tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28883415
06.10.2010
Vương Trí Nhàn
Nhà văn hôm nay với Hà Nội (3)

Mạnh Phú Tư – Chế Lan Viên


Tế Hanh – Bùi Hiển


Ra với Hà Nội để vừa học, vừa viết, có khi ban đầu chưa phải đã định sống với nghề viết, nhưng do ở Hà Nội thấy nghề này hấp dẫn quá, thú vị quá mà đi vào lúc nào không rõ – đấy không chỉ là trường hợp của riêng  Xuân Diệu, mà của nhiều cây bút khác, trước cách mạng.


Chẳng hạn như Mạnh Phú Tư. Vốn quê ở Hải Dương, ông ra Hải Phòng học trước, rồi sau học ở Hà Nội, và vừa dạy từ các gia đình, vừa viết văn. Nhờ cuốn Làm lẽ (1940) được giải thưởng Tự lực văn đoàn, ông mới tiếp tục viết những cuốn khác Sống nhờ, Gây dựng, Nhạt tình, v.v…


Hoặc như Chế Lan Viên. Đến nay nhiều người còn nhắc đến chuyện thời ấy, một vụ hè, Chế Lan Viên ra đây “bám” Thư viện trung ương chỉ để đọc sách. Tờ báo phát hiện ra ngòi bút Chế Lan Viên là tờ Bắc Hà của nhóm Trần Huyền Trân, Thâm Tâm. ít lâu sau, thi phẩm Điêu tàn đánh dấu sự trưởng thành của Chế Lan Viên cũng được in ở Hà Nội.


Lại có trường hợp như Tế Hanh. Tuy chỉ ra Hà Nội ít ngày rồi về ngay, nhưng có thể nói khi đi học. Tế Hanh vẫn sống với không khí thơ ở ngoài này, nhờ thế, tập Nghẹn ngào có gì rất gần với những tập thơ khác xuất hiện đương thời.


 


Và đây, một trường hợp nữa, nhà văn Bùi Hiển. Theo như ông kể với chúng tôi, thì từ 1935-36, khi đnag đi học ở Vinh, ông đã sống với không khí văn học của Hà Nội. Hàng tuần cứ đến thứ năm là có chuyến tàu chở sách báo Hà Nội vào, độ 8 giờ tối thứ năm đã thấy bầy bán ở các hiệu sách lén của thành phố Vinh, và Bùi Hiển bao giờ cũng phải tìm ngay những tờ báo đó để đọc.


“Đúng là Hà Nội toả sáng trong tôi” – Bùi Hiển nhận vậy. Ông mê những tác giả đương thời nổi tiếng in trên báo chí thủ đô, đến mức có lần ngồi chép lại một đoạn văn của Nguyễn Công Hoan mà ông rất thú. Ngôn ngữ Hà Nội quả là tuyệt, có thể nói tiếng Hà Nội là tiêu biểu cho vẻ đẹp của tiếng Việt. Một vài câu ca dao dẫn vào giữa trang truyện như mấy câu:


Lẳng lơ thì cũng chẳng mòn,


Chính chuyên cũng chẳng sơn son mà thờ


Vũ Trọng Phụng dẫn trong Cơm thày cơm cô, đối với Bùi Hiển, cũng đã là bài học.


Mặc dù chỉ viết về những truyện ở tỉnh nhỏ lúc ấy, hoặc về những người dân chài vùng biển, nhưng Bùi Hiển bao giờ cũng cố gắng để có một ngôn ngữ uyển chuyển, dung dị, người các vùng khác cũng có thể hiểu được. Và giới văn học Hà Nội rất hiểu những cố gắng đó của Bùi Hiển. Ngày nay và Trung bắc chủ nhật, Tiểu thuyết thứ bảy và Thanh Nghị, báo nào mà Bùi Hiển có bài gửi tới, cũng khuyến khích ông làm việc, nhiều khi còn cho đăng truyện ngắn của ông với những đoạn giới thiệu ngắn gọn, trang trọng.


Đến nay, mấy chục năm đã qua, nhưng Bùi Hiển có thể sung sướng mà nói rằng Hà Nội đã phát hiện ra mình. Cái nỗi niềm hân hoan của một người viết văn ở một tỉnh nhỏ, khi lần đầu đến với một nhà xuất bản ở Hà Nội làm việc về tập truyện ngắn đầu tay của mình, nỗi niềm đó thật suốt đời người ta không thể nào quên nổi!


Từ đây đến chỗ bỏ gia đình quê hương lên Hà Nội, sống hẳn với nghề văn bước đường không còn bao xa.


Tuy nhiên, cái điều xảy ra với nhiều người, không xảy ra với Bùi Hiển. Ông sống ở Vinh cho đến khi cách mạng mới ra họp hội nghị văn hoá toàn quốc, rồi trở về, hoà nhập vào không khí kháng chiến của quê hương.


Nguyên Hồng.


