tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29929146
07.10.2010
Vương Trí Nhàn
Nhà văn hôm nay với Hà Nội (4)

Tô Hoài


Không kể thời gian kháng chiến chống Pháp và không kể những đợt đi công tác ngắn ngày, thì từ nhỏ đến giờ, Tô Hoài luôn luôn sống ở Thủ đô. Tính đến đầu 1985, ông từng viết 43 cuốn sách về Hà Nội. Ngoài sáng tác văn học, có lúc ông còn trực tiếp làm công tác đường phố. Hiện Tô Hoài đang là chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội.


Những chi tiết ấy nhiều người đã biết, cũng như phần lớn chúng ta đã biết hai chữ Tô Hoài là do Tô Lịch và Hoài Đức ghép lại. Một người như Tô Hoài mà có viết nhiều về Hà Nội là chuyện đương nhiên! Giữa Thủ đô và một đời như đời văn của Tô Hoài, quả là có một mối quan hệ đặc biệt.


Tô Hoài hay kể: ông đến với nghề văn một cách rất giản dị, và bước đầu vào nghề, không thấy có gì mới lạ hơn, so với những nghề khác, như nghề bán giày ở một đại lý cho hãng Bata hay nghề dạy trẻ học mà bạn bè ông thường làm. Đại khái một lần, đi phủ hộ đê, thấy cảnh canh đê, “trống giục trống dồn”, “người lớn và trẻ con rúc ráy bên vệ cỏ” Tô Hoài liền viết truyện Nước lên gửi đăng ở Hà Nội tân văn của Vũ Ngọc Phan.


Nếu có thể nói vào nghề, có nghĩa là viết truyện in ra được trả tiền cẩn thận thì Tô Hoài vào nghề bằng truyện ấy. Có điều, khi đến với nó, ông vẫn có được sự bình thản, không cuống lên vì hoang tưởng, không quá choáng ngợp.


ở đây, có những lý do thuộc về cá tính riêng của Tô Hoài. Nhưng một phần quan trọng khác cũng là  do hoàn cảnh. Ông lớn lên và đi học ở quê ngoại vùng Nghĩa Đô. Từ nhỏ, không những đã quen với Kiều, ca dao, mà còn quen với Tứ dân văn uyển, Văn đàn bảo giám, và các loại truyện dịch Chinh đông Chinh tây, Tam hạ nam đường… Dù là gia đình chỉ làm nghề thủ công, nhưng bước vào tuổi thanh niên, Tô Hoài cảm thấy không có gì xa lạ với mọi tờ báo ở Hà Nội, và Sài Gòn lúc ấy: Nước non, Cậu ấm, Mới, Tiểu thuyết thứ năm, Tiểu thuyết thứ bảy.


Mới hai mươi mốt tuổi, ông đã viết câu chuyện nổi tiếng về chú Dế Mèn, trong đó cảnh bờ sông Tô Lịch với những vườn nhãn, ao chuôm, con gà ri, đôi chuột bạch… là những khung cảnh gần với ông  ở làng Nghĩa Đô của ông. Cả tư tưởng của một chàng thanh niên mới lớn lên, thích sống độc lập lại cũng thích phiêu lưu như ông diễn tả trong Dế mèn… đều là tư tưởng bao trùm trong nhiều thanh niên thời kỳ 1940-41.


Tô Hoài lại sớm viết hồi ký. Trong tập Cỏ dại in ra từ 1944, ông lấy chuyện gia đình, họ hàng mình để kể. Gần đây (1978). Tô Hoài có tập Tự truyện, kể lại những bước đường tư tưởng của mình khi mới đến với nghề văn.


óc quan sát tinh tế và tỉ mỉ đã giúp cho Tô Hoài nhớ và ghi được nhiều chi tiết về cuộc sống ở Hà Nội. Ông đính chính hộ nhiều người những cái nhầm lẫn, vì như nhiều người cứ nghĩ chung quanh Hồ Gươm: nhiều liễu, hoá ra bây giờ còn mỗi một cây, v.v. Ông lại giúp cho chúng ta tự tìm hiểu thêm về những địa điểm trong sinh hoạt thành phố (chẳng hạn, tại sao gọi là Vườn hoa canh nông?). Rồi, nguồn gốc  nem cuốn ở đâu? Nghề làm giấy ở Bưởi đòi hỏi người thợ thủ công trước đây phải khéo léo, vất vả thế nào?


