tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29929291
05.10.2010
Vương Trí Nhàn
Nhà văn hôm nay với Hà Nội (2)

Ngô Tất Tố


Khi Tản Đà mất (1939, Nguyễn Công Hoan có viết một bài kể chuyện những lần gặp Tản Đà, trong đó có một lần gặp ngay ở báo quán của nhà thơ, khi ông đang phải dúm dùm chèo chống An nam tạp chí. Cảnh sống của Tản Đà thật eo hẹp: “Tôi buồn ngủ phải nằm ghé vào bàn đèn thuốc phiện bày ở phản cạnh bàn làm việc của ông mà giấy má, muối, vỏ trứng, bụi hoả lò bừa bãi”.


Nhưng đó cũng là cảnh sống của nhiều nhà báo khác ở Hà Nội những năm ấy, chẳng hạn như Ngô Tất Tố. Từ quê hương ở Lộc Hà (trước thuộc Từ Sơn Bắc Ninh, nay thuộc Đông Anh, ngoại thành Hà Nội) ra thủ đô, thậm chí vào lục tỉnh Sài Gòn làm báo. Ngô Tất Tố vẫn giữ cốt cách  một nhà nho nghèo. Một đồng nghiệp cũ của ông mô tả ông đầu xứ này thường ăn vận như một kẻ thất thế: “chiếc áo the đã sờn, chiếc khăn xếp không có tuổi, cây ô đen tương đối, đôi giầy trăng trắng gọi là…” Nơi báo quán Ngô Tất Tố làm việc cũng là nơi những anh Dậu, chị Dậu ở quê hương ông đến than thở một vài điều oan ức, vay một hào, hoặc nhờ xem lại ít chữ nghĩa trong các đơn kiện. Nghĩa là tuy ở Thủ đô, Ngô Tất Tố vẫn liền lặn với quê hương ông trong tình cảm, công việc; ông như một thứ đại sứ đặc biệt sống ở giữa Hà thành này để phát ngôn hộ cho những người nông dân nghèo khổ.


Lại nói tiếp chuyện ăn ở của giới những người cầm bút lúc ấy. Một nhà báo đương thời kể họ thường trải chiếu nằm sàn gác với nhau. ăn uống thì nhờ cả ở một hàng cơm nào đấy. ăn xong lại về bàn công việc. Và bàn xong, bắt tay vào viết luôn. Nghĩa là sống suốt ngày với tờ báo của mình. Những người có gia đình ở Hà Nội còn thế, nữa là những người lên đây lúc đầu có một mình như Ngô Tất Tố. Với ông, sống ở Hà Nội có nghĩa là sống để mà viết.


Cho mãi tới 1946, theo trí nhớ của Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố còn hiện ra như một ông già tóc ngắn hoa râm, áo dài khăn xếp, v.v… Về đường ăn mặc, Ngô Tất Tố bao giờ cũng vẫn là chính mình, không mấy thay đổi. Một tờ báo đương thời giễu ông “suốt đời không biết ăn kem Bờ Hồ”.


Nhìn bề ngoài, người ta dễ lẫn ông với một ít ông đồ già lạc lõng giữa Hà Nội “kinh thành hoa lệ”, mà Vũ Đình Liên từng phác ra trong một bài thơ nổi tiếng, từ năm 1936.


Thế nhưng, trong việc vận dụng ngòi bút để vạch mặt chỉ tên những truyện ngang trái của xã hội thực dân và phong kiến trên báo chí hàng ngày, thì Ngô Tất Tố không chịu kém ai. Từ 1942, trong Nhà văn hiện đại (quyển ba) Vũ Ngọc Phan sau khi bảo rằng “ông là một tay kỳ cựu trong làng văn, làng báo Việt Nam”, thuộc vào loại “những nhà Hán học đã chịu ảnh hưởng văn học Âu tây và được người ta kể vào hạng nhà nho có óc phê bình, có trí xét đoán, có tư tưởng mới”, còn nói rõ thêm:


… “Về đường văn nghệ, ông đã theo kịp cả những nhà văn thuộc phía tân học xuất sắc nhất”.


“Ngô Tất Tố là một nhà nho mà đã viết được những thiên phóng sự, những thiên tiểu thuyết theo nghệ thuật Tây phương và ông đã viết bằng một ngòi bút đanh thép, khiến cho người tân học phải khen ngợi”.


Chắc chắn rằng chỉ lên “góp mặt với đời” trên Hà Nội, ngòi bút của Ngô Tất Tố mới có những bước chuyển rõ rệt như vậy.


Theo Nguyễn Đức Bính kể, Ngô Tất Tố là loại nhà báo chỉ đi bộ từ nhà đến toà soạn – lúc này, đâu ông đã có một hiệu thuốc ở đường Sinh Từ, phố Nguyễn Khuyến hiện nay(1) - nhưng có thể viết đủ chuyện năm châu bốn bể trên mặt báo. Công phu tu luyện để có thể đạt tới một trình độ như thế, chắc phải lớn lắm.