Có một nhà văn, đến nay đã mất, chúng tôi không thể tiến hành phỏng vấn, trong sự nghiệp văn học của nhà văn đó, thường thấy nói đến Sáu Kho, Hạ Lý những  xóm nghèo ở Hải Phòng, nhưng sự thật tình yêu của nhà văn này với Hà Nội cũng rất nồng nhiệt, và đã được kể lại một phần qua các hồi ký.


Nhà văn đó là Nguyên Hồng.


Khi còn đang tuổi thiếu niên đã có lần cậu bé Nguyên Hồng 13-14 gì đó, từ bỏ gia đình ở Nam Định, một mình lên Hà Nội. Lúc đó, gia đình cậu gặp khó khăn, bố chết, mẹ đi lang bạt kiếm ăn đâu tận Thanh Hoá. Là học sinh lớp nhì, có dạo cậu có thể kiếm ra tiền bằng cách viết thư hộ những người hàng xóm có người thân đi lính sang Tây, hoặc đi cao su, đi phu Tân Đảo, song vẫn không đủ ăn. Nhân nghe có người anh làm chân chữa bản in ở nhà in Viễn Đông, cậu mò lên, để nhờ anh xem có xin được việc gì không. Nhưng “nhảy dù” “ăn vạ” ở nhà người anh một ít lâu, cậu hiểu ngay ở đây không sao kiếm ra việc, và những ý định sẽ bám vào đây để sống, mua mía, mua bưởi bán rong lần hồi, hoặc đi theo một gánh xiếc nào đó, như kiếp sống của nhân vật chính trong Không gia đình rút cuộc, ý định đó cũng là một cái gì hão huyền: cậu lại phải ra tàu thuỷ trở về Nam Định phiêu bạt đi các nơi khác.


 


Đúng là Hà Nội đã từ chối cậu bé. Nhưng không phải vì thế mà Nguyên Hồng cảm thấy có thể xa nổi cái thành phố tuyệt vời này, vì ở đó còn có sách vở, báo chí, những gì thuộc về văn học sẽ gắn với cả đời mình. Có lần bị tù rồi được tha, trên đường từ Phúc Yên về quê, chỉ ghé qua Hà Nội mà Nguyên Hồng đã như mê đi, bước chân đưa đẩy qua không biết bao nhiêu nơi, hồ Hoàn Kiếm, Hàng Đào, Hàng Buồm, nhà ga, Gô-đa, Tràng Tiền… Cái mà người thanh niên này mê nhất là sách. Nói theo ngôn ngữ của nhà văn Nguyên Hồng về sau phải nói, đó là những cuốn sách thiêng liêng, toả sáng.


 


Về với Nam Định, rồi Nguyên Hồng cùng gia đình ra Hải Phòng, từ đó, bắt đầu vừa dạy tư, vừa gửi bài vở lên các báo ở Hà Nội.


 


Năm 1939, một sự việc làm chấn động tâm tư người thanh niên mười chín tuổi: Ông chủ nhiệm Tiểu thuyết thứ bảy kiêm chủ nhà xuất bản Tân Dân gửi thư cho nhà văn trẻ, báo rằng từ nay sẽ coi Nguyên Hồng là cộng tác viên chính thức, có trả tiền cẩn thận (trước đó nhà xuất bản chỉ in cho là may, chứ đâu đã có nhuận bút!) Nguyên Hồng lại như mê man đi với bức thư ấy. ý nghĩ phiêu diêu đủ thứ, nhưng cuối cùng, đọng lại trong một dự định: phải lên Hà Nội học thêm và trở thành một người viết cho đàng hoàng.


 


Gia đình lo lắng, sợ lên đấy, nhà văn trẻ sẽ đua đòi, hư hỏng đi, trong khi đó cứ ở Hải Phòng, vừa dạy tư, vừa viết thế này đã sống được rồi.


 


Nhưng Nguyên Hồng không chịu. “Ôi, Hà Nội, kinh đô ngàn năm văn vật! Tôi sẽ lên sống ở đấy đem cả tuổi xuân của mình chọi lại với cái quyến rũ, thách thức, lừa lọc”.


 


Và Nguyên Hồng xách một hòm gỗ ra ga lên Hà Nội thật. ở nhờ vào một ngôi đền, gần chợ Châu Long; và ăn, thì ăn ở các hàng cơm của phu phen, thuyền thợ.


 


Lần ấy, Nguyên Hồng chỉ ở Hà Nội mấy tháng, rồi nhớ Hải Phòng, ông lại trở về thành phố cảng. Nhưng ông đã thành người của cái nghề này rồi, nghề viết văn. Chẳng những thế, trong giới những người viết văn, ông lại sớm hiểu mình phải dùng ngòi bút để phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng quần chúng cần lao mà ông đã tự nguyện gắn bó.


