tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29929396
05.10.2010
Vương Trí Nhàn
Nhà văn hôm nay với Hà Nội (Kể chuyện đời sống văn học) (1)

Như tên gọi đã ghi rõ cuốn sách này đi vào tìm hiểu ảnh hưởng của Hà Nội đối với đời sống các nhà văn Việt Nam hôm nay. Qua các tài liệu văn học sử cũng như qua các hồi ức, kỷ niệm của các nhà văn, và chủ yếu là qua chuyện trò trực tiếp với các nhà văn đang sống, tác giả cuốn sách có dịp trình bày tình cảm thiêng liêng của nhiều nhà văn với Hà Nội: đây là nơi họ học nghề, trưởng thành dần về nghề nghiệp. Nhưng quan trọng hơn, đây là nơi họ có dịp tiếp xúc với các vấn đề quan trọng của đời sống xã hội, từ đó xác định cho mình một hướng viết đúng đắn. Có những nhà văn chưa viết gì trực tiếp về Hà Nội, nhưng vẫn có thể nói cùng với Hà Nội mà mình đã trưởng thành.


Qua sách, bạn đọc có dịp biết thêm một số nét tiểu sử cũng như tác phẩm của hơn 50 nhà văn thuộc các thế hệ khác nhau, từ Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Xuân Diệu, qua Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Chính Hữu, Hồ Phương, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Thành Long tới Bùi Minh Quốc, Đỗ Chu, Lưu Quang Vũ, Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa v.v…


Một số ghi nhận bước đầu về những mối quan hệ tốt đẹp


 


I


Những ngày cuối tháng chạp 1972 bắt đầu sang đầu xuân 1973, sau khi đánh thắng B52 của giặc Mỹ, Hà Nội lấy lại nhịp sinh hoạt bình thường. Các thư viện vẫn mở cửa, các buổi nói chuyện được tiếp tục. Và một trong những buổi sinh hoạt văn học kiểu đó là buổi nói chuyện của nhà văn lão thành Nguyễn Tuân tại Thư viện Hà Nội. Đặt cái mũ sắt ngay bên cạnh ngọn đèn trên bàn diễn giả – chiếc mũ sắt đã theo ông suốt những ngày chống B52 và hình ảnh ông đội mũ sắt từng được ghi lại qua một bức ảnh trên báo Văn Nghệ – Nguyễn Tuân nói tới rất nhiều xúc động đến với ông hôm đó, nhưng tôi nhớ hơn cả là cái ý ông dùng vào đề cho bài nói chuyện của mình:


- Các nhà văn hãy viết thêm về Hà Nội.


- ở nước nào cũng vậy, thủ đô là một đề tài rất quen thuộc trong văn học. Những nhà văn lớn của một nước ít nhiều vẫn viết về “trái tim lớn” của nước đó.


- Và Hà Nội đáng để chúng ta viết, còn nhiều điều để viết.


Mười mấy năm đã trôi qua, kể từ ngày nghe Nguyễn Tuân nói chuyện. Giá đi vào đọc hết mọi sáng tác đã đăng trên báo chí và in thành sách, tôi tưởng cái đề tài Hà Nội những năm qua cũng đáng được dành riêng trong một công trình nghiên cứu. Nếu điểm qua các sáng tác về thủ đô đã in ra suốt từ xưa đến nay, chắc lại càng nhiều điều lý thú nữa. Nhưng có một khía cạnh chúng tôi cũng thấy rất tâm đắc, nhân nghe Nguyễn Tuân nói chuyện, đó là: Mối liên hệ rằng rịt giữa nhiều thế hệ nhà văn, nhà thơ nước ta với thủ đô Hà Nội. Trong trường kỳ lịch sử cũng như hôm nay, đó là một mối liên hệ vững vàng, ổn định.


Sở dĩ chúng ta có thể và còn cần viết nhiều về Hà Nội, bởi trong cuộc đời chúng ta, Hà Nội vốn  đóng một vai trò lớn lao, đôi khi lớn lao hơn nhiều, so với chúng ta vẫn tưởng.


 


Mở đầu chương một cuốn sách viết về Cao Bá Quát mới in ra 1982, nhà nghiên cứu Nguyễn Nghiệp viết: “Dưới triều Nguyễn, Thăng Long không còn là đất kinh kỳ nữa. Cảnh vật Thăng Long cũng do đó mà trải nhiều phen biến đổi…”


Tiếp đó là những đoạn mô tả khá kỹ về thành quách, nhà cửa, sinh hoạt ở Thăng Long. Sở dĩ phải làm như vậy, vì theo Nguyễn Nghiệp, trong giai đoạn đầu trong cuộc đời Cao, từ đó hình thành tính cách Cao Bá Quát, “ông vẫn là một nhân vật của Thăng Long”, “lớn lên với Thăng Long”.