Xét về thời gian lịch sử, ta thấy Hà Nội đã được Tô Hoài theo dõi liên tục, từ khi Pháp mới sang (Quê nhà) cho tới những năm ba mươi, bốn mươi và kết thúc bằng Cách mạng tháng Tám (Mười năm). Đó là phần ngoại thành, vùng Nghĩa Đô, Bưởi và quá lên vùng Cầu Giấy, Từ Liêm, Hoài Đức, Tô Hoài rất quen.


Về nội thành, những xóm rác ven hồ Bảy Mẫu cũ, đầu hoà bình lập lại được ông phác qua trong Những ngõ phố và một số nét sinh hoạt Hà Nội hồi đánh B52 được ông vẽ nên trong Người đường phố (cả hai tiểu thuyết đều được in ra 1980)


Viết về ngoại thành, ngòi bút ông lui tới một cách thoải mái đã đành. Ngay viết về nội thành, Tô Hoài vẫn rất ung dung. Ông không hay tả Hà Nội nhà cao cửa rộng. Trước cách mạng, khu nội thành được ông miêu tả như một nơi không thiếu gì chuyện nhảm nhí, nơi có nhiều nhân vật rất kỳ cục, nào me tây, nào nặc nô hiệu cầm đồ, đủ thứ. Từ 1954 đến nay, bà con hàng phố sống với nhau gần gũi, đầm ấm như người trong một gia đình. Thành phố nhấp nhô những dãy nhà một tầng thấp, bên trong mỗi nhà xanh lên những giàn hoa lý, cây cảnh, cây, cây hoa mộc trong chậu.


Thành phố với những mái lợp phi-brô xi măng trắng, hay những miếng giấy dầu đen nhoáng, cạnh cửa sổ vải hoa treo dò phong lan tai trâu xanh dày… Đấy là Tô Hoài trực tiếp tả. Một đoạn khác (trong Người đường phố) ông còn để cho một nhân vật nói thẳng:


- Kẻ chợ mà đủ phố Hàng Bừa, Hàng Bún, Hàng Mụn, Lò Rèn… tức là cái gốc nhà quê rõ rồi.


Cái gốc nhà quê này của Hà Nội không làm cho nhân vật khó chịu. Trái lại, họ nói thế, dễ dàng thấy gần với Hà Nội hơn, cái Hà Nội là của mình, và cùng với tác giả, tìm ra vẻ đẹp của phố xá.


Nhân vật chính trong bút ký Nhớ quê của Tô Hoài là một thanh niên Hà Nội đứng vào đội quân Nam tiến, và nghĩ trong lúc này: “Chúng ta còn ở Hà Nội làm gì?”


Trong tiểu thuyết Những ngõ phố, người đọc lại bắt gặp một trường hợp khác, một gái nhảy của Hà Nội cũ, nay đi tham gia xây dựng các công trường ở miền Tây Tổ quốc, và nghĩ rằng phải đi xa, cái tình của mình với Hà Nội mới trọn vẹn.


Bản thân Tô Hoài cũng vậy. Chúng ta đã nói bao giờ “hộ khẩu chính” của ông cũng là Thủ đô, nhưng từ trước cách mạng ông đã có nhiêu chuyến giang hồ vặt, đi khá xa, tận Huế, Sài Gòn. Bây giờ, ông còn bay đi xa hơn. Ngoài Hà Nội, ông còn một vùng quê nữa để viết là các tỉnh miền núi Tây Bắc, Việt Bắc. Hai cái chất thật đối lập nhau, Hà Nội và núi rừng. Nhưng với Tô Hoài, hai nơi đó đều gần gũi tự nhiên, như đâu cũng là quê ông. Thành thử lại có thể nói về phương diện nữa của chất Hà Nội trong Tô Hoài: Khả năng thích ứng mạnh mẽ. Có cảm tưởng đi đâu ngòi bút ông cũng hoạt động được. Tô Hoài thật đã giống như bao nhiêu người có thời gian ở Hà Nội rồi, thì đi đâu cũng khéo gây dựng cơ nghiệp, sắp xếp nhà cửa, khiến cho cuộc sống mình được nên cơ ngũ, gia đình mình trở thành có nền nếp.


Bao nhiêu người Hà Nội, sau những năm kháng chiến ở lại Việt Bắc, hay Nam Định, Thanh Hoá đã sống như thế. Lại bao nhiêu gia đình ngoại thành Hà Nội, đi xây dựng miền núi, những năm sau 1954, đã sống như thế.