Thế Ngô Tất Tố – nhà văn, nhà báo – có viết gì về Hà Nội không? Dĩ nhiên là có. Trong các tiểu phẩm của ông, in lại trong Ngô Tất Tố tác phẩm, tập 1, chúng ta bắt gặp những đoạn ông chửi bọn đồng cốt lừa bịp ở đền Hàng Trống, hoặc có cả một phóng sự ngắn mang tên Dao cầu thuyền tán, tố cáo các loại lang băm. Đối với bọn văn sĩ tư sản dùng ngòi bút để xúi giục người ta đi vào con đường hư hỏng kiểu “vui vẻ trẻ trung”, Ngô Tất Tố cũng có những đòn đả kích thậm tệ. Nói chung, trong các tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, đời sống Hà Nội hiện ra  như một thứ kẻ chợ lộn xộn, ồn ào, phồn vinh giả tạo, một nhà nào như ông thấy rất chướng tai gai mắt (tuy nhiên, trong hoàn cảnh lúc ấy, ở nông thôn thì đời sống cũng rất đen tối!. Chỉ riêng trong Lều chõng, chúng ta thấy Hà Nội hiện lên với nhiều nét đẹp, người Hà Nội từ những cô hàng bán giấy bút, cho đến ông chủ quán trọ cũng đều hết sức tài hoa, lịch thiệp. Lều chõng thường vẫn được mô tả như là một tác phẩm có những nét tự truyện. Bởi vậy, với Lều chõng, có thể nói Ngô Tất Tố đã ghi nhận một phần những ảnh hưởng mà Hà Nội để lại trong cuộc đời những kẻ sĩ tương tự như ông. Bấy giờ mức độ xâm nhập của văn minh Tây Âu vào xã hội Việt Nam còn là hạn chế. Hà Nội chưa có vẻ sầm uất với nhiều nét sinh hoạt thị dân rõ rệt như sau này. Nhưng lên Hà Nội, lớp học trò như Đào Vân Hạc vẫn cảm thấy có gì thật thoải mái, họ dễ dàng tìm được chút tự do lặt vặt như xuống xóm cô đầu… cô đầu lúc ấy còn là một thú chơi thanh nhã hoặc thăm thú các nơi. Điều có ý nghĩa quan trọng hơn: lên đây, những kẻ gọi là nhân tài các tỉnh có dịp trò chuyện, “đấu” với nhau để tự kiểm tra sức học, trình độ năng lực của mình. Riêng với Đào Vân Hạc, thì trong những dịp thi cử, chàng cảm thấy cái vô nghĩa của con đường hoan lộ mà việc học đã mở ra và chàng cả quyết sống theo lối ở ẩn giữa đời. Đấy cũng là những kết luận mà chỉ những kẻ sĩ tương đối từng trải mới có được.


Tóm lại, Lều chõng đã cho chúng ta thấy chân dung tinh thần Ngô Tất Tố như một nhà nho, để rồi từ đó ta phải hình dung ra thêm Ngô Tất Tố… nhà văn, nhà báo. Tuy nhiên, đối với quá trình tư tưởng của ông trong cả hai chặng đường này, Hà Nội vẫn có một vai trò không gì thay thế được.


 


Thạch Lam


Trong số những phố phường cũ ở Hà Nội, phố Hàng Bạc thật có duyên với văn học: Nguyễn Tuân, Thạch Lam đều sinh ở đấy; Vũ Trọng Phụng đã sống ở đấy nhiều năm. Trong văn chương, Nguyễn Tuân không tả cụ thể Hàng Bạc nhưng như sau đây chúng ta sẽ thấy, ông thường tả rất kỹ khu trung tâm thành phố, chung quanh hồ Hoàn Kiếm. Vũ Trọng Phụng cũng thường nhắc tới trong các phóng sự tiểu thuyết của mình cảnh ăn chơi của những Tạ Hiền, Sầm Công, Hàng Buồm cách Hàng Bạc không xa. Riêng Thạch Lam có khác. Thuở nhỏ, ông theo gia đình về ở mãi cái huyện xa vùng Hải Dương (Cẩm Giàng) và Thái Bình (Tân Đệ), sau mới về học ở Hà Nội và ra làm báo. Lúc này, gia đình ông khi thì ở Hàng Bún, khi lên Yên Phụ. Có điều trong văn Thạch Lam, khu vực từ Đồng Xuân tới Bờ Hồ vẫn rất quen thuộc; nhân vật Hiệp trong Cô áo lụa hồng (tập Gió đầu mùa) từng mũ đội lệch, miệng ngậm thuốc lá” đi dạo đủ các phố Hàng Ngang, Hàng Đường, Chợ Đồng Xuân, Hàng Lược… Và quan trọng nhất là cái cốt cách ra cảm thấy trong văn Thạch Lam. Đó là một giọng văn bình dị mà lại tinh tế, như người Hà Nội từng trải thanh lịch, tiếng nói Hà Nội dễ dàng, sang trọng. Nói Thạch Lam là một trong những nhà văn Hà Nội tiêu biểu, chính bởi những lý do đó.