Có thể dễ dàng đồng tình với nhận định về cách làm như trên, bởi trong lịch sử văn học Việt Nam, trường hợp như Cao Bá Quát rất phổ biến. Vào cái thời mà Hà Nội còn là mảnh đất nhỏ hẹp, quê hương của nhiều danh nhân văn hoá nước ta còn chính thức thuộc về các tỉnh lân cận Bắc Ninh, Sơn Tây, Hà Đông, Hưng Yên… Hà Nội vẫn được nhắc nhở trong các tiểu sử của họ, bởi đây là nơi họ học hành để khôn lớn nên người. Xã hội phong kiến Việt Nam phát triển thoi thóp suốt đêm trường trung cổ, không đủ tạo ra được những thành thị lớn, từ đó hình thành nên giới trí thức chuyên nghiệp. Nhưng trong cái đêm ròng đen tối đó, giữa bao nhiêu làng xóm bịt bùng, Hà Nội vẫn luôn luôn là một thứ đốm sáng, ảnh hưởng toả rộng ra các vùng lân cận. Từ cuối đời Trần, ngôi trường bên sông Tô của Chu Văn An, đã là một thứ “Trung tâm đào tạo trí thức”. Về sau dưới triều Lê, hoặc sang đầu triều Nguyễn, bao nhiêu nhà trường của ông đồ Cao Huy Giảng (thân sinh ra Cao Bá Quát) vẫn giữ được nhịp sinh hoạt đều đặn, tiếng bình văn sang sảng của Bùi Huy Bích, Nguyễn Văn Siêu… nổi tiếng một thời, khiến nhiều gia đình từ các làng xóm xa xôi cũng cố gửi con cái đến học, và trong giới “nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò” đó, không thiếu những người sau này ở lại với lịch sử văn học.


Các tài  liệu viết về “Bà chúa thơ nôm” đều có ghi rõ: tuy ông Hồ Phi Diễn, thân sinh ra Hồ Xuân Hương, quê ở tận Quỳnh Lưu, Nghệ Tĩnh, nhưng từ lâu, ông đã ra Bắc dạy học kiếm sống. Trước khi sinh Hồ Xuân Hương, gia đình ông đồ Diễn sống ở phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận, phía bắc thành phố, gần khu vực Hồ Tây. Lúc Hồ Xuân Hương lớn lên, gia đình lại dọn về thôn Tiên Thi, tổng Tiên Túc, huyện Thọ Xương, tức là mạn gần Hồ Gươm. Và như vậy, thì mặc dù có trôi nổi đi đến đâu nữa, Hồ Xuân Hương của chúng ta cũng Hà Nội “từ đầu đến chân”, từ thời con gái đi học, bên cạnh nhiều học trò con trai, đến lúc trở thành nhân vật được nhiều người biết tiếng, và cảm thấy mọi vui buồn của cuộc đời có lẽ cũng chỉ là chuyện thường tình.


Êm ái chiều xuân tới khán đài


Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai


Từ đầu thế kỷ XX, Hà Nội tiếp tục đóng vai trò trung tâm của văn hoá, giáo dục cả nước, học sinh người các tỉnh khác về học ở Hà Nội càng nhiều, không phải ngẫu nhiên những Tú Mỡ, Nguyễn Công Hoan, Vũ Ngọc Phan… ít nhiều đều có quen biết nhau từ thời đi học. Dù nguyên quán nơi đâu, mỗi người trong họ đều coi Hà Nội là quê hương thứ hai của mình, sống và viết với tư cách người Hà Nội.


