và hoa hoàng lan, cái cảm giác sung sướng của một người học trò nghèo nhưng tin chắc rằng mình có biết thêm hôm nay một điều gì mới, cái cảm giác sung sướng đó giờ vẫn còn vang vang trong tôi. Về nhà trọ, lên gác, nghe tiếng rao, tôi thả một chiếc giỏ con xuống, kéo lên một cốc cà-phê và một nửa chiếc bánh mỳ xúc-xích, tất cả giá ba xu – sáu đồng nhà gửi, ăn cơm tháng ba đồng, còn ba đồng cho phép tôi sự xa xỉ đó, và giờ đó, tôi bắt đầu tập viết, ở đây, vào năm mười tám tuổi, tôi viết bài tiểu luận đầu tiên đăng trên tạp chí Thanh Nghị là tờ báo của trí thức. Cũng năm này, tôi viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên nhan đề áo trắng mang đến Nhà xuất bản á Châu và gặp anh Hồ DZếnh.


Về sau, trong kháng chiến chống Pháp, lục tìm tủ sách của Yến Lan, tôi bắt gặp một chồng giấy cao kinh hoàng của Chế Lan Viên. Anh ra Hà Nội trước tôi mấy năm. Bao nhiêu anh em mà bấy giờ tôi chưa được biết nữa, cả một thế hệ đòi lớn gấp lên. Một hôm ở thư viện, ngồi trước mặt tôi, là một anh học sinh mặc áo dài đen, cổ quấn chiếc khăn len to sù, đang ngồi viết sách. Linh tính tôi đoán đây là Nguyễn Đình Thi, lúc bấy giờ anh còn đi học, nhưng đã nổi tiếng vì mấy cuốn sách triết học. Đến khi cùng nhau đến quầy lấy sách, tôi kiễng chân nhìn phiếu ghi của anh, thì ra Nguyễn Đình Thi thật. Về sau, hai mươi năm chống Mỹ, có dịp về ở chung một nhà, chúng tôi không thân nhau, nhưng rất lâu từ ngày đó, tôi tự hào đã biết tác giả Diệt phát-xít như thế, đến nỗi còn nhớ số nhà trọ của anh ở phố Huế mà chắc anh đã quên rồi. Đến nỗi tôi đã gửi cho anh bức thư của Đại tá Rốp-bơ, chánh kiểm duyệt Pháp gửi cho tôi về cuốn áo trắng không được in, hồi đó anh là trưởng ban điều tra tội ác của thực dân Pháp về văn hoá. Trong những năm trước và đầu cách mạng, anh là hình mẫu của tôi.


Tại đây, những ngày trước cách mạng tháng Tám, tôi chứng kiến cảnh đói khủng khiếp năm ất Dậu, ngươi ta vừa đi vừa ngã quay ra chết, và các hướng đạo sinh vội vã chở đi chôn những xe chất đầy xác, trong đống xác còn những người chưa chết hẳn. Tôi là một tráng sinh đó, ngày ngày xách rá đi xin mỗi nhà một nắm cơm để phát cho những người ăn xin đông nghịt ở phố Quán Sứ, đến lúc không còn gì để cho nữa thì chúng tôi bật khóc theo người ăn xin. Đến lúc chúng tôi những học sinh quê miền Trung, miền Nam sợ nạn đói lây cả đến bản thân mình, chúng tôi vội vã chạy về quê.