Chúng ta vừa nói Tô Hoài đến với nghề một cách bình thản. Nhưng sau khi đã có một quan niệm sòng phẳng thế rồi, nghề văn ở Tô Hoài lại được nhìn nhận khá tỉ mỉ. Nói đây là chuyện để cả đời người ta làm, cũng không phải quá đáng. Từ chuyện lẩn mẩn người ta ăn, người ta mặc thế nào, đến chuyện suy nghĩ tư tưởng một thời… đều phải lắng nghe, để mắt tới. Lúc nào cũng lo tích luỹ, nhặt nhạnh. Và viết, viết rất đều tay, không chờ cảm hứng, không viết theo những cơn nóng lạnh bất thần. Chẳng hạn ai đã làm nghề văn đều biết, gọi chung là viết, nhưng công việc rải ra đủ thứ, người chuyên viết ngắn, người chuyên viết dài, người chỉ sáng tác cho người lớn đọc, người thâm canh ở khu vực viết cho thiếu nhi. Thậm chí, nói đến cùng, cũng phải thấy là trong nghề người ta hay có thành kiến: Việc này người mới vào nghề mới đáng làm, người lâu năm trong nghề không nên làm. Việc này dở, việc kia mới sang trọng v.v…


Tô Hoài không thế, ông viết đủ thứ, miễn thấy cần làm là làm, không chọn việc. Đấy chính là một đặc điểm của ngòi bút Tô Hoài, nó khiến cho nhiều người nhìn ông phải khâm phục.


Nói cho đúng ra, trong cái việc mà chúng ta gọi một cách quy ước là “làm nghề” chăm chỉ, thành thạo, ở Tô Hoài không phải chỉ có sự đều tay, sự chuyên cần, mà còn có cái mau mắn duyên dáng, nó khiến cho ông cả khi viết những tiểu thuyết dài lẫn những bài báo ngắn đều có được cái giọng riêng. Những khi phải tả Hà Nội, Tô Hoài vừa có cái  kỹ lưỡng từ trong nói ra, lại có cái tươi mới như vừa gặp vừa thấy.


Sở dĩ như vậy, theo tôi, một phần do trước sau Tô Hoài vẫn giữ được cái hóm, cái nghịch cần thiết cho những “Người ven thành” luôn luôn phải đi lên thành phố để làm đủ các loại việc, rồi ít ngày sau, lại bỏ đấy, bắt sang những công việc khác, mà lúc nào cũng giữ được cái thế của người đứng ngoài, đứng hơi xa một chút, để nhận xét cho thấu đáo, lên thành phố, những người này phải rất hoạt bát để bán được hàng, tìm được việc, mà lại khỏi bị những người hàng phố lừa. Và lên đấy phải nghe ngóng, tích luỹ, phải có nhiều điều tai nghe mắt thấy, để về còn kể cho bà con hàng xóm, hoặc con cháu trong nhà. Bởi vậy, nên cái chân dung thành phố do những con người này vẽ nên bao giờ cũng tươi mới, giàu chi tiết, kích thích sự tò mò của người khác.


Trong cuốn Nguời đường phố trên kia đã nhắc (cũng như trong nhiều tập sách khác, trong đó có Chuyện cũ Hà Nội) Tô Hoài kể ra một số vùng ngoại ô  với những nghề nghiệp cha truyền con nối, lên làm ăn ở thành phố. Cổ Nhuế, thợ may, hàng thầu; Thủ Lệ, giặt là; Lai Xá, thợ ảnh; Thanh Nhàn, cắt tóc; Thuỵ Khuê, xôi lúa, quà vặt v.v… và v.v… Quả ngoại ô Hà Nội là một “thế giới” phong phú. Trong “thế giới” đó, cũng có sự phân công lao động rất tỉ mỉ, khiến cho từng người làm nghề trở thành những người nghệ sĩ tài hoa và hết lòng với nghề, được mọi người kính trọng. Từ các làng xóm chung quanh nội thành, người đi viết văn, viết báo xưa nay không phải ít, nếu kể ra các vùng quê mới cắt từ Bắc Ninh, Hưng Yên, Sơn Tây, Hà Đông để nhập vào Hà Nội, thì số tác giả của Thủ đô thật là nhiều. Song có lẽ chỉ có Tô Hoài là mang được cái chất riêng của vùng đất mà mình đã từ đó trưởng thành. Và giữ được cái chất đó, trong suốt cuộc đời cầm bút.


 


Nguyễn Huy Tưởng


Với Những người ở lại, Luỹ Hoa, Sống mãi với Thủ đô… Nguyễn Huy Tưởng là một trong những người xứng đáng nhất với danh hiệu nhà văn Hà Nội. Những thành công chính của ông đều gắn với đề tài này. Lại nữa, trong khi viết về thủ đô, ông biết mang lại cho sinh hoạt nơi đây một vẻ trang nghiêm, một không khí lịch sử, nó là cái sắc thái cần thiết cho suy nghĩ của người ta về thủ đô mọi nước nói chung, và rất tiêu biểu cho Thủ đô Hà Nội nói riêng.