 


Và thế là ông vẫn sẽ thường xuyên có mặt ở Hà Nội để liên hệ với những báo chí tiến bộ như Thời trẻ, Bạn dân, để làm quen với các đồng chí như Tô Hoài, Như Phong, và để dự những cuộc đấu tranh lớn như cuộc biểu tình ngày 1 tháng 5 năm 1938, hoặc các hoạt động của Văn hoá Cứu Quốc.


 


Từ đây, cái nhìn của Nguyên Hồng về Hà Nội rất rạch ròi. Ông xa lạ một thứ kinh thành hoa lệ của bọn nhà giàu. Nhưng ông càng thêm yêu một Hà Nội khác, Hà Nội tranh đấu. Hà Nội đầy sức sống.


 


“Chiều hôm ấy (chiều 1-5-1938 – V.T.N. chú) dịu nắng thì có gió. Trời mây và các mặt nước Hồ Tây, hồ Hoàn Kiếm, các đường cây, các tầng khối kiến trúc, các ống khói, các nhịp cầu, các bờ bãi sông Hồng cùng với phù sa chảy lư lừ đang đợi các lũ nguồn chưa bao giờ lại đẹp, rực rỡ trong nắng chiều và gió thổi lộng như bây giờ. Các đường phố Hà Nội như đang có một thứ máu mới dạt dào vậy”.


 


Về sau, cũng có một dạo, Nguyên Hồng cùng gia đình ở hẳn Thủ đô. Đấy là năm 1943, khi Hải Phòng bị ném bom gia đình ông chạy về Hưng Yên một hai tháng, thì lên Hà Nội, lần này, ông thuê nhà ở bãi Nghĩa Dũng. Nhà ở chật chội, đâu có một gian nhà tranh hai chục mét vuông thì nhà chủ đã kê chiếc khung cửi mất một nửa, còn một nửa mới cho thuê. Vậy mà Nguyên Hồng rất vui. Chung quanh ông vẫn là một Hà Nội lầm than, Hà Nội của người nghèo. Và dù đây là cuộc sống Thủ đô, nhưng vẫn rất gần thiên nhiên. Nhà cửa trống trải, nắng gió bao giờ cũng sẵn. Lại gần sông nước, tha hồ ra đấy mà giặt dũ, đến nước để ăn cũng không phải nước máy, mà là nước sông gánh về đổ đầy vại rồi đánh phèn. Thì ra, không phải ngẫu nhiên mà các nhà thơ trẻ những năm 70, 80, sau này còn ca ngợi Hà Nội với hương cốm vòng với những gánh rạ đi vào thành phố. Từ ba bốn chục năm trước, đấy đã là nguồn cảm hứng chi phối Nguyên Hồng và nhiều nhà văn khác.


 


Cố nhiên, bên cạnh những giờ phút say sưa với thiên nhiên, thì cái đập vào đầu óc Nguyên Hồng ngày ấy vẫn là một Hà Nội nhếch nhác, đau khổ, và khi bị ném bom, khi nạn đói đổ tới, thì càng thảm hại hơn. Ngòi bút Nguyên Hồng lại có dịp cực tả, từ những đống người đắp chiếu bên đường, đến cả thành phố ốm o, bệnh tật trông nhiều nhà như bỏ hoang hay có người điên bị giam giữ, người ốm yếu bại liệt đang hấp hối”. Nhiều trang của Nguyên Hồng (trong Địa ngục, Lò lửa, và các tập hồi ký) gợi chúng ta nhớ tới những bức ảnh chụp sọ người chết đói chồng thành đống lớn của Võ An Ninh. Cả hai đều là những chứng tích có ý nghĩa lịch sử.


Sau hoà bình lập lại (1964), gia đình Nguyên Hồng vẫn ở trên ấp Sậu – một vùng quê Hà Bắc, nhưng ông vẫn đi về công tác ở Hội Nhà văn, với các anh em khác. Những lúc rỗi rãi, ông lại cùng với Kim Lân, Tô Hoài đi dạo phố, nhất là lên mạn chợ Bắc Qua, nơi người các tỉnh mang hàng về sôi nổi, tập nập. Nguyên Hồng cảm thấy đấy là một Hà Nội đầy sức sống, khiến niềm say mê của ông không bao giờ dứt, và ông có thể hoà mình vào đó thật thoải mái.


 


Trần Huyền Trân – Thâm Tâm – Nguyễn Bính


Tuy đã từng viết nhiều về những cảnh sống cùng cực về các tầng lớp dân nghèo Hà Nội, một Hà Nội lầm than đau khổ, nhưng nhiều nhà văn trước cách mạng thật ra chúng chưa đến nỗi nào lắm. Họ thường là dân làm báo hoặc dạy tiểu học, sống không sung túc, thì cũng tạm đủ ăn. Đôi khi họ phải cúi xuống, mới thông cảm được với các tầng lớp mà xã hội lúc đó gọi là hạ lưu. Thậm chí có trường hợp như người ta đồn đại về Tam Lang: để viết Tôi kéo xe đâu nhà báo này đã phải làm giả phu xe, cũng đi thuê xe để hành nghề, từ bỏ những món thỏ nấu với rượu vang quen thuộc để ăn những bữa cơm hẩm chan xáo lòng bò như mọi phu xe, khiến cho nhà phê bình Vũ Ngọc Phan, phải nghi ngờ “Người ta bảo cái đầu đề Tôi kéo xe là sai, vì cái thân thể tác giả mà nhiều người đã biết, tác giả không thể nào cầm hai càng xe được”.