Một vai trò khác mà thủ đô có được trong cuộc đời của nhiều nhà văn: sau khi đã học hành đầy đủ ở quê nhà, họ lên Hà Nội lập nghiệp; ba mươi sáu phố phường vừa là môi trường mở ra cho họ “kiếm sống” , vừa là “những trường đại học” của họ, và chính ở đó, tài năng của ngòi bút mỗi người có dịp nảy nở đầy đặn hơn cả. “Góc thành Nam, lều một gian”, nơi ấp ủ những suy nghĩ của Nguyễn Trãi trước khi vào Thanh Hoá với Lê Lợi là Đông Quan. Suốt thời Lê Mạt, Nguyễn Sơ, cha con anh em nhà họ Ngô Thì nhào về quê ít lâu lại bổ ra Thăng Long, nên mới chứng kiến được nhiều cảnh, nhiều “pha” đáng nhớ, trong thời ly loạn, như họ từng ghi lại trong Hoàng Lê nhất thống chí. Trong cuộc đời toàn tâm toàn ý nghiên cứu y học để lo trị bệnh cứu  người, chuyến lên kinh chẩn bệnh cho chúa Trịnh không thể phai mờ trong ký ức Hải Thượng Lãn Ông, khiến ông phải dành cho nó một thiên ký sự riêng. Còn Nguyễn Du? Chỉ với một bài Long thành cầm giả ca, đánh dấu hưng vong của thời đại, ta đủ hiểu tình yêu của ông đối với Hà Nội sâu sắc biết là ngần nào. Trong khói lửa chinh chiến liên miên, với Nguyễn Du, cũng như với nhiều nhà văn, nhà thơ xưa, Hà Nội vừa là cái gì luôn đổi thay, vừa là cái gì đó còn mãi.


Nhân đây, có thể nói thêm rằng cái ảnh hưởng mà thủ đô để lại trong đời văn của một người không chỉ do bằng thời gian người đó ở thủ đô dài hay ngắn. Có khi, chỉ một hay vài chuyến đi ngắn ngủi thôi cũng đã gây ra một “tình yêu sét đánh” – cố nhiên là tình yêu giữa nhà văn với thủ đô – để rồi cả đời văn của người đó thay đổi. Xưa đã như thế, ngày nay cũng như thế. Mà trong sự bừng tỉnh của con người, thì thời gian không được đo tính bằng những thước đo thông thường: nó phải được đo bằng những thay đổi to lớn để lại trong tâm trí người ta.


 


II


Trong lời bạt viết cho cuốn Sống mãi với thủ đô (tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng) in ra 1961, nhà văn Nguyễn Tuân từng đưa ra một nhận xét chung:


“hình như hầu hết danh nhân, anh hùng cổ kim nước ta đều là những con người Hà Nội. Các vị ấy có thể quê quán gốc tích ở “ngũ tỉnh đàng trong, tứ tỉnh đàng ngoài!” nhưng cái đoạn trội nhất của các bậc ấy vẫn là diễn ra trên mảnh đất thủ đô.


… Cũng là một điều đúng vậy, khi mọi người bảo rằng thủ đô là cái nơi kết tinh mọi phong vị nhân tài của một dân tộc đời này qua đời khác. Cho nên những con người Thủ đô bao giờ cũng bén nhậy sắc cạnh hơn những người khác với tất cả những ưu điểm và nhược điểm của nó, với tất cả cái trí cái dũng, cái tài, cái tật của nó”.


Ngay từ 1943, nhà văn Vũ Ngọc Phan trong cuốn Chuyện Hà Nội (Nhà xuất bản Bách Việt) cũng có những nhận xét tương tự. Ông nhắc tới một tình cảm của người đương thời là đi đâu cũng nhớ Hà Nội. “Nhiều ông từ mãi Cà Mâu, từ Sài Gòn, từ Quy Nhơn, từ Quảng Nam hay từ Huế lù lù dẫn ra Hà Nội, người ở đôi ba tháng, kẻ ở vài ba năm, có người chỉ vẻn vẹn dăm ba ngày, cũng mắc cái bệnh nhớ nhung Hà Nội, như những người đã quen sống, quen chết ở Hà Nội rồi”. Trong những lý do nảy sinh tình cảm đó, có lý do chân chính sau đây: Hà Nội là nơi người ta có thể học hỏi dễ dàng. “Những người ở Huế, Sài Gòn ra chơi đều thán phục Hà Nội về những cửa hàng sách…. Người ta khen Hà Nội là một nơi mà người thiếu niên ham muốn quốc văn dễ học, dễ khảo cứu, dễ tìm tòi…” Sau khi “nhại” ca dao cổ bằng hai câu lục bát mới:


Mười năm bút mực giang hồ


Có về Hà Nội cơ đồ mới nên.