Đời sống văn học Thủ đô những năm Nguyễn Huy Tưởng mới bước vào nghề đã giúp một phần trong việc khẳng định những đặc sắc ấy của nhà văn.


Bấy giờ là thời kỳ 40- 45. So với mấy năm trước, đời sống văn học Hà Nội có cái gì trầm xuống, không sôi nổi như thời 36-39. Nhưng để bù lại, nó có bề sâu. Hàng loạt tạp chí nghiên cứu ra đời Thanh Nghị, Tri Tân… Công tác biên khảo các sách thuộc các bộ môn khoa học xã hội, như biên khảo lịch sử khá phát triển. Tại sao? ở đây có vai trò của yếu tố dân tộc đang nẩy nở mạnh trong suy nghĩ của nhiều người, nhất là tầng lớp trí thức. Một người như Đinh Gia Trinh chủ trì tờ Thanh Nghị đã viết vào 1944.


“Cuộc phục hưng ở xứ ta, khởi đầu bằng một sự lựa chọn ôn tồn giữa hai nền văn minh á Đông truyền thống và văn minh Tây phương mới nhập tịch (…) rồi nó đi đột ngột tới sự khinh miệt cái di sản tinh thần ở nước nhà, sự ca tụng quá đáng và thiết tha những gì Âu Tây mang lại (thời Phong hoá- Ngày nay). Nay thái độ bồng bột ấy thay đổi và bọn trí thức đã trở lại tôn trọng những di sản của đất nước, những tinh tuý của văn minh châu á, trong khi tin tưởng càng mạnh là phải học nhiều của Tây phương để đi tới sự thành công trong việc xây dựng một nền tư tưởng và một nền nghệ thuật Việt Nam xứng đáng”.


Trên cái nền chung của đời sống văn học như thế này, những xu thế sẵn có ở Nguyễn Huy Tưởng thời thanh niên được nâng đỡ và bồi đắp thêm. Đó là lòng yêu nước, tinh thần tự hào vì truyền thống dân tộc. Cộng với vốn kiến thức chắc chắn về lịch sử và ảnh hưởng của những sáng tác mà Nguyễn Huy Tưởng say mê, như Chiến tranh và Hoà bình của Tôn-xtôi, Gia đình Ti-bô của Rô-giê Mác-tanh đuy Ga, có thể nói những tiền đề có những sáng tác như Vũ Như Tô,  Đêm hội Long Trì… đã khá đầy đủ. Dĩ nhiên là trong những tác phẩm này Hà Nội đóng vai trò một thứ nhân vật trung tâm, như Hà Nội đã là đối tượng được miêu tả trong Ngược đường Tràng Thi và Bà Chúa Chè của Nguyễn Triệu Luật ngày xưa, trong Bóng nước Hồ Gươm của Chu Thiên gần đây?


ở nước nào cũng vậy, một phần đáng kể tiểu thuyết lịch sử liên quan đến thủ đô, vì thủ đô là nơi tập trung mọi cơ quan quyền lực của Nhà nước, là nơi chứng kiến mọi sự hưng vong. Thủ đô bao giờ cũng được ghi chép nhiều hơn cả trong những công trình nghiên cứu lịch sử, và Nguyễn Huy Tưởng, như các nhà tiểu thuyết lịch sử khác đã phải dựa chắc vào đấy, trước khi để cho trí tưởng tượng của mình phát huy hết tiềm lực vốn có.


Nhà văn Kim Lân kể:


“ Nguyễn Huy Tưởng biết nhiều về Hà Nội. Hà Nội mới, Hà Nội cũ, Hà Nội kháng chiến và Hà Nội những năm xa xưa thời Lê, thời Trịnh… Mỗi lần đi dạo các hè phố với anh, tôi thường được nghe anh kể chuyện Hà Nội.”


Trong Tự truyện, khi nhắc lại lần họp của nhóm Văn hoá Cứu quốc ở làng Tây Hồ, Tô Hoài không quên ghi lại những liên tưởng, phỏng đoán của Nguyễn Huy Tưởng “Đò này là thuyền rồng của vua tôi Trần Thánh Tông đi chơi Hồ Tây”. “Ngày trước , Hồ Xuân Hương ở Tây Hồ, chắc phiên chợ thì sang chợ Bưởi bán chỉ và mua tơ về đánh chỉ. Thế nào nàng thơ cũng qua bến đò ngang này”.