Nhưng ngay trong lòng Hà Nội, thường cũng có một lớp người viết sống rất nghèo khó, như dân thất nghiệp, họ lam lũ làm văn làm báo như người khác cày thuê cuốc mướn. Báo của họ bán không chạy, sách in ra không gây được tiếng vang gì lớn. Nhưng họ vẫn gắn bó với nghề, với Hà Nội, và vừa sống vừa viết một cách thanh thản.


Lớp nhà văn vô sản này đại khái như Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Nam Cao, Tô Hoài.


Trong một bài phát biểu, nhân dịp 40 năm Đề cương văn hoá, nhà thơ Trần Huyền Trân kể:


- Ngày ấy tôi thường đi dạy tư và làm báo, viết truyện để sống, để có tiền đỡ thêm cho mẹ tôi nuôi các em tôi còn nhỏ vì cha tôi đã mất từ hồi tôi chín tuổi.


Vì quá chật chội trong túp lều vó dựng trên một ao bèo đầy nước cống mà người ta gọi là đầm Liên Hoa cạnh làng Văn Chương ở phía sau miệng Cống Trắng giữa dãy phố Khâm Thiên, túp lều mà ông dượng  – người chồng sau của mẹ tôi – dựng lên để ngày đêm kéo vó kiếm ăn, tôi với Thâm Tâm bèn thuê một căn gác nhỏ trong ngõ Sơn Nam cạnh đầm để ở. Sau này có thêm Nguyễn Bính ghé tạm cùng nương náu với chúng tôi trong thiếu thốn lần hồi.


Như vậy, đây đúng là một người gốc gác Hà Nội, và làm thơ, viết văn để diễn tả cái vang động của Hà Nội trong lòng mình, bắt rễ vào Hà Nội, điều đó ở ông đã trở thành thân phận, thành kỷ niệm riêng.


Bóng đơn đi giữa kinh thành


Nhìn duyên thiên hạ nghe tình người ta.


Trần Huyền Trân là người của thân phận bọt bèo, là người sống giữa Hà Nội (trước cách mạng) mà không thấy đây là Hà Nội của mình và thái độ trong thơ bao giờ cũng là thái độ không chấp nhận đời sống. Nhà thơ đứng đối lập với thế giới phù hoa chung quanh. Thỉnh thoảng, trong đám phù hoa ấy cũng có những bà, những cô ngó ngàng một chút tới thân phận nhà thơ, nhưng Trần Huyền Trân đã phản ứng đến cùng (bài Hỏi bà, với những câu kiểu như: Hay gì bà hỏi đến tôi – Khóc thì trái thói mà cười vô duyên.v.v…) Thơ Trần Huyền Trân vì thế xót xa, phẫn nộ, đau đớn, đơn độc một cách đầy khí phách.


Như các tài liệu lịch sử văn học (chẳng hạn, các tác giả viết Từ điển văn học, 1984) đã chỉ rõ Nguyên Hồng làm thơ sớm, từ khi mới có phong trào thơ mới. Bản thân ông lại có quan hệ riêng với Tản Đà, từng có bài thơ kể chuyện uống rượu và tâm sự với tác giả Khối tình con. Vậy mà, những thơ truyện in trên Tiểu thuyết thứ bảy không mấy khi được nhắc nhở hình như giới văn học chính thức ở Hà Nội, trước cách mạng vẫn chưa chính thức công nhận thơ Nguyên Hồng (đến nay 1985 tập thơ riêng của ông mới được xuất bản!). Song càng như thế, thơ Nguyên Hồng càng có khí phách. Đó là những bằng chứng về một khía cạnh khác của Hà Nội, Hà Nội lầm than nhưng cứng cỏi, nghèo túng nhưng vẫn hào phóng và giữ được nhân cách, tóm lại là một Hà Nội mà bọn giàu có trọc phú, thậm chí những kẻ nông nổi, tầm thường không dễ chấp nhận.


Hai người cùng thân phận với Nguyên Hồng lúc ấy là Thâm Tâm và Nguyễn Bính.


Thâm Tâm quê Hải Dương theo gia đình lên thủ đô từ nhỏ, học tiểu học cũng ở Hà Nội. Còn Nguyễn Bính mới từ Nam Định, Hà Đông lang bạt lên sau. Nhưng dù lên với Thủ đô sớm hay muộn, thì họ đều khổ. Giữa lòng kinh thành gió bụi, cuộc sống của họ nhiều khi rất bấp bênh và chỉ bởi lẽ thế nào cũng sống không tủi với cái nghèo, lại biết nương tựa vào nhau nên mới sống được.