Theo Thanh Tịnh kể lại, thì bề ngoài Thạch Lam dáng cao cao, thân hình mảnh khảnh, ăn nói điềm đạm, mới gặp người ta dễ lầm là một nhà giáo hơn là một nhà văn. Qua văn ông, chúng ta đoán ông sống thanh đạm, chăm lo nhiều tới cuộc sống nội tâm, không bị cuốn theo ngoại cảnh ồn ào. Ông tôn trọng mọi người, sợ làm phiền người khác, nhưng lại giữ được sự độc lập trong đầu óc và không phải là không phóng túng trong nếp nghĩ. Chắc chắn là ông không sống hùa theo mọi người. Chả thế mà viết văn giữa Hà Nội, bạn bè với nhiều đồng nghiệp trưởng giả, ông vẫn dửng dưng với mọi tiện nghi vật chất, và chỉ tìm thấy niềm vui trong một mái nhà tranh trông ra Hồ Tây ở Yên Phụ (làng Yên Phụ có con đường lát gạch và hồ Ao Vả, chứ không phải đường phố Yên Phụ!). Ông sống như thế cho đến những ngày cuối cùng trong đời. Theo nhiều tài liệu cho biết, ông chết vì bệnh lao, khi mới hơn 30 tuổi. Nhưng đọc văn ông cũng như xem cách sống của ông, thấy ở Thạch Lam tất cả đều đã đến giai đoạn chín, ổn định.


 


Trong một thiên truyện mang tên Phê-ra-guýt, thủ lĩnh của đám phàm ăn, Ban-dắc từng nêu một nhận xét, như một con người phải xấu hổ khi làm điều đê tiện. ở đó, cũng có những phố cao thượng, những phố quả thực lương thiện, những phố trẻ trung mà công chúng chưa kịp có ý kiến về đức hạnh của chúng: tiếp đó, có những đường phố hung bạo… những đường phố đáng kính, những phố luôn luôn bẩn và những phố  lúc nào cũng sạch, những phố lao động làm ăn buôn bán. Tóm lại, những đường phố ở Pa-ri có những tính chất của con người và vẻ ngoài của chúng gợi cho ta những ý nghĩ nhất định mà ta không cách gì cưỡng lại được”.


ý nhà văn hào Pháp ở đây chỉ muốn nhấn mạnh khuôn mặt các thành phố thường đa dạng. Pa-ri là vậy, Hà Nội của chúng ta là vậy, và Hà Nội được phản ánh trong các tác phẩm văn học cũng vậy. Qua văn Nguyễn Công Hoan, chúng ta đã bắt gặp một số mẫu người kẻ chợ, láu, học đòi, bạc bẽo, bất nhẫn, qua văn Vũ Trọng Phụng, ta biết thêm một Hà Nội của xã hội thực dân phong kiến với những mưu đồ xoay xoả, những vụ bịp lớn, một con đường lưu manh hoá sẵn sàng mở ra với mọi thanh niên. Nhưng Hà Nội đâu phải chỉ có thế? Mãi mãi vẫn còn một Hà Nội nhạy cảm tế nhị, giàu lòng thương xót người khác, một Hà Nội rất tử tế, sang trọng nếu có thể nói như vậy. Như ở tác phẩm Thạch Lam chúng ta đang xét. Qua Một cơn giận, nhân vật xưng tội tự kể về một tình thế trớ trêu: do bực mình, nóng nảy, lạnh lùng, v.v… tóm lại trong một trạng thái tâm lý không bình thường, anh đã vô tình đẩy người khác (ở đây là một phu xe nghèo khổ vào bước đường bất hạnh. Nhưng sự tỉnh táo đến rất nhanh, kèm theo là sự xót xa ân hận, và những hành động cụ thể, để sửa chữa, vớt vát lại tình thế, khiến người đọc truyện không khỏi cảm động. Qua Một cơn giận, ta cảm thấy tác giả có cách nhìn vào đời sống khá thấu đáo, lại biết thông cảm với mọi lầm lẫn ở mình và xung quanh. Con người Hà Nội, con người thành thị ở đây có những nét đáng yêu, đáng vì nể chứ không chỉ thuần có lạnh lùng, vô trách nhiệm, như người nọ, người kia vẫn mô tả.


Một trong những  mô-tip thấy trở đi trở lại vài lần trong truyện ngắn Thạch Lam: một người thành phố về thăm quê hương của mình. Trong Trở về là thế, trong Dưới bóng hoàng lan là thế. Rồi Những ngày mới lại càng kỹ hơn, tỉ mỉ hơn. Trừ trường hợp nhân vật Tâm trong Trở về thấy chán ngán, ngại ngùng (anh ta gần như bỏ chạy khỏi nông thôn), còn trong hai truyện kia, nhân vật chính đều rất thiết tha với quê hương. Họ tìm thấy ở đấy những gì tượng trưng cho sự trong sạch, sự bền chắc trong tình cảm. Nói như ngày nay chúng ta thường nói, trở về với làng quê, đối với một số nhân vật trong Thạch Lam, là trở về với cội nguồn của đời sống. ở đó, ta tiếp nhận được đời sống ở cái phần chân chất nhất, trong lành nhất của nó. Đấy cũng là điều Thạch Lam muốn nhắc nhở chúng ta. Trong đoạn văn viết về cốm rất nổi tiếng, trong tập Hà Nội ba mươi sáu phố phường.