Có vẻ như Nguyễn Huy Tưởng đã tìm thấy mảnh đất riêng của tác giả, và anh em bè bạn trong nghề viết cũng khuyến khích để cái phần chuyên sâu ấy của Nguyễn Huy Tưởng ngày một chín hơn.


Vậy là chúng ta đã khẳng định Nguyễn Huy Tưởng viết nhiều bằng những cái ông đọc, bằng những liên tưởng đối chiếu giữa kiến thức trong sách vở với từng trải trong cuộc đời.


ở nước nào trên thế giới cũng có kiểu nhà văn như thế này, nhà văn có vốn liếng tư chất của nhà nghiên cứu, công việc chuẩn bị ở họ khá lâu. Nhưng thông thường, họ làm nghề rất bền. Cũng phải nói thêm là chỉ ở những trung tâm văn hoá lớn, có các thư viện tàng trữ đủ sách vở có các mặt công tác nghiên cứu hỗ trợ, thì người viết văn mới có điều kiện để làm công việc chuẩn bị một cách đầy đủ, tỉ mỉ và làm hết những dự định của mình. Cả ở đây nữa, cũng thấy Nguyễn Huy Tưởng gắn bó với Hà Nội là do những thúc ép nội tại từ chính các ý đồ sáng tác ông hằng ôm ấp.


Sau cách mạng, Nguyễn Huy Tưởng không chỉ viết về các chuyện  lịch sử, mà còn viết ngay về những mảng đời sống xảy ra ngay hôm nay như cuộc chiến đấu ở Hà Nội tháng chạp 1946 trận Cao-Lạng giải phóng biên giới, hoặc Cải cách ruộng đất. Một mặt, như các nhà nghiên cứu đã chỉ rõ trong khi viết về những sự kiện đương thời, Nguyễn Huy Tưởng vẫn biết phát huy thế mạnh vốn có, ông thường mang lại cho các sự kiện ngày hôm nay một vẻ nghiêm trang, như các sự kiện lịch sử. Mặt khác, ta cũng có dịp chứng kiến khả năng quan sát, những rung động của ngòi bút Nguyễn Huy Tưởng. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với chúng ta, nhất là ở những trang Nguyễn Huy Tưởng miêu tả phố xá.


Đọc Sống mãi với Thủ đô, có thể bắt gặp một Nguyễn Huy Tưởng quen thuộc. Khi qua miệng một nhân vật, ông ca ngợi rừng bàng Yên Thái hay bến trúc Nghi Tàm “hàng vạn cây trúc thân vàng soi bóng xuống nước hồ biếc”… Nhưng cũng rất thú vị là những đoạn Nguyễn Huy Tưởng tả Hà Nội hôm nay. Cũng như Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng rất thuộc khu trung tâm thủ đô, đặc biệt là chung quanh hồ Hoàn Kiếm, quãng từ Hàng Đào, chợ Đồng Xuân trở lên, và thường tả các sinh hoạt ở đó với rất nhiều trìu mến. Lý do trước 1945, các đại lộ lớn hiện nay như Bà Triệu, Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, nghĩa là nửa phía Nam từ Bờ Hồ trở xuống là khu phố của người Pháp và các công chức cao cấp, các nhà thật giầu có. ở địa vị một công chức yêu nước như Nguyễn Huy Tưởng mặc dù rất thích các vòm cây Hà Nội ở các đại lộ kia, nhưng ông cảm thấy thoải mái hơn hẳn khi trở về với các phố Hàng Đào, Hàng Bạc trên này.


Nói chung, cách nhìn nhận, xem xét Hà Nội của Nguyễn Huy Tưởng đằm thắm, đôn hậu, và phải nói là ông tả được những nét sang trọng, lịch sự của thủ đô. Sang trọng, lịch sự mà vẫn yêu nước, ghét Tây, và không sa đà vào thứ văn chương trưởng giả của cánh Tự lực văn đoàn. Hà Nội đã vào văn ông, làm nên toàn bộ hồn cốt đường nét trong văn ông. ảnh hưởng đó là rất lớn.


 


Một số hoạt động văn hoá cứu quốc


Trở nên, chúng ta đã nói rõ sự gắn bó của nhiều nhà văn trước 1945 với Hà Nội, về mặt nghề nghiệp. Nhưng từ sau 1930, truyền thống Hà Nội còn đồng thời là truyền thống cách mạng. Bởi vậy, sự gắn bó của các nhà văn với Hà Nội từ đây trở đi, sẽ có thêm sắc thái hào hùng, rất đáng ghi nhớ.


Một sự kiện thường được nhắc nhở. Cuộc biểu tình ngày 1-5-1938.