Vũ Ngọc Phan lấy giọng người trong cuộc để nói về vai trò của Thủ đô với người cầm bút bấy giời: “ông muốn viết hay, viết tài đến đâu thì viết, tha hồ ông vẽ rồng, vẽ phượng, tha hồ ông nhả ngọc phun châu, nhưng nếu ông cứ yên chí ông là một nhà đại văn hào hay một nhà đại ngôn luận, rồi ông viết những sách những báo chí lưu hành quanh quẩn trong một vài tỉnh xa lắc mà Hà Nội không biết đến, tôi đố ông có thể trở nên một nhà văn hay một nhà báo có tên tuổi trên văn đàn hay trong báo giới Việt Nam”.


Vậy là Hà Nội còn có vai trò trọng tài, vai trò khẳng định các giá trị. Một ví dụ:  trước năm 1933, Thiếu Sơn vốn người Bắc vào Sài Gòn làm công chức bưu điện, và có viết một số bài phê bình trên báo Phụ nữ tân văn. Nhưng khi tập hợp các bài phê bình đó lại, làm nên tập Phê bình và cảo luận thì Thiếu Sơn cảm thấy phải gửi ra Hà Nội mới yên tâm. Một nhà xuất bản thủ đô đã in cuốn sách này của ông: Nhà Nam Ký. Một ví dụ khác: tập thơ đầu tay của Chế Lan Viên, tập Điêu tàn cũng in ra ở Hà Nội, dù tác giả không sống hẳn ở ngoài này. Có thể nói, cho tới trước 1945, vai trò của Hà Nội với tư cách một trung tâm văn học, hoàn toàn được nhất trí, suốt từ Nam đến Bắc.


Từ 1946 đến 1954, đất nước trải qua cuộc kháng chiến trường kỳ, đầu não chỉ huy kháng chiến ở Việt Bắc: đời sống văn học cũng nảy nở từ đấy. Nhưng từ 1955 trở đi, thì ở miền Bắc, vai trò của Hà Nội lại được khôi phục. Chỉ có điều cách hiểu về văn học bây giờ đã khác. Ngoài lớp nhà văn cũ, một lớp nhà văn mới trưởng thành từ kháng chiến, nhiều người trong họ từ Việt Bắc theo đoàn quân chiến thắng tiến về Hà Nội, chứ không phải từ quê nhà lên học hành lập nghiệp ở thủ đô như xưa. Các tiêu chuẩn về văn học được xác lập lại. Nhà văn ngày nay không thể quanh quẩn viết về sinh hoạt Hà Nội mà phải đến với đồng ruộng, công xưởng trên cả nước. Nhưng Hà Nội vẫn là nơi để các nhà văn học tập về nghề nghiệp, trau dồi bản lĩnh. Dư luận văn học ở Hà Nội vẫn là dư luận thông minh và đáng tin cậy nhất. Vẫn có thể nói là giữa đời văn của nhiều người và Hà Nội có một mối quan hệ tốt đẹp.


Tóm lại, nhìn vào thực tế trước cũng như sau 1945, người ta đều có thể nhận ra một sự thực: Hà Nội có vai trò đáng kể trong việc hình thành giới trí thức, từ đó, tạo ra bề rộng và bề sâu của sinh hoạt văn hoá trong cả nước. Đây là “sân khấu chính” của mọi diễn biến văn học, là nơi ủ ấp mọi thí nghiệm, nâng đỡ mọi tài năng, mà cũng là nơi nói lên tiếng nói cuối cùng nhằm đánh giá chất lượng sáng tác. Đặt một đời văn trên khung cảnh Hà Nội, người ta dễ dàng nhận ra những đường nét chủ yếu của đời văn đó.


 


III


Ngoại trừ những bài nghiên cứu có tính chất phê bình văn học hoặc văn học sử, đời sống văn học ở nước ta thường ít được nhận diện bằng những trang sách miêu tả cụ thể. Đến sinh hoạt văn học của cả một thời, một giai đoạn cũng ít được phác ra đầy đủ, đừng nói hình tích hành trạng của từng nhà văn. Tư liệu thiếu, vì không ai để công góp nhặt. Ví dụ như chung quanh mối liện hệ giữa các nhà văn và Hà Nội như nói ở trên, hiện chưa có ai tập hợp cho được đầy đủ.


Chỗ thiếu hụt ấy, hoạ may có trí tưởng tượng mới bù đắp nổi.