“Cơn gió mùa hạ lướt qua vùng sen trên hồ, nhuần thấm cái hương thơm của lá như báo trước mùa về một thứ quà thanh nhã và tinh khiết. Các bạn có ngửi thấy khi đi qua những cánh đồng xanh mà hạt thóc nếp đầu tiên làm trĩu thân lúa còn tươi, ngửi thấy cái mùi thơm mát của lúa non không? Trong cái vỏ xanh kia, có một giọt sữa trắng thơm, phảng phất hương vị ngàn hoa cỏ. Dưới ánh nắng, giọt sữa dần dần đọng lại, bông lúa càng ngày càng cong xuống, nặng vì cái chất quý trong sạch của Trời”.


Nét đặc biệt của Hà Nội của chúng ta là thành phố luôn luôn gắn bó với các vùng nông thôn xung quanh, nhiều người lên đây làm thợ, buôn bán, đi học, thậm chí làm quan, đã sống hàng đời ở Hà Nội rồi, vẫn không khỏi thoáng qua một chút run rẩy khi nhớ về quê cũ. Trước rất nhiều nhà văn khác, Thạch Lam đã kêu lên như thế, tiếng kêu của ông nhẹ nhàng, nhưng đầy sức thuyết phục.


 


Nguyễn Tuân


Không những chỉ sinh ở phố Hàng Bạc, mà Nguyễn Tuân còn chính là người gốc ở một vùng đất ngoại thành nổi tiếng: làng Nhân Mục (làng Mọc); tức ông đồng hương với Đặng Trần Côn.


Nhà văn Tô Hoài kể: có những lần Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân về Dục Tú, quê Nguyễn Huy Tưởng. Nghe Nguyễn Huy Tưởng kể chuyện thành cũ Cổ Loa gần đấy, Nguyễn Tuân cũng hào hứng nhắc đến quê hương mình. Bấy giờ là thời Tây Sơn đánh quân Thanh. Một mũi quân do đô đốc Bảo chỉ huy. Sau khi đánh tan quân Thanh ở đầm Mực, cánh quân này trên đường tiến ra Đống Đa: theo Nguyễn Tuân, thể nào họ cũng vu hồi lên Kim Giang, Kim Lũ rồi tập kết ở bốn làng Kẻ Mọc mà Nguyễn Tuân gọi một cách tự hào là Kẻ Mọc chúng tôi.


Lớn lên một chút, Nguyễn Tuân cùng gia đình đi “tha hương” ở nhiều nơi, Nam Định, Thanh Hoá và cả các tỉnh sâu vào trong nữa. Nhưng theo Nguyễn Tuân kể với chúng tôi, dù làm ăn ở đâu, năm nào bà cụ thân sinh ra ông cũng dẫn ông về Hà Nội ít ra là một lần, và thường vào dịp Tết.


Năm 1923, mười ba tuổi, cậu bé Nguyễn Tuân học ở một trường tư Hà Nội, trường Trương Minh Sanh, rồi sau đó mới chuyển về học thành chung ở Nam Định. Và khi trưởng thành, sống hẳn về nghề văn, nghề báo, thì Nguyễn Tuân cũng chuyển luôn từ Thanh Hoá ra Hà Nội, để rồi “đàn đúm”, “tụ họp” với không biết bao nhiêu là bè bạn ở đây, làm nên một thời vang bóng của ông trong nghề nghiệp.


Trong một bài viết gần đây về phim Chị Dậu, Nguyễn Tuân kể lại những ngày mới bước vào nghề làm báo, từng sống ở một toà soạn ở phố Hàng Da, cùng phòng với Ngô Tất Tố. Trong khi Nguyễn Tuân đi chơi, thì Ngô Tất Tố miệt mài làm việc. Trở về phòng, Nguyễn Tuân đã mệt lắm, nhưng nhìn những trang viết giở của người đồng nghiệp vong niên lại phải ngồi vào bàn.


Trong các tài liệu khác, chẳng hạn Một đêm họp đưa ma Phụng chúng ta cũng lại bắt gặp những trang tả lối sống, lối làm việc của Nguyễn Tuân và những nhà văn đương thời. Đại khái là các ông rất hay đi bộ, cứ diện Tây, thắt cra-vát vào mà cuốc bộ ra Thư viện quốc gia, rồi đến thăm nhau, rủ nhau ra làm một chầu rượu mạnh ở Bờ Hồ hoặc cầm những quyển sách Pháp mới mua được ở các hiệu sách trên tay vừa đi đường vừa tán chuyện. Gần, giữa mấy phố đông người Hà Nội. Xa, có khi mấy người kéo bộ sang tận xóm Thượng Cát bên kia sông Hồng, rồi sáng hôm sau lại qua chín nhịp cầu Long Biên quay về.


Vạn nhất mới phải lên xe điện!