Rồi lại vội vã trở lại Hà Nội, vì Cách mạng tháng Tám đã bùng nổ. Chào mừng cách mạng, anh em trẻ chúng tôi cứ cuống quít lên vì cho rằng trang bị của bản thân mình không có gì để tham gia xây dựng xã hội vĩ đại mới. Chúng tôi luôn luôn bị giằng xé giữa hoạt động và học tập. Nhân một bài viết của tôi gần đây, anh Xuân Diệu nhận xét tôi cứ trở đi trở lại những câu hỏi viết cho ai? viết để làm gì? hoài. Quả thực, đó là băn khoăn rất lâu của tôi. “Khoa học, dân tộc, đại chúng” là tiêu đề một bài viết của tôi ngày ấy trên tạp chí Tân văn hoá ở Huế, và vấn đề đó cũng là nội dung một cuốn sách nhỏ nhưng khá đẹp của tôi (nhờ anh Lương Xuân Nhị vẽ bìa) nhan đề Chiến tuyến văn hoá, Nhà xuất bản Đời mới in để chào mừng cách mạng. Với những hoạt động ấy, tôi được mời dự Hội nghị văn hoá toàn quốc mùa đông năm ấy, ngồi cạnh Trúc Khê, Ngô Văn Triện và Trọng Hứa. Nhân dịp này, tôi cũng gặp lại Chế Lan Viên mà tôi đã đi vào chỗ thân tình năm trước ở Quy Nhơn. Lúc nào tôi cũng xúc động khi nhớ tới hình ảnh anh đưa tay ngang tai chào đoàn biểu tình của quần chúng đi qua. Mới một năm mà Chế đã có vẻ được rèn luyện nhiều, tư tưởng ổn hẳn. Anh là một nhà thơ, còn tôi chỉ mới là một người học trò nhiều tham vọng nhưng chưa có kinh nghiệm gì.


Tôi lần lượt ra ga tiễn những đoàn quân Nam tiến, ngày càng đông, vào để chiến đấu ở quê tôi. Tôi lần lượt tiễn các bạn tôi về miền Trung. Ngay lúc vang lên những tiếng nổ tàn sát của thực dân Pháp ở phố Hàng Bún, tôi đang ở ngoài ga. Những ngày trước, tôi đã sung vào một đội tuyên truyền xung phong khu Bẩy mẫu. Tám giờ năm phút tối 19 tháng 12 năm ấy, đèn tắt phụt , ầm lên một tiếng dữ dội, thế là cuộc kháng chiến bắt đầu. Tôi chui qua tường từng dẫy phố tôi ở phố Duy-vi-nhô (nay là Triệu Việt Vương), chỉ có một câu nghĩ lại buồn cười, rỉ tai mọi người để động viên bà con “ Ta đánh trước đấy mà!” Đêm ấy là một đêm rất đẹp, tôi còn nhớ. Dưới mặt đất, đang diễn ra những sự việc anh hùng, trên cao sáng rõ một trời sao. Khuya, hiện lên ở phía Tây thủ đô một vầng trăng  lưỡi liềm như bằng bạc, có ba ngôi sao chầu ba bên, rõ là chữ Tâm mà Nguyễn Du tả trong Truyện Kiều. Tôi quyết định lên đường đi bộ về Nam chiến đấu ở quê hương.


 


 


II.


Vậy đó mà tám năm tôi mới trở lại Hà Nội. Đối với tôi, cuộc trường chinh tám năm đi chống Pháp là để trở lại Hà Nội hôm nay và mãi mãi, viết văn mãi mãi.


Trở về Hà Nội, lần này, tôi có một căn buồng riêng, là căn buồng, ba mươi năm đã qua, tôi vẫn ở bây giờ, trong kháng chiến chống Pháp, tôi xuôi ngược nhiều, loay hoay nhiều và tưởng đã tìm ra một số bí quyết. Về Hà Nội, tôi nhận ra nhanh chóng những cái mình đạt được còn thấp xa so với nhiệm vụ của mình, nếu mình lấy việc viết làm nhiệm vụ, và căn buồng của tôi ba mươi năm liền thấy tôi gồng sức để có thể từ một người viết trở nên một nhà văn, theo đuổi kịp bạn bè. Căn buồng này quen thuộc hết bạn bè của tôi, thường nhìn thấy tôi hếch cái mặt đần độn của mình lên mà nghe chuyện, đến lúc tiễn bạn về xong, kín đáo ghi vào sổ tay một ý gì mình vừa nhặt được, nó có khi thực sự là thành quả của tôi ngày hôm đó. ở Hà Nội, bao giờ cũng có những người bạn cho mình học nghề, những người bạn có khi thật trẻ cũng có khía cạnh đáng cho mình học. Và tôi nhận ra nhanh chóng sáng tác bao giờ cũng có nghĩa là viết về một địa phương nào, nhưng muốn viết về địa phương nào thì viết, sáng tác của anh phải được Hà Nội sàng lọc và công nhận, những người đánh giá đó là tập thể những người sành có nhiều ôm ấp như những người bạn của tôi.