Tôi ước ao đến một lúc nào đó, có một nhà văn để công làm một tập truyện ngắn chung quanh câu chuyện quan hệ giữa các tác giả văn học và Hà Nội. Một buổi sáng nào đó trong gió rét, Nam Cao ra bến sông Hồng trở về quê, theo sau có thằng nhỏ nhà người quen gánh hộ mấy cái ghế mây mà ông tả trong Trăng sáng. Buổi tối trước khi Nguyễn Huy Tưởng từ giã Hà Nội để lên chiến khu dự Quốc dân đại hội. Hoặc lùi về trước sau những chuyến đi xa. Hồ Xuân Hương trở lại Hồ Tây; Còn Cao Bá Quát cũng lần chần ở Hà Nội vui với bạn bè vài ngày, trước khi lên nhậm chức giáo thụ Quốc Oai, để rồi tham gia vào một cuộc khởi nghĩa. Cái đêm mất ngủ của Nguyễn Du, sau khi gặp lại “Người gẩy đàn đất Long Thành”; một buổi chiều Tản Đà ngồi dịch Đường thi và viết thuê câu đối, v.v… Những tình tự ấy, mỗi cái đáng để viết thành một truyện ngắn, tất cả xâu chuỗi lại với nhau, tạo nên những chân dung văn học thú vị.


Phần tôi, trong cuốn sách này, tôi muốn ghi nhận một ít điều có thực trong số những ảnh hưởng mà Hà Nội để lại trong đời văn, một số nhà văn hôm nay. Anh đến Hà Nội từ năm nào? Những suy nghĩ của anh về đời sống văn học Hà Nội xưa và nay? Trong sinh hoạt nói chung và sinh hoạt văn học Hà Nội nói riêng, anh muốn tiếp nhận điều gì là chủ yếu, đâu là những điều thiếu đi, anh sẽ cảm thấy toàn bộ đời văn của mình thay đổi? v.v… Cuốn sách do vậy mang dáng dấp một thứ “câu chuyện nghề nghiệp”, chứ không phải một công trình nghiên cứu văn học.


Song đó là ước muốn!


Còn khi thực hiện, ngay từ khâu sưu tầm tài liệu, chúng tôi đã gặp phải những hạn chế không dễ gì vượt qua được.


Thoạt đầu, trong ý định chúng tôi dự tính làm những cuộc phỏng vấn với hàng loạt nhà văn. Ai dè, một việc tưởng là thật dễ dàng, lúc bắt tay vào làm mới thấy nảy sinh nhiều khó khăn. Không phải nhà văn nào cũng thấy cách làm việc đó là cần thiết! Một số khác không đồng tình với tất cả các câu hỏi của chúng tôi, mà chỉ muốn đi vào một số khía cạnh bản thân coi là quan trọng. Có những nhà văn do tính chất của sáng tác có liên quan nhiều đến Hà Nội, lẽ ra cần được nói kỹ, nhưng lại thường rất bận rộn hoặc đang ở xa, thành thử chúng tôi không thể tiếp xúc trực tiếp, mà phải thông qua các bài phát biểu, trả lời phỏng vấn trên báo chí, hoặc lời kể của bạn bè, rồi tổng hợp tất cả để viết lại. Hình thức cuốn sách do đó không thể thuần nhất, trước khi đưa ra những cuộc phỏng vấn với tính cách một ít trường hợp tiêu biểu, phần chính trong mỗi chương sách là những đoạn do người viết sách đứng ra kể.


Nhân đây, cho phép chúng tôi có được ít dòng xin lỗi: một số chi tiết đời riêng, hoặc những câu trò chuyện bâng quơ khi bạn bè gặp nhau ít nhiều có được khai thác. Dụng ý của chúng tôi chỉ là muốn giúp bạn đọc hiểu đời sống văn học trong vẻ sinh động của nó.


Mặc dù đã hết sức cố gắng tìm tòi tài liệu và khai thác những phương tiện hỗ trợ khác, song công việc của chúng tôi còn bị hạn chế về nhiều mặt. Theo thống kê sơ bộ, hiện nay chúng ta có khoảng gần bốn trăm cây bút đã là Hội viên Hội Nhà văn, ngoài ra còn rất nhiều cây bút khác đang là Hội viên các hội văn nghệ các tỉnh và có nhiều người đang viết rất khoẻ, biết đâu sẽ thành chủ lực trong đội quân sáng tác nay mai. Mỗi đời văn đó, có cách hình thành riêng, và nói hẹp ra, thì cũng tiếp nhận toàn cảnh văn học theo những cách riêng để làm nên bản lĩnh của mình. Trong khi đó, cuốn sách của chúng tôi chỉ giới hạn trong những câu chuyện liên quan đến vài chục người và nhân đó nhắc thêm vài chục người khác. Chắc chắn đó là một thiếu sót, rất mong các đồng nghiệp và bạn đọc lượng thứ.