Trong những lý do để đi bộ, nó cũng là cái thú thanh nhã nữa, có điều này hợp với nghề báo, nghề văn. Là vừa đi, người ta có thể vừa quan sát, vừa nghĩ về cái thành phố mình đang ở, liên hệ giữa những điều đọc trong sách vở với việc đang xảy ra trước mắt.


Sau này, khi đã trải qua kháng chiến trở về thủ đô, Nguyễn Tuân vẫn giữ nếp sinh hoạt như vậy. Cùng với Nguyễn Huy Tưởng đi vào những ngóc ngách phố cũ. Hoặc dạo quanh Hồ Gươm. Hoặc cùng với các bạn nước ngoài, dừng lại ở cửa Toà thị chính cũ, nay là trụ sở Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, ở cửa Câu lạc bộ Thống Nhất, v.v… Vừa đi vừa kể:


- Toà thị chính được xây dựng từ những năm 80 của thế kỷ trước.


- Câu lạc bộ Thống Nhất (nay là chỗ bán vé của Hàng không Việt Nam) xưa là trụ sở của Hội khuyến nhạc thành phố.


- Hiệu sách đầu tiên ở Hà Nội khai trương 1897. Thư viện đầu tiên ở Bắc kỳ mở cửa 1919 v.v….


Nguyễn Tuân đã thật sự trở thành một pho sử sống của Hà Nội. Nhiều trang viết của ông có thể sẽ còn mãi, bởi ghi được một cách cô đọng những cảnh sắc Hà Nội, khiến cho chúng lung linh lên, khắc sâu vào trí nhớ. Gần đây nhất, là những đoạn Nguyễn Tuân tả Hà Nội trong những ngày chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Nhưng không phải chỉ có thế. Bốn chục năm trước, Nguyễn Tuân cũng đã từng ghi lại cảnh Hà Nội tập báo động, chủ yếu là ở khu vực trung tâm thành phố.


 


“Vợ chồng H Ng và tôi vẫn đi một cách tò mò vòng quanh hồ Hoàn Kiếm. ánh sáng đỏ và xanh hoa lý nhà Thuỷ Tạ chảy xuống hồ tù hãm như những ống điện nê-ông có kèm những con tiện ngòng ngoèo màu sơn đỏ da chum…


Đồng hồ tay chỉ 21 giờ. Còi báo động bắt đầu. Còn gì rền rĩ thê thảm bằng. Đèn tắt một loạt. Trong tối tăm, chuông nhà thờ phụ hoạ với còi báo động (…). Tiếng còi nấc lên rồi vẳng xa như sáo gió một con diều thả về từ một cõi âm nào (…). Tiếng còi vẫn rỉ rên, rồi nấc mạnh, rồi chết hẳn (…). Tiếng còi đau khổ vẳng ngân trong bảy tám khổ vừa khoan vừa dài, vẫn nâng đỡ lấy mảnh trăng ốm, bị chém khuyết hẳn một góc…”.


 


Một đoạn khác:


“Thời loại điểm vào đêm kinh thành những chấm rực rỡ. Một gạch xanh cỏ non ở các ngã tư. Một chấm đỏ ở các hầm đang đào. Một bóng đèn màu nước biển ở cái bóp gác. Chung quanh và trên những đốm lửa màu ấy, đêm bao la, đêm lù mù. Trong bóng tối nhiều cái bóng thủ thỉ lướt qua”.


(Những ngọn da xanh và … những dịp còi)


Lùi về trước nữa, lần Pháp cho phá thành cổ, xây phố xá, cũng đã được Nguyễn Tuân kể lại rất có không khí, nhân khi viết bạt cho cuốn Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng.


Nếu đồng ý rằng đối với Nguyễn Tuân, Hà Nội là nơi còn in lại nhiều dấu vết lịch sử “vang bóng một thời”, nơi những người tài tử hội ngộ, chúng ta sẽ hiểu tại sao tuy đây đó tác phẩm của ông có đượm chút “hoài cổ” song lại là những trang sách có ích, nó cho thấy “bề dầy” của Hà Nội, và làm cho chúng ta trân trọng những khía cạnh truyền thống tốt đẹp.


Trước cách mạng, Nguyễn Tuân ở Hà Nội là chính. Ông cũng luôn luôn đi khắp nơi trên đất nước. Song, mỗi lần hoàn thành tác phẩm, ông đều trở lại thủ đô sống, cái không khí nghề nghiệp cho thật đã. Cũng có lần năm 1941, ông bị bắt và bị bắt ngay ở Hà Nội, để rồi đầy đi Vụ Bản, nhưng mấy tháng sau được tha ngay.