Về đời riêng của Thâm Tâm, ngày nay chúng ta còn biết rất ít. Theo sự ghi nhớ của một ký giả đương thời, thì ông là người “đa bất mãn hoài”. Ông sống rất nghèo, hay phải đi vay tiền trước những chủ báo, chủ xuất bản mà ông viết thuê, để rồi không được thì rất ngượng, rất đau, và càng sinh phẫn.


Trong sáng tác, giữa Trần Huyền Trân và Thâm Tâm có những nét chung. Mặc dù không làm nhiều thơ, Tâm Tâm vẫn tạo được một ấn tượng sâu đậm “gấp” “gắt” (chữ của Hoài Thanh. Thi nhân Việt Nam trong bài Vọng nhân hành. Bài thơ nói tâm trạng chí khí của lớp người đầy phẫn uất, như Thâm Tâm, Trần Huyền Trân và bạn bè cùng nhóm. Họ “từ tứ chiếng” họp lại. Họ hiểu rằng những lời thơ thống thiết của mình có thể có ích cho xã hội “Rằng đương gió bụi thì tôi tả – Thiên hạ phải dùng thơ chúng ta” Nhưng thời thế đâu đã tới với họ.


Thơ ngâm dở giọng thời chưa thuận


Tan tiệc quân anh, người nuốt giận


Chim nhạn chim hồng rét mướt bay


Vuốt cọp chân voi còn lận đận


Toàn bộ những dằn vặt, những đau đớn này – gắn chặt với Hà Nội. Mở đầu bài thơ đã có nhắc: “Thăng Long đất lớn chí tung hoành – Bàng bạc gương hồ ánh mắt xanh”. ở một đoạn sau, lại láy lại: “ Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch – Ta ghét hoài câu nhất khứ hề” Sau hết, hai câu gần cuối cũng rất có không khí.


Ngoài phố mưa bay, xuân bốc rượu


Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê


Thơ Đường cũ có bài Xuân phân, cũng nói tới rượu ở một Hạnh hoa thôn  nào đó (Tá vẫn tửu gia hà xứ hữu. Mục đồng dao chỉ Hạnh hoa thôn), nhưng trong đó, rượu làm cho người ta say đi. ở Thâm Tâm, hình như thi nhân càng uống càng tỉnh. Chỗ cay đắng tỉnh táo ở đây, có lẽ là do không khí phố xá thành thị chăng? Nếu đúng như thế, thì thành thị (Hà Nội) trong thơ Thâm Tâm đã trở thành một yếu tố mới mẻ, và đáng ghi nhận.


Cũng không phải ngẫu nhiên mà về sau, Thâm Tâm bước vào hàng ngũ các chiến sĩ Vệ quốc, làm báo rất chăm chỉ và hết lòng, viết từng mục nhỏ, không bao giờ quản ngại.


Cùng nhóm với Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, những năm trước cách mạng, song Nguyễn Bính lại có nét khác. Thơ Nguyễn Bính không có cái phẫn, mà hồn nhiên dễ dàng hơn nhiều.


Nhà em ở cuối kinh thành


Bên hồ Trúc Bạch nước xanh men chàm


Đấy là mấy câu trong bài Gửi chị Trúc, những câu tự nhiên như lời buột ra đầu miệng, nhằm kể với người thân về tỉnh cảm sống của tác giả lúc ở Hà Nội. Đúng là cảnh sống của những thanh niên nghèo giữa kinh thành hoa lệ. Tuy vậy, “Chàng trai tầm thường trông lại quê quê” nay không lấy thế làm xấu hổ.


Nguyễn Bính không phải loại người học đòi, cũng không dễ có những mặc cảm như một số người khác ông vẫn giữ nếp sống như hồi ở các tỉnh nhỏ, ở làng quê. Nghĩa là chỉ biết những say mê của mình, những ý thích của mình, còn không ngượng nghịu về cái nghèo, cái hèn bao giờ. Hà Nội trong ông không gây ra một ngạc nhiên chấn động gì đáng kể, mà chỉ là nơi ông sống, làm việc, yêu đương như các nơi khác.


Cái nhìn của ông đối với Hà Nội nhiều khi thật thản nhiên, như câu thơ nọ.


Sáng nay sau một cơn mưa lớn


Hà Nội bừng lên dưới nắng vàng


Trong sáng tác cũng vậy, Nguyễn Bính cứ “hát những bài hát của mình” về chất thơ, trong khi Trần Huyền Trân “thật hạt” Hà Nội thì Nguyễn Bính rõ ra của chân quê: giống như chàng Exênhin, ông cũng lạc lên thành phố, song tâm hồn vẫn để ở cả mái đình, giếng nước, cái yếm lụa sồi và chỉ diễn tả cái đó mới hay.