 


Phần thứ nhất


Từ 1945 về trước, mặc dù bị thực dân Pháp tìm đủ cách hạn chế, thủ đô Hà Nội vẫn là một trung tâm văn hoá lớn, nơi sinh hoạt văn học luôn luôn sôi nổi, mà cũng là nơi có nhiều cơ quan báo chí và xuất bản có uy tín. Bởi vậy, đời văn của nhiều cây bút nổi tiếng đều gắn bó với Hà Nội. Sau đây là một số ví dụ. Trong khi nêu ra ảnh hưởng của sinh hoạt văn học ở thù đô với quá trình vào nghề của các nhà văn này, trong một số trường hợp có thể, chúng tôi cũng phác hoạ thêm những khía cạnh ảnh hưởng của Hà Nội, trong đời văn của họ những năm gần đây (từ 1954 trở đi)


 


Hoàng Ngọc Phách


Mỗi khi nghe nhắc Tố Tâm, chúng ta nhớ tới một thời đã lâu lắm, thời của Quả dưa đỏ, giải thưởng Khai trí Tiến Đức, thời của những Trần ai tri kỷ, Đài gương của Tản Đà, thời thơ Tương Phố, và Kim sinh luỵ, Bút quan hoài của Trần Tuấn Khải.


Sự thực, tác giả Tố Tâm mới mất cách đây hơn chục năm, năm 1973, và trước đó, những năm năm mươi, sáu mươi, ông vẫn đứng tên chung với Lê Thước, Trương Chính trong một số công trình nghiên cứu. Ông sinh năm 1896, tức là sau Tản Đà 8 năm, sau Ngô Tất Tố 2 năm, trước Tú Mỡ 4 năm, Nguyễn Công Hoan 7 năm. Khi ra số đặc biệt Các nhà văn Việt Nam (1982), trong mục ( Các nhà văn đã quá cố), báo Văn nghệ đã ghi tên Hoàng Ngọc Phách, có lẽ vì những lý do đó.


ở đây, chúng ta sẽ nói thêm: Hoàng Ngọc Phách cũng chính là một trong những nhà văn Việt Nam hôm nay mà sự nghiệp sáng tác gắn với Hà Nội, do ở Hà Nội mà viết, và ban đầu cũng viết ngay về những nét sinh hoạt của Hà Nội.


Nguyên ông vốn người Đức Thọ, Hà Tĩnh. Nhưng ngay từ khi mười ba tuổi, tóc còn để chỏm đào, đã ra Hà Nội, học ở một trường tư thục thuộc ấp Thái Hà sau đó, học tiểu học ở trường Hàng Vôi (nơi đã đào tạo ra Tú Mỡ, Vũ Trọng Phụng, Vũ Đình Liên, v.v…) rồi học trường Bưởi bốn năm. Thời thanh niên của Hoàng Ngọc Phách gắn liền với những kỷ niệm về các trường học này của Hà Nội, cũng như ở trường Cao đẳng Sư phạm về sau. Trong Tố Tâm, có đoạn nhìn ra Hồ Tây, nhân vật Đạm Thuỷ tự kể:


- Tôi nhớ khi còn học trường Bưởi bên cạnh hồ này, mấy anh em ra đứng bờ hồ, ném thia lia, thả thuyền giấy, chơi đùa hớn hở, phong cách xem như bỡn cợt với mình.


Trong khi đi học, Hoàng Ngọc Phách đã sống đúng như thế.


Thời gian học ở trường Bưởi, Hoàng Ngọc Phách phần nhiều làm thơ, theo các thể thơ cổ. Khi lên Cao đẳng Sư phạm, ông mới viết văn xuôi. Tuy vậy, Tố Tâm, đứa con một của tác giả trong lĩnh vực tiểu thuyết, là một thành công đáng kể. Tác phẩm trở thành cái mốc trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XX. Trong dịp trả lời một nhà báo đến phỏng vấn, Hoàng Ngọc Phách giải thích một cách giản dị, đại ý nói sở dĩ tiểu thuyết được hoan nghênh (trước 1945 đã in cả thảy bốn lần), vì lúc ấy dân mình “đang cần một cuốn tiểu thuyết như thế”. Điều đó nói lên rằng ông đã nắm bắt rất trúng “khí hậu” văn học đương thời, nhất là những đòi hỏi của thanh niên.