Lần Nguyễn Tuân xa Hà Nội lâu nhất là thời kháng chiến chống Pháp. Xa và nhớ Hà Nội lắm! Nhìn cột mốc cây số nào cũng thấy nó dẫn về Hà Nội. Và từ Việt Bắc, ông thấy nhớ đủ thứ của đời sống thủ đô hôm qua. Nhân gặp một ông hàng phở, Nguyễn Tuân viết:


“ Bây giờ là mùa hè 1948. Nắng lắm. Thêm cái bóng me và sấu lùm buổi sớm của Dốc Hàng Kèn, những giờ đi “đả phở tập thể” (chắc là “hội” những anh em làm báo, như chúng ta đã biết ở đoạn trên!). Gặp ông Xước, thủ thư cũ của Thư viện quốc gia, Nguyễn Tuân thấy xao xuyến nhớ “cả một thời thanh bình độc thư săn tàng thư lâu lá mùa thu rụng từng cái một bên đường Trường Thi”. Rồi gặp ông Cai Lộc phát hành báo; cô Lan bán hoa; anh Két đưa cốc-tay ở Thuỷ Tạ; chị Nhâm cua bể chợ Đồng Xuân; anh Khôi kính-coong v.v…


Có cảm tưởng rằng trong Hà Nội cũ, Nguyễn Tuân rất nhiều người quen biết, bất cứ ai lành nghề trong công việc của mình, đều được ông dành cho một sự ưu ái trong tâm trí. Con người hay bị kêu là khinh bạc này thực ra lại rất biết nể trọng người tài và thấm thía cái câu “nhất nghệ tinh nhất thân vinh” hơn ai hết.


Bởi chính Nguyễn Tuân cũng thế, cũng lấy nghề nghiệp làm trọng.


Những người có quen riêng Nguyễn Tuân đều biết và có ấn tượng sâu sắc về thói quen lao động nghệ thuật kỹ càng, tỉ mỉ nơi ông. Viết về cái gì, ông tìm đọc cho bằng hết các loại sách viết về cái đó để tham khảo,. Ví như trước khi viết về cầu, ông đọc cả sách về kỹ thuật dựng cầu, rồi sưu tầm hết các kiểu ảnh cầu đã làm ở nơi A, nơi B, vào cái thời gian mà ông định tả. Lương tâm nghề nghiệp không cho phép ông nói liều, nói bừa về một thứ mình không biết. Ông đọc. Ông tra xét. Rồi ông lao động cật lực trên từng câu, từng chữ, khiến cho mỗi dòng, mỗi trang ông viết ra đều mang dấu ấn nơi ông, nhiều khi không cần đọc tên người viết ở cuối bài, người ta cũng biết ai là người đã viết ra bài đó. Nếu bảo tác phẩm là một thành phẩm, một mặt hàng thì những tuỳ bút ký tên Nguyễn Tuân bao giờ cũng là thứ hàng thượng hạng, hàng kỹ, nhìn qua biết ngay, mà càng nhìn lâu càng thấy quý.


Đó chính là một khía cạnh làm nên chất Hà Nội của nhà văn này. Nếu không sợ mang tiếng là hạ thấp công việc viết văn, chúng ta có thể nói đây cũng là một nghề, nó đòi hỏi người ta phải rất công phu học hành, phải hết sức khổ hạnh. Và Nguyễn Tuân gần gũi với bao nhiêu những người thợ tài hoa khác – thợ vẽ, thợ may, thợ khâu giầy, người viết chữ đẹp, người ca sỹ hát hay, v.v… Chính họ đã mang lại cho đời sống kinh kỳ một vẻ sầm uất và một niềm tự hào chân chính.


 


Xuân Diệu


Trong một bài tuỳ bút mang tên Việt Nam đại hội viết từ trước cách mạng, sau in lại vào tập Triều lên (1957), Xuân Diệu từng mượn lời miền Nam để ca ngợi miền Bắc. Trong tâm trí nhà thơ, Hà Nội phải đặt trên bối cảnh toàn miền đồng bằng Bắc Bộ, mới thật rõ cá tính.


- Thưa chị, trải bốn ngàn năm, chị lại càng tươi tốt hơn bao giờ. Chị vẫn trẻ mãi như thế. Mấy thời đại qua, sông Nhị Hà vẫn là một con sông trẻ… Núi Tản Viên tinh khiết như màu trời sắt lại, hồ Ba Bể trăng soi lánh lỏi, Vịnh Hạ Long rồng nổi mây sa, con sông Thương nước chảy đôi dòng. Nhưng huyền diệu nhất là mùa đông của chị. ở tận miền Nam, em ao ước đến luôn: em cố tưởng tượng cái rét thế nào, cái sương gió thế nào. Những hôm mưa vừa mới tạnh, một trận gió lạnh bỗng xảy đến, đôi chút sương kỳ diệu phơ phất các tán cây, thành phố Sài Gòn của em nhớ thương Hà Nội hơn lúc nào hết. Từ khi đồng bào miền Bắc càng vào nhiều trong em thì những mùa mưa của em cũng như thêm gió thêm sương, thêm một vài luồng lạnh quí báu, hiếm hoi…”.


Đoạn văn diễn tả khá tinh tế những ấn tượng mà một người vốn quê khu Năm như Xuân Diệu “tiếp nhận” ở Hà Nội, ngạc nhiên về Hà Nội. Bấy giờ là 1935, nhà thi sĩ trẻ mười chín tuổi đến Hà Nội để vừa học tú tài phần thứ nhất, vừa viết văn, viết báo. Với các bạn trẻ bây giờ, Xuân Diệu thường kể: Nếu từ nông thôn lên Quy Nhơn, ông đã thấy con người được cởi mở hơn, tâm trí phong phú hơn, thì với việc ra Hà Nội, những thay đổi lại càng như kỳ diệu.