Thơ Nguyễn Bính đương thời đã khá được ưa chuộng,  theo Tô Hoài nhớ, thì đây là nhà thơ duy nhất sống được bằng nhuận bút (cố nhiên là chỉ sống nghèo); không phải vì thế mà Nguyễn Bính thành thị hoá. Nhà thơ chỉ lang thang ở đây, như có lúc, sẽ lang thang lên Phủ Lạng Thương, Bắc Giang và sau này lăn lóc với tận các tỉnh phía nam.


Bấy giờ, Hà Nội trong Nguyễn Bính chỉ còn mờ mờ ảo ảo, không rõ rệt. Đây là những câu thơ trong bài Một con sông lạnh:


Chưa say, em đã say gì


Chúng tôi còn uống còn nghe em đàn


Rưng rưng ánh nến hoa vàng


Đôi dây nức nở muôn ngàn nhớ thương


Đôi dây như thế đôi đường


Em ơi! Hà Nội là phương hướng nào


(trong tập Hương cố nhân)


Những năm gần cách mạng, trong cơn say phiêu lưu, Nguyễn Bính vào Huế, rồi vào Nam bộ, đi đến đâu cũng giữ hồn thơ chân quê và cách sống không mặc cảm của mình. Sau khi tham gia kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, tập kết ra Bắc, trở lại Hà Nội, cũng không có chút đảo lộn gì lắm trong cách nhìn, cách viết, tuy bây giờ bạn bè của ông có đông hơn, không khí văn nghệ sôi nổi, khác hẳn trước kia. Cuối cùng, Nguyễn Bính từ giã Hà Nội cũng giản dị. Ông về Nam Định công tác, chỉ thỉnh thoảng mới lên Hà Nội có việc họp hành, sinh hoạt gì đấy. Trở lại quê hương ở ngoại thành Nam Định, ông có một nếp nhà ấm cúng. Sau thời gian “dan díu với kinh thành”, nay chàng Exênhin mới lại trở về với cái phần cội nguồn, chân chính của thơ mình !


 


Nam Cao


Cũng tương tự như Thâm Tâm, Nguyễn Bính, nhà văn Nam Cao vốn không phải gốc Hà Nội. Ông lại lên thủ đô hơi muộn, khi đã có vợ con gia đình, và lên để dạy học, để kiếm sống, chứ không có điều kiện để “rong chơi” như những người viết văn khác. Vợ con Nam Cao vẫn ở nhà quê, ông phải xuống tàu thuỷ về quê luôn. Lại nữa, vùng đất mà ông thông thạo cũng không thật tiêu biểu cho Hà Nội. Từ Thuỵ Chương lên Bưởi không phải phố xá sầm uất, không phải những đại lộ lớn nơi ở của những con người sang rọng, giàu có. Đây là khu vực của những người thợ Ô-mềm (nay là nhà máy bia Hà Nội), Nhà đá, La-pho (nay là Sở trồng hoa và ươm cây), Sở xe điện… là khu vực của dân xôi lúa, khoai ngô luộc gánh xuống bán dưới phố xá.


Trước 1945, từ quãng Bách Thảo trở lên, người ta vẫn tính là ngoại ô. Không phải ngẫu nhiên, cái vùng Hà Nội mà nhân vật Thứ trong Sống mòn cư ngụ thường được miêu tả với những chi tiết gợi nhớ cảnh sống một thị xã, một huyện lị nào đó. Nếu bảo đó là Hà Nội thì đấy là một Hà Nội lầm lụi, xiêu vẹo, nơi rất nhiều nhà lá, và có khi cả phố mới có một cái máy nước lúc nào cũng chen chúc người xếp hàng. Đèn điện chưa có, dù đèn ở ngoài đường. Cuộc sống tối tăm, tẻ nhạt.


Thế nhưng, xét về những ảnh hưởng của đô thị trong tác phẩm của Nam Cao, lại thấy một sự thực ngược lại là Nam Cao rất hiểu Hà Nội, Nam Cao có “đôi mắt” của người dân thành phố trong việc xem xét mọi chuyện.


Khi cần phải miêu tả những người dân ngoại ô, như trong Chuyện người hàng xóm, Nam Cao cho ta thấy một sự thực: Một mặt, họ sống rất cơ cực, quẩn quanh, vớ vẩn, người nọ làm khổ người kia: con đường đi tới của những Tiền, Hiền, Lộc…là con đường rơi vào truỵ lạc, bế tắc, một ít nhân từ tốt bụng giữa họ với nhau, không đủ mang lại cho họ hạnh phúc. Mặt khác, họ vẫn rất yêu vùng đất ngụ cư mà số phận đã đưa họ trôi dạt đến. Lên đây, lên Hà Nội, dẫu sao họ cũng đỡ khổ hơn so với ở nhà quê, nơi người nông dân sống trong tăm tối, bọn địa chủ và các loại hào lý tha hồ hoành hành, nơi dân cùng đinh không sao mở mắt ra nổi.