Nhìn lại nội dung tập sách, có điều lý thú là các nhân vật chính trong Tố Tâm đều mang cốt cách Hà Nội khá rõ. Quê họ ở đâu không biết, nhưng họ lớn lên ở đây, và sống với không khí chung quanh một cách rất hoà hợp. Năm 1973, trong bài viết nhân dịp Hoàng Ngọc Phách qua đời, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan cho biết:


“ Những nhân vật trong Tố Tâm đều phảng phất giống những thanh niên Hà Nội năm xưa ấy. Tố Tâm “nền” lắm. Cô là con nhà gia giáo, nên bao giờ cũng đi xe sắt – tức xe kéo bánh sắt – chứ không bao giờ đi xe cao su như bọn me tây. Cô rất diện nhưng cũng chỉ diện tới mức bịt khăn lụa đen, thứ khăn mốt nhất thời bấy giờ”.


Đây có lẽ là một trong những lần ít ỏi hình ảnh con người Hà Nội được miêu tả kỹ đến như thế!


Trường hợp Hoàng Ngọc Phách và Tố Tâm chứng tỏ một hiện tượng xã hội có thực hồi đầu thế kỷ này: Đó là sự tập trung của giới trí thức mới chung quanh Hà Nội. Dù là của những tỉnh rất xa, khi đã ra đây, họ nhập vào không khí sinh hoạt chung. Và cái mà họ miêu tả trong tác phẩm của mình, ban đầu thường là những sinh hoạt của Hà Nội. Cuộc sống bấy giờ có cái phía ổn định của nó, và khi bắt gặp hình ảnh đời sống quanh mình trong tác phẩm, người ta hoan nghênh thì cũng là chuyện thường tình.


Sau Tố Tâm, Hoàng Ngọc Phách không viết tiểu thuyết nữa, các hoạt động khác như dạy học, khảo cứu đã lôi cuốn ông.


 


Nguyễn Công Hoan


Với tư cách tác giả tiểu thuyết Bước đường cùng và nhiều truyện ngắn ghi lại tình cảnh bần cùng của người nông dân Việt Nam trước 1945 như Thịt người chết, Chiếc quan tài, Đi giày, Công dụng của cái miệng v.v… Nguyễn Công Hoan có vẻ như một tác giả của nông thôn. Các tài liệu nghiên cứu cũng thường nhấn mạnh ông từng dạy học ở nhiều vùng thuộc các tỉnh xa: ở Kinh Môn, ở Trà Cổ, ở Lào Cai, Thái Bình, v.v…


Nhưng chính Nguyễn Công Hoan đã học ở trường Bưởi Hà Nội từ khi chưa đầy mười tuổi. Ông còn nhớ rất rành mạch cuộc sống khi nội trú trong trường, khi ra trọ ở Hàng Hài (phố Hàng Bông hiện nay)… Nói chung nhiều mặt đời sống Hà Nội những năm ấy, còn được ghi lại trong các tập Đời viết văn của tôi, Nhớ và ghi. Nào là vụ dịch tả ở Hà Nội hè 1914; nào cảnh người ngoài phố giàu có bấy giờ còn đi xe ngựa song mã, độc mã, các thày giáo ở trường Bưởi còn đội khăn, đi giày ta, bít tất trắng.  Nào những hiệu bán sách vở giấy bút, nào hiệu cho thuê xe đạp để tập, v.v… Chúng ta có thể nhận xét tuy còn nhỏ tuổi, nhưng cậu học sinh này rất hóm, nghịch, hay tò mò để ý mọi chuyện, và hay phá quy tắc “vượt rào” làm chuyện ngược đời. Mặt khác, từ nhỏ, Nguyễn Công Hoan đã quen với nhân tình thế thái người phường phố, thành thạo sự đời, và chả coi cái gì làm quan trọng. Đấy là những đặc tính ăn sâu vào cách nhìn của ông trước đời sống. Thành thử, tuy không phải bao giờ cũng trực tiếp đả động đến chuyện Hà Nội, nhưng trong cái nhìn của ông, chất Hà Nội rất rõ.


Không bao giờ ông tỏ ra ngây thơ dại dột mắc lừa người khác. Dân con buôn Hà Nội có định “chơi” ông thì ông “chơi lại, chứ không kém cạnh” (chữ của Nguyễn Công Hoan trong Đời viết văn của tôi).