“Tôi được đi ra Hà Nội học tú tài phần thứ nhất ở trường Bưởi gần Hồ Tây. Hồ Tây lúc đó còn hoang vu hơn bây giờ nhiều, số người còn ít. Hồ Tây rất là rô-măng-tích. Có thể nói, khi ra Hà Nội, tôi có sự nảy nở lần thứ hai… Đi vào những trại trồng hoa ở Ngọc Hà, xem những cây hoà đào ở Nhật Tân, đối với tôi vào tuổi 18, 19 như một sự bừng nở, như mùa xuân mới về”.


Nếu muốn tìm hiểu thiên nhiên đã ảnh hưởng đến tâm hồn một người viết văn như thế nào, thì trường hợp Xuân Diệu tiếp xúc với miền Bắc, trước tiên là Hà Nội, đã là một đề tài thú vị.


Trên phưong diện văn học, những ảnh hưởng này sẽ rõ rệt hơn, và những ngạc nhiên trong lòng Xuân Diệu sẽ còn bùng lên mạnh mẽ hơn. ở Quy Nhơn ngày nào Xuân Diệu đã say mê thơ Tản Đà, khi nghe tin An nam tạp chí tục bản, cứ phải trốn trường ra phố thăm hỏi không thôi. Nay Xuân Diệu được gặp Tản Đà giữa toà soạn một tuần báo.


Cũng ở Hà Nội, Xuân Diệu được gặp Thế Lữ. Tác giả Mấy vần thơ đã động viên Xuân Diệu viết, đã cho đăng một số bài của Thơ thơ trên Ngày nay, và khi Thơ thơ in ra, tự tay viết những trang đề tựa. Từ những trang thơ này, Xuân Diệu sẽ vào sâu thêm giới văn học Hà Nội. Không phải ngẫu nhiên nhiều bài thơ của ông in báo rồi in lại trong Thơ thơ, bên cạnh đầu đề, có ghi thêm mấy chữ tặng một người nào đó: Chiều tặng Nguyễn Khắc Hiếu, Nhị Hồ tặng Thạch Lam, Xa cách tặng Đỗ Đức Thu, Vội vàng tặng Vũ Đình Liên v.v.. và v.v…


Những chi tiết nho nhỏ ấy chỉ xác nhận một sự thực là Xuân Diệu đã gắn bó với đời sống văn học thủ đô lúc ấy, và do được sự động viên, cổ vũ của bè bạn, đồng nghiệp… mà ngòi bút Xuân Diệu thêm hứng khởi.


Có lẽ cũng chỉ Hà Nội hồi ấy mới chấp nhận cái chất “tây” rõ rệt trong thơ Xuân Diệu và vừa chào đón nồng nhiệt vừa hướng cho nó thêm mềm mại hơn.


Rồi cũng ở đây, sự nghiệp Xuân Diệu cơ bản hình thành. Thơ thơ in ra hai lần ở Hà Nội (1938-39), đã có tiếng vang tới mức, năm 1941, khi làm Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm đã ghi lại lần thứ nhất Thơ thơ được in ra, như một ngày tháng đáng  nhớ trong Biểu liệt kê các tác giả và tác phẩm theo thứ tự thời gian.


Tuy nhiên, cũng ở Hà Nội, trước cách mạng Xuân Diệu nhanh chóng đi tới sự chán ngán bế tắc. Trong Những bước đường tư tưởng của tôi, ông kể:


Năm 1943-1944, ở trên cái gác Hàng Bông, tôi chạy buôn chợ đen thì không được, viết văn cứ nói mãi về cái buồn cũng hết chuyện… Tôi ngồi giở quần áo cũ ra và giữa một bóng chiều thu đông lạnh và héo xám như hoa khô”.


Những trang văn xuôi của tác giả lúc này có một không khí riêng buồn buồn, ngùi ngùi, nó là trạng thái tâm hồn tác giả đồng thời lại cho chúng ta thấy một vài khía cạnh Hà Nội trước cách mạng mà ở người khác không thật rõ.


Trong Phấn thông vàng, nhà văn tả cái nơi ở của một người bạn:


“Tôi biết nói cái gì trước bây giờ? Cái gì cũng buồn như nhau. Con đường sắc xanh không rải nhựa, dãy phố lặng lẽ, gian nhà không chút đặc biệt của ông chủ, căn phòng không sáng sủa của bạn tôi… Mọi vật đều buồn một cách lưng chừng, xui lòng tôi không đủ cớ mà buồn nữa kia, phải chịu ngùi ngùi một cách vô lý”.