ở Sống mòn, mỗi khi đề cập tới các tầng lớp dân nghèo thành thị, tác giả cũng trình bày quan niệm tương tự. Một ví dụ tiêu biểu là trường hợp anh chàng  Mô, lao công ở cái trường học có Thứ dạy, lấy Hà, một người nghèo khác. Cả Mô và Hà đều hiểu rất rõ ở nhà quê, họ không đào đâu ra tiền để cưới nhau, mà giá có đi vay, thì cũng nặng nợ suốt đời. Chỉ ở cái đất không ai biết họ này, họ mới về với nhau một cách êm thấm. Một nhân vật sang trọng hơn Mô rất nhiều là hiệu trưởng Đích, người đứng ra mở trường tư để sống trên lưng San và Thứ, còn bản thân Đích đi làm công chức ở tỉnh xa; đến cuối Sống mòn, đột nhiên Đích ốm thập tử nhất sinh. Vậy mà Đích vẫn “Tuyên bố” thà chết ở Hà Nội, hơn là về quê. Thì ra, Hà Nội mang lại cho họ một chút tự do mà họ thèm khát, tự do cả trong lúc sống, lẫn trong lúc chết.


Chúng ta đều biết, một số nhà văn lãng mạn, nhất là cánh Tự lực văn đoàn, thường lý tưởng hoá khung cảnh đồng ruộng, thích miêu tả cây đa bến nước, hội làng với những cô gái mắt bồ câu duyên dáng…


Nam Cao không thế. Tuy phải đến sau cách mạng, Nam Cao mới hiểu rõ sức mạnh người nông dân, nhưng ngay ở trước 1945, Nam Cao đã diễn tả họ với những đường nét khoẻ, sắc, như Lão Hạc, Chí Phèo, và nhiều người khác. Có điều, Nam Cao không bao giờ quên chỉ rõ những lạc hậu của nông thôn và sẵn sàng cùng với các nhân vật của mình mơ ước một cuộc sống thoải mái hơn.


Thử nhớ lại những khía cạnh riêng trong cuộc đời Nam Cao để hiểu thêm vai trò của Hà Nội đối với quá trình sáng tác của ông.


Theo những tài liệu đáng tin cậy, thì ông sinh năm 1915 và sau khi học xong thành chung, còn vào Sài Gòn làm ăn một thời, định kiếm một học bổng để đi Pháp cho đến khi đau ốm, mới lại phải quay trở về Bắc, vừa dạy học, vừa viết. Vậy có thể đoán là thời kỳ mà Nam Cao sống kỹ với Hà Nội một chút phải là khoảng 1938-40 trở đi (kỹ nghĩa là không phải chỉ ghé qua, mà có đi về luôn luôn). Nhưng sáng tác ban đầu của ông lại là thơ một thứ thơ mang mầu sắc lãng mạn cuối mùa, như những câu mà một nhà nghiên cứu đã cho công bố trong cuốn chuyên khảo về Nam Cao in 1961.


Tâm hồn tan tác làm trăm mảnh


Vương vấn theo ai bốn góc trời


Rồi để một chiều theo gió thổi


Bay lên thành những mảng mây trôi


Vậy là quá trình tư tưởng của Nam Cao là quá trình chuyển từ một thứ thơ mơ tưởng hão huyền, sang văn xuôi sắc lạnh nhìn thẳng vào cái phức tạp trăm vẻ của đời sống. Quá trình này xảy ra đồng thời với quá trình ông “vào sâu” Hà Nội, hiểu Hà Nội (cố nhiên là có cộng thêm với cả quá trình ở phiêu lưu tư tưởng từ khi học xong trung học trở đi). Từ quê lên nơi dạy học rồi lại từ đấy về quê, những cảnh ngộ bất chợt gặp trên đường, những lần theo bạn bè ghé qua các tiệm cô đầu, những ngả trở lại với gia đình nghèo khổ, những tác phẩm nước ngoài mới bán ở Hà Nội, những số báo Tiểu thuyết thứ bẩy, Phổ thông bán nguyệt san, có bài của mình và của bạn bè… bao nhiêu là ấn tượng dồn nén dần dần, rút cục đã tạo nên một Nam Cao hết sức kỳ lạ. Một mặt, ông vẫn “quê một cục”. Một ký giả đương thời kể là đi ăn với Nam Cao thấy lạ vì một người như tác giả Chí Phèo mà không biết món vây là gì, và hỏi cơm rang đã có tạp xường và trứng rồi thì cần gì phải gọi thêm vây, thịt bò cho thêm tốn.


Nhưng mặt khác, đọc hồi ký về Nam Cao, hoặc theo dõi những truyện Nam Cao viết trong đó, ông đội tên là những Điền, Hộ, Thứ, thấy ông ít nhiều đều đủ những ham muốn như một người. Không làm việc xấu nhưng cái gì cũng nghĩ cả, không xa lạ với cái gì hết. Và càng ngày, cái nhìn của Nam Cao càng trở nên sắc hơn, sắc nhọn trong việc phân tích mình, phân tích hoàn cảnh.