Căn buồng của tôi cũng còn ghi nhớ những kỷ niệm về những độc giả, về sau trở nên nhân vật của tôi họ từ miền Nam lúc còn đen tối ra, hay từ các công trường ở miền Bắc tới, kể cho tôi nghe chuyện của họ, và tôi thấy thế nào cũng phải viết những chuyện đó, đó là một bổn phận. Nhà người thợ giặt, bây giờ tôi có thể nói được không, là một dị bản mà một mô-măng của cuộc đời Trần Thị Lý gợi cho tôi, và Sáng mai nào xế chiều nào thoát từ câu chuyện anh Dinh, giám đốc mỏ T, gợi cho tôi đúng ngày giải phóng quê hương.


Căn buồng này lại trông thấy tôi khi nào sống được là chẳng mấy khi chịu ở nhà, đi có thể nói khắp nơi trong nước, có những nơi rất hẻo lánh, tôi tưởng trong đời chỉ đến một lần không ngờ đến lần thứ hai, rồi thứ ba. Tôi nghĩ nếu buộc chân tôi lại, không cho tôi đi thực tế nữa, thì cũng cầm bằng buộc tôi vào cái thế phải tuyệt đường sinh đẻ. Tôi nghĩ rằng trong mỗi truyện ngắn của tôi viết về các địa phương, bao giờ cũng có mặt một nhân vật Hà Nội, nhân vật đó là tôi. Tôi đã cho lăn trái tim người Hà Nội của tôi đến các nơi ấy, nghe phản ứng của nó và viết. Tôi tự nhận là một nhà văn Hà Nội, mặc dù tôi chưa viết được gì nhiều. Có một lần, về nhà, tôi được bà hàng xóm giao lại một bức thư kèm theo một món quà. Thư viết “Tôi vừa đọc truyện Người Hà Nội của anh đăng trên tạp chí Tác phẩm mới. Anh hãy tiếp tục viết như thế”. Tôi ơn người viết thư suốt đời, Hà Nội có những độc giả tuyệt vời và chờ mong chúng ta như vậy. Chúng ta tiến tới nhờ những người đó. Tôi ở Hà Nội nửa đời người, nhưng chưa viết được cái gì về Hà Nội đáng giá. Nhưng tôi không mạo muội khi nói rằng chính là nhờ Hà Nội mà tôi trở nên người cầm bút phục vụ cho đất nước. Nghề nghiệp bao giờ cũng là cái hạnh phúc cao nhất của tôi và đối với người viết văn, nơi nào giúp anh làm  tốt nghề anh, nơi ấy thực sự là quê quán, cho nên đối với tôi, không gì sẽ thay thế được căn buồng 20 mét 300 của tôi. Tôi muốn bè bạn, sách vở, nếp làm việc, nếp suy nghĩ đó tiếp tục giúp tôi sinh nở ngày nào tôi còn sống.


(Trích)


(còn tiếp)


Nguồn: Nhà văn hôm nay với Hà Nội (Kể chuyện đời sống văn học). Ký của Vương Trí Nhàn

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đông Tây cổ học tinh hoa (3) - Vũ Bằng 05.08.2019
Đông Tây cổ học tinh hoa (2) - Vũ Bằng 05.08.2019
Đông Tây cổ học tinh hoa (1) - Vũ Bằng 05.08.2019
Nói có sách (tiếp & hết) - Vũ Bằng 05.08.2019
Điếu văn tại Lễ truy điệu Nhất Linh - Vũ Hoàng Chương 01.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (5) - Huỳnh Quang 30.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (4) - Huỳnh Quang 30.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (3) - Huỳnh Quang 25.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (2) - Huỳnh Quang 25.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (1) - Huỳnh Quang 25.07.2019
xem thêm »