Nguyên trước đó, trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ, Đảng Cộng sản Đông dương đã có những cơ quan ngôn luận của mình ở Hà Nội như tờ Thế giới, tờ Tin tức, tập hợp chung quanh mình một số cộng tác viên. Nguyên Hồng, Hồ Xanh, Nguyễn Thường Khanh (Trần Mai Ninh), Như Phong v.v…. Nhiều nhà văn nhà báo khác, tuy không viết cho các báo nói trên, nhưng ít nhiều đã chịu ảnh hưởng của Đảng, có nhiều sáng tác đứng về phía những người cần lao là quần chúng công nông nghèo khổ.


Trong tình hình đó, cuộc biểu tình ngày 1-5-1938 giống như một cuộc biểu dương lực lượng của những người lao động Hà Nội. Trong cuộc biểu tình này, lực lượng những người viết văn, viết báo tham gia rất đông.


Theo Nguyên Hồng kể lại, thì ông nhớ là nhà giáo Nguyễn Công Hoan hôm ấy đeo băng đỏ giữ trật tự. Nguyễn Tuân đứng bên Lưu Trọng Lư, Phùng Bảo Thạch bên Vũ Ngọc Phan, Tô Hoài lúc ấy chưa thuộc nghiệp đoàn những người viết văn, viết báo nhưng cũng có mặt trong đoàn quân thất nghiệp. Cuộc biểu tình có hai vạn người dự này là một sự kiện đáng ghi nhớ cuối những năm ba mươi. Một người như Nguyễn Tuân sau này còn hay nhắc lại, như một kỷ niệm đẹp.


Đến thời kỳ từ 1943 trở đi, thì các sự kiện lại còn dồn dập hơn nữa.


Khoảng tháng 3-1943 (theo trí nhớ của Học Phi), Vũ Quốc Uy, Như Phong và Học Phi có buổi họp đầu tiên ở nhà một cơ sở đầu phố Hàng Đường, để triển khai cuộc vận động các văn nghệ sĩ hoạt động theo đường lối của Việt Minh.


Từ buổi họp này, nắm được chủ trương, Như Phong và Vũ Quốc Uy sẽ xâu chuỗi thêm những người khác: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Nam Cao, Nguyễn Đình Thi, Trần Huyền Trân, v.v


Mùa thu  năm 1943, Đề cương Văn hoá được chính thức gửi về để các đồng chí trong Văn hoá cứu quốc nghiên cứu và thảo luận chung. Các buổi họp thường tiến hành ở nhà Vũ Quốc Uy, 124 phố Phó Đức Chính có đồng chí Lê Quang Đạo, bí thư thành uỷ viên lúc đó về dự, và hướng dẫn, rồi sau ở nhà Tô Hoài (có đồng chí Trần Độ, đồng chí Mười Hương, phái viên của Trung ương về hướng dẫn).


Quán triệt tinh thần bản đề cương đến đâu, thì hoạt động của mọi người càng sôi nổi đến đấy. Điều mà mọi người tha thiết là làm sao có được một tờ báo và một nhà xuất bản làm cơ quan tập họp dư luận. Trong hai việc này, công việc làm xuất bản có vẻ thuận lợi hơn. Anh em định tranh thủ một cơ sở xuất bản là nhà Bách Việt, “Với ông chủ con trẻ, rất hiền lành, tin và nghe Tô Hoài như tin và nghe mục sư hay cha đạo” (Nguyên Hồng), đã ra được Chuyện Hà Nội của Vũ Ngọc Phan, Xóm giếng của Tô Hoài. Trong Xóm giếng đại khái có những đoạn:


“Người ta ước ao làm một trận mưa rào. Mưa rào xuống cho lòng hả hê và cho trời quang đãng. Những cái gì bực tức được gạt bỏ. Trong khoảng mênh mông xanh nhởn kia sẽ phủ một không khí tốt lành và tự do”.


Đó là một cách nói bóng gió để khẳng định và ao ước: cách mạng sẽ tới.


Ngoài ra, còn Nhà xuất bản Mới, nơi đã in Tạp văn của Đặng Thai Mai Ngọn lửa của Nguyên Hồng… Nhưng công việc tiến hành trầy trật, sách ra loi thoi, giấy xấu, chỗ thủng, chỗ mọt đủ thứ. Không có việc gì kéo được lâu dài.


Chỉ có một điều chắc chắn, chúng ta có thể ghi nhận. Đó là, ngay trong lòng cái sinh hoạt văn học khá đa dạng ở Hà Nội, yếu tố cách mạng vẫn nảy sinh, Thủ đô là nơi để nhiều thanh niên vào với nghề văn, nay lại là nơi để các ngòi bút đó chuyển biến, sẵn sàng đi theo tiếng gọi yêu nước của cách mạng.