Trong Sống mòn, Nam Cao có nhắc tới một trạng thái tâm lý trở đi trở lại trong Thứ: Nhiều khi, do khó chịu với những người xung quanh, và cảm thấy mình bị lợi dụng quá đáng. Thứ ra bỏ trường, bỏ Hà Nội để về quê những tưởng có thể tìm thấy ở đấy nhiều thú vị. Nhưng Thứ đã nhầm! Những mè nheo cạnh khoé của những người thân lại làm rơi bao nhiêu nước mắt của Thứ, khiến không ít lần. Thứ phải xách va-li ra đi sớm hơn đã định.


Theo một số bạn bè và người quen cho biết, Nam Cao thường chỉ viết được về những gì có thực trong đời mình, và ở quanh mình (Người ta nói rằng chỉ có một nhân vật được nhà văn kiên trì “bịa” là người vợ. Bà vợ Nam Cao rất hiền, còn trong tác phẩm của nhà văn, người đàn bà thường lại là những nhân vật lắm điều, lắm nhời, hay chì chiết chồng con, v.v…)


Vậy có thể tin rằng cái tình tự nói trên của Thứ, cũng là chuyện xảy ra với chính Nam Cao. Một nhân cách trí thức đã được hình thành, hay do dự, hay hoài nghi “Cái gì đang có cũng chán, cái gì không có cũng thèm” (chữ của Tô Hoài) – Nam Cao 1944-45 không còn là cậu học trò tỉnh lẻ khờ khạo ngây thơ nữa.


Về mặt nghề nghiệp mà xét, có thể thấy Hà Nội là nơi Nam Cao lao vào nghề văn một cách hết lòng, nhiều khi ông đã vượt qua cả nhữn thói quen cố hữu của ông nữa. Chẳng hạn, tuy rụt rè thế, nhưng khi gặp một nhà giàu hào phóng, đọc những Đôi lứa xứng đôi, Dì Hảo, Lão Hạc, đoán người viết ra những truyện đó hẳn… kháu lắm, cho mời Nam Cao xuống Khâm Thiên để “nói chuyện văn chương cho thoả lòng”, Nam Cao cũng đã rủ Tô Hoài đi, tuy là sau đó, hai người rút lui rất nhanh, vì cảm thấy quá lạc lõng (việc này Tô Hoài cũng đã kể lại trong Tự truyện).


Lại đây nữa, trường hợp xảy ra với nhân vật Hộ trong Đời thừa: ở toà báo ra đang mải miết cuốc bộ về nhà đưa tiền cho vợ để còn trả nợ, lấy thuốc cho con, thế mà chỉ nghe đến một quyển sách của người bạn được dịch ra tiếng Anh, thế là Hộ đã quên tất cả mọi chuyện, sẵn sàng rủ mọi người đi uống rượu để moi thêm tin, đúng hơn để có dịp nói cho sướng miệng: nói rằng quyển sách kia đâu đã phải là kiệt tác, mình đây, mình mới có khả năng viết ra những quyển sách có giá trị thực sự, v.v… Ai đã là người viết, hẳn rất dễ thông cảm những phút bốc đồng như thế này! Chính bởi vậy, chúng ta dự đoán dù điều ấy không có thực với chính Nam Cao đi nữa, thì cũng đã đến với nhà văn trong ý nghĩ.


Với Hà Nội, Nam Cao đã sống trọn mọi vui buồn của một người viết. Cùng với Hà Nội, Nam Cao không bao giờ dừng lại ở những thành công tầm thường mà bao giờ cũng xác định cho mình những lý tưởng nghề nghiệp cao cả. Như cái ý nghĩ của nhân vật Hộ trong Đời thừa về một tác phẩm có giá trị “Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho người gần người hơn”.


Nam Cao thật đã hội đủ những điều kiện để trở thành một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam thời kỳ 1930-1945.


(còn tiếp)


Nguồn: Nhà văn hôm nay với Hà Nội (Kể chuyện đời sống văn học). Ký của Vương Trí Nhàn

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đông Tây cổ học tinh hoa (3) - Vũ Bằng 05.08.2019
Đông Tây cổ học tinh hoa (2) - Vũ Bằng 05.08.2019
Đông Tây cổ học tinh hoa (1) - Vũ Bằng 05.08.2019
Nói có sách (tiếp & hết) - Vũ Bằng 05.08.2019
Điếu văn tại Lễ truy điệu Nhất Linh - Vũ Hoàng Chương 01.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (5) - Huỳnh Quang 30.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (4) - Huỳnh Quang 30.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (3) - Huỳnh Quang 25.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (2) - Huỳnh Quang 25.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (1) - Huỳnh Quang 25.07.2019
xem thêm »