 


Và đây nữa, cái chất lưng chừng, vừa phải của một mảng đời thành phố, qua sự cảm nhận của Xuân Diệu:


“Đoạn đường chạy qua không đủ rộng để làm một đường phố, cũng không đủ hẹp để làm một ngõ hẻm, đá không chịu lởm chởm, mà chỉ hơi gập ghềnh. Nhà không chịu xấu, không chịu tồi mà lại chưng một vẻ phong lưu nghèo nghèo một ít. ánh sáng không chịu sáng, giữa hai dãy lầu khéo đứng để ngăn mặt trời, cả ngày chỉ là một buổi chiều dài. ở chợ Hôm đang náo nhiệt bao nhiêu, thế mà vừa đi một trăm bước để vào con đường này, cuộc đời bỗng quạnh hiu, làm cho nhà cửa ngơ ngẩn”.


Có thể bảo rằng đây là một nét Hà Nội trước cách mạng rất hiếm người nhận ra, cái Hà Nội mờ mờ, nhạt nhạt, bùi ngùi như Xuân Diệu hay nói, cái Hà Nội giống như trong tranh Bùi Xuân Phái, trời đất không ra sáng, không ra tối, chỉ thấy nhà không thấy người, và những mái nhà thì tuy nhỏ nhoi, nhưng không cái nào giống cái nào.


Chính một thứ Hà Nội bùi ngùi như thế này đã quyết định những chuyển hướng trong cuộc đời và trong thơ Xuân Diệu…


Theo chính Xuân Diệu kể, thì trước khi về 61 Hàng Bông, cái gác vá áo nói trên. Xuân Diệu còn cùng với Huy Cận ở 40 Hàng Than. ở đây Xuân Diệu và Huy Cận ở trên gác, còn người ở gác dưới là nhà thơ Lưu Trọng Lư. Lưu Trọng Lư từ miền trung ra Hà Nội trước Xuân Diệu, bấy giờ đã sống bằng ngòi bút, ông nhận làm thuê cho Tiểu thuyết thứ bẩy, Phổ thông bán nguyệt san lương mỗi tháng là sáu chục đồng.


Nhưng bao nhiêu màu sắc kỳ lạ của cuộc sống Hà Nội bấy giờ không làm cho thi sĩ yên tâm. Nhìn vào đời sống Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu thấy chẳng có gì bảo đảm. Chưa đầy ba mươi tuổi mà Xuân Diệu đã cảm thấy hết cái lạnh lẽo của kiếp sống con người. Huy Cận than: “Phố không cây, ôi sầu biết bao chừng” nghe còn mơ màng. Xuân Diệu nói rõ hơn: “Cơm áo không đùa với khách thơ”, thật là cụ thể. Có lẽ là nghề viết không nuôi nổi người ta thật, nên mê văn chương, mê Hà Nội vậy, Xuân Diệu vẫn phải bỏ cả hai mà đi làm tham chính nhà đoan ở Mỹ Tho ba năm, khi Huy Cận đỗ kỹ sư canh nông nuôi được bạn rồi, hai người mới đoàn tụ.


 


Khi nghe tôi hỏi về những ấn tượng mà Hà Nội để lại trong tâm trí mình, Xuân Diệu ngước mắt lên thoáng nghĩ gì đó, rồi nói rằng sẽ có lúc mình viết về trời đất, nắng gió Hà Nội. Tuy nhiên, còn một điều ông đã nói ngày. Hà Nội bây giờ là cái xưởng làm việc của ông, là nơi cung cấp cho ông đủ “nguyên vật liệu” để suy nghĩ, nghiên cứu, lại tạo không khí đủ ấm, đủ nóng để cái nụ của sự sáng tạo thành hoa, cái mầm trong hạt lớn lên thành cây. Ngoài ra, phải nói là từ sau cách mạng, Xuân Diệu sống giữa Hà Nội thấy đầm ấm hơn. Ông lại hay đến với Hồ Tây rất rô-măng-tích, như ông đã nghĩ, hơn bốn chục năm trước. Lại hay đến Trại trồng hoa Ngọc Hà, tới xem đào Nhật Tân… Trong khi đường trăng- đường thơ- đường tình yêu của Xuân Diệu lúc này mở rộng ra tới tận Láng “thơm bạc hà, canh giới” thì hàng ngày, Xuân Diệu vẫn sống bên phố phường nhà cửa, những con đường đậm bóng sấu Hà Nội, và viết, lao động, với một nhịp điệu mà những người trẻ tuổi cũng phải ghen tị.


(còn tiếp)


Nguồn: Nhà văn hôm nay với Hà Nội (Kể chuyện đời sống văn học). Ký của Vương Trí Nhàn

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
Na Hang: Sắc nước hương trời - Trần Mai Hưởng 30.09.2019
Nhìn mưa, nhớ Nguyễn Ngọc Ly - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Trúc Cương - Liêu xiêu một đời - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Ngôi sao xa xôi thưở ấy - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Sun Group, Địa Ngục Tự - Bài 2: Dấu chấm hỏi về 'vòng tròn khép kín' ở Tam Đảo II - Nhiều tác giả 26.09.2019
Điều tra độc quyền: Sun Group, Địa Ngục Tự và ma trận chiếm lĩnh rừng quốc gia Tam Đảo - Nhiều tác giả 23.09.2019
Nguyên Ngọc con người lãng mạn - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2019
xem thêm »