Các nhà văn – những người đã hình thành bản sắc ngòi bút của mình trên báo chí về thị trường xuất bản ở Hà Nội nói chung – suy nghĩ ra sao, khi tiếp xúc với đề cương, và đứng trong hàng ngũ văn hoá cứu quốc?


Tô Hoài hay nói: “Trên sóng cát cuộc đời, mình đã từng sống mãi kiếp phong trần, vật vờ, vào đâu nên đấy của con phù du” . Nay gặp Đảng của giai cấp, mới thành người. Không rẻ nghề, chán nghề, coi đây chỉ như nghề bán giầy, thư ký kế toán… mà  thấy nghĩa vụ của người cầm bút là thiêng liêng cao quý”.


Nguyên Hồng vốn đã đến với nghề văn một cách say sưa, lại tìm cho ngòi bút của mình những nồng nhiệt hơn nữa, và tình cảm lại bốc lên mạnh mẽ hơn  bao giờ hết, khi hiểu mình sẽ viết để phục vụ cách mạng. Hà Nội là nơi Nguyên Hồng đã đến để tìm liên lạc với các báo Tin tức, Thế giới, hồi Mặt trận bình dân. Hà Nội là nơi đến những năm 1943 – 1944, sau khi đi tù về, Nguyên Hồng lại lên để tìm liên lạc với Như Phong, Vũ Quốc Uy, Tô Hoài, Nam Cao. Chính ở Hà Nội mà Nguyên Hồng được Như Phong chuyển cho đọc bản Đề cương văn hoá.


“ Tôi còn nhớ bản Đề cương viết chữ tay nhỏ xíu khổ giấy nhỏ chỉ bằng bàn tay gồm có tám trang. Như Phong đưa cho tôi vào một ngày mùa rét 1943 ở nhà một anh bạn làm kịch ở Hà Nội, nơi đây chúng tôi vừa lấy làm địa điểm liên lạc, vừa làm chỗ tụ họp của những anh em văn nghệ sĩ chỉ muốn sống làm văn học nghệ thuật không thôi. Chiều chiều Như Phong và tôi đi phố trao đổi ý kiến với nhau.”


Nguyên Hồng kể trong hồi ký như vậy. Và khi đã có được niềm tin sâu xa ở thắng lợi tất yếu của cách mạng, con mắt nhà văn nhìn Hà Nội khác hẳn, không phải chỉ thấy Hà Nội lầm than như xưa mà giờ đây (những ngày chuẩn bị cách mạng) là một thành phố đầy sức sống.


“Cả Hà Nội ầm ĩ rần rật, nung nấu… Con sông Hồng ở bên kia đường trước cửa nhà tôi ngồi viết càng cuồn cuộn, ì ầm phù sa nước lũ. Chiều chiều, các đỉnh Tam Đảo, Ba Vì mây trắng lung linh, rực rỡ, vang âm, như có cờ bay, quân trẩy, súng dậy ngựa reo… Hà Nội như một ngõ núi lửa rình phục”.


Sống trong lòng một Hà Nội sục sôi khi thế cách mạng, khi viết Buổi chiều xám, Nguyên Hồng cảm thấy ngọn bút tung hoành như chưa bao giờ được như thế: Khi Buổi chiều xám được đăng trong Tiên phong dù không còn cái nông nổng như khi mới vào nghề, nhà văn vẫn nghe nước mắt vỡ ra ở trong lòng mình.


Một đồng chí cùng tổ văn hoá cứu quốc với Nguyên Hồng bấy giờ là Trần Huyền Trân. Một buổi chiều, khi ở toà soạn Tiểu thuyết thứ bảy ra về, đang đi trên phố Hàng Da, thì Trần Huyền Trân gặp Như Phong đi tới rỉ tai “Có chỉ thị mới đây” rồi đưa cho Trần Huyền Trân một điếu thuốc lá. Tác giả Độc hành ca về đọc, và nghiền ngẫm. Đó là Đề cương văn hoá. Ngay đêm hôm ấy, hết sức hứng khởi Trần Huyền Trân làm bài thơ Gió gác Sơn Nam. Như trên đã kể, Sơn Nam là cái ngõ Trần Huyền Trân ở chung với Thâm Tâm, Nguyễn Bính. Ba cái bóng gầy nói dưới dây cũng vẫn là ba người bạn thân ấy.


Gió lên về gác Sơn Nam


Ao thơ gió lạnh, đèn tàn gió bay


Trang thơ lộng gió thèm bay


Ba ta ba chiếc bóng gày – đèn khuya


Đêm dài tù túng đi về


Ngọn đèn trang giấy cùng chia cái nghèo


Dầu hao, bấc lụi, gió vèo


Cháo rau ấm bụng, thơ gieo ấm lòng


Gác Sơn Nam, gác đèo bòng


Có ba mái tóc bồng bềnh bên nhau.


Gió đời chưa nổi biển dâu


Gió trời thổi mãi mái đầu nằm mơ


Đêm nay – thật lúc bất ngờ


Bỗng dưng bão nổi khi vừa rạng đông.


Sức lôi cuốn của Đề cương văn hoá với văn nghệ  sĩ Hà Nội lúc ấy thật mạnh mẽ. Có người như Hồng Nguyên (Nguyễn Văn Vượng) không thấy nói trong các tài liệu chính thức là thuộc về nhóm trung tâm của Văn hoá cứu quốc, nhưng theo nhà văn Vũ Cao còn nhớ, hồi đầu 1945 trước khi từ giã Hà Nội vào Thanh Hoá, Hồng Nguyên đã đưa cho Vũ Cao một số tài liệu nhờ cất giữ hộ, trong đó có bản Đề cương văn hoá.


Thôi Hữu là một chiến sĩ nồng nhiệt khoảng 1943 đã từ các tỉnh miền trong chuyển ra Hà Nội và làm nhiều công tác. Nhà thơ Tế Hanh kể năm 1943, nhân ra Hà Nội học một thời gian ngắn gặp Thôi Hữu (hai người đã từng biết nhau ở Huế). Thôi Hữu có đưa cho Tế Hanh đọc ít tài liệu bí mật, và đối với Tế Hanh, đó là một tí kỷ niệm về Hà Nội. Trong Tự truyện, Tô Hoài, cũng đã nhắc nhiều đến Thôi Hữu (Tân Sắc). Theo cách trình bày của Tô Hoài thì hồi đó, hoạt động của Thôi Hữu khá rộng, ông quan hệ sâu và kỹ với các tổ chức cách mạng ngoại thành hơn là giới những người làm văn, làm báo.


Lại còn trường hợp Như Phong. Nhà văn này vốn nguyên quán Hà Nội, từng có hoạt động từ hồi Mặt trận dân chủ, và là một trong những thành viên đầu tiên của Văn hoá cứu quốc. Sau này, nhân đọc Sóng gầm ông còn diễn tả lại cảm giác về những nỗi kinh hoàng mà cuộc sống của những thành phố lớn để lại trong tâm lý lớp thanh niên như ông trước 1945. Lúc thấm thía sâu sắc nỗi kinh hoàng đó cũng là lúc Như Phong cả quyết đi theo cách mạng.


Trở lại với các hoạt động chung của Văn hoá cứu quốc. Từ sau khi Nhật-Pháp bắn nhau, tình hình càng ngày càng khẩn trương. Có lần, có cuộc họp liên tịch nhiều nhóm văn hoá cứu quốc ở xóm Cung, giữa làng Tây Hồ, bất chấp cả lính Nhật lúc nào cũng tuần tiễu, sục sạo. Có lần họp ngay ở căn gác nhỏ phố Phù Đổng Thiên Vương. Rồi lần về nhà người chị Nguyễn Huy Tưởng ở bên Dục Tú, Đông Anh, bàn làm tạp chí Tiên phong trong bí mật (khi làm xong thì vừa Tổng khởi nghĩa, báo ra công khai luôn. Rồi về làng Vạn Phúc họp, bầu đại biểu đi dự Quốc dân đại hội ở Tân Trào. Trong lòng Hà Nội, một số nhà văn, nhà báo thực sự bắt tay vào việc chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa 19-8


(còn tiếp)


Nguồn: Nhà văn hôm nay với Hà Nội (Kể chuyện đời sống văn học). Ký của Vương Trí Nhàn


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
Na Hang: Sắc nước hương trời - Trần Mai Hưởng 30.09.2019
Nhìn mưa, nhớ Nguyễn Ngọc Ly - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Trúc Cương - Liêu xiêu một đời - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Ngôi sao xa xôi thưở ấy - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Sun Group, Địa Ngục Tự - Bài 2: Dấu chấm hỏi về 'vòng tròn khép kín' ở Tam Đảo II - Nhiều tác giả 26.09.2019
Điều tra độc quyền: Sun Group, Địa Ngục Tự và ma trận chiếm lĩnh rừng quốc gia Tam Đảo - Nhiều tác giả 23.09.2019
Nguyên Ngọc con người lãng mạn - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2019
xem thêm »