Cũng chính là ở Hà Nội, mà Nguyễn Công Hoan làm quen với những người viết văn, viết báo đương thời, và sống trong giới những người làm nghề này một cách thoải mái, Nguyễn Công Hoan kể: Do trọ học ở Hàng Hài, mà ông sớm làm quen với Tản Đà. “Ông Tản Đà thấy tôi khôi ngô, lanh lợi, nên tuy tôi ít tuổi hơn ông nhiều, nhưng ông không coi tôi như trẻ con”. Mối giao tình giữa Nguyễn Công Hoan và Tản Đà kéo rất dài, đến nỗi, sau này, có người ngạc nhiên, tại sao một người trữ tình duyên dáng như Tản Đà, lại rất thân với một người bông phèng, tinh quái như Nguyễn Công Hoan. Và người ta bảo tác giả Bước đường cùng là một thứ “quái thai” của tác giả Khối tình con (!). Có điều là dù bông phèng thế nào, bao giờ Nguyễn Công Hoan cũng dành cho Tản Đà những dòng rất trân trọng.


Không những làm quen với Tản Đà, Nguyễn Công Hoan còn gặp gỡ nhiều nhân vật có tiếng hồi ấy, như Mâu Châu Nguyễn Mạnh Bổng, Ngẫu Trì Trịnh Đình Rư và nhiều người khác . “Tôi thích đến chơi với các nhà văn ấy. Tôi coi họ  như các anh. Họ cũng coi tôi như em nhỏ. Tôi đến với họ, chỉ để nghe chuyện hơn là để góp chuyện… Nhiều lần trí tò mò của tôi được thoả mãn. Họ rất tinh quái. Những buổi đến với họ, dù ngồi đến khuya, tôi cũng không tiếc thì giờ, khi về còn lấy làm khoan khoái”.


Nguyễn Công Hoan thường bảo mình viết văn do năng khiếu và người ta nói chung viết được là do trời sinh ra, không có bài bản nào sẵn, không có trường sở nào dậy được. Nhưng chẳng phải cái môi trường trong đó có Tản Đà và những người vừa kể đã thúc đẩy ông đến với nghề văn một cách mạnh mẽ?


Về sau, dù đi dạy học ở xa, Nguyễn Công Hoan thường vẫn gắn bó với đời sống văn học Hà Nội. Ông biết tường tận xu hướng cách làm ăn của từng tờ báo. Có khi nghỉ hè, ông về Hà Nội để trông nom báo giúp bè bạn, như giúp Đỗ Văn trông nom tờ Nhật Tân hoặc bàn với Tản Đà việc tái bản An Nam tạp chí. Nơi Nguyễn Công Hoan gắn bó nhiều hơn cả là nhà Tân Dân. Vũ Đình Long là chỗ quen biết với ông từ hồi đi học, khi bắt đầu ra Tiểu thuyết thứ bẩy, có bàn kỹ với Nguyễn Công Hoan. Nhiều tác phẩm của ông đã in ở đấy.


Thế còn sáng tác? Trên đây, chúng ta đã nói Hà Nội mang lại cho ông một cái nhìn. Do những thành thạo của người “kẻ chợ”, đi nhiều biết nhiều, ông không bao giờ rơi vào lý tưởng hoá cảnh điền viên ở nông thôn như một số nhà văn lãng mạn thường làm.


Mặt khác, ông vẫn viết nhiều về chính “chốn thị thành”. Vốn liếng của tác giả khá phong phú. Chính ta có thể lọc ra ở truyện ngắn Nguyễn Công Hoan những chi tiết liên quan đến nhiều lớp người.


- Phu xe, nhà thổ nghèo, không có cả chỗ hành nghề (Người ngựa và ngựa người); các loại ăn mày, ăn cắp “nghiệp dư” bất đắc dĩ (Bữa no đòn, Cái vốn để sinh nhai; dân đi ở ngu ngơ bị cả chủ lừa (Thằng Quýt).


- Các loại me tây hoặc lưu manh mới nẩy nòi làm giàu, học đòi: Báo hiếu trả nghĩa cha, Báo hiếu trả nghĩa mẹ, Cô Kều gái tân thời.


Ngoài ra, Nguyễn Công Hoan còn miêu tả cảnh đào kép ở các rạp hát rẻ tiền hoặc lớp công chức nhỉnh hơn một chút (Tôi cũng không hiểu tại làm sao v.v…)  Như tác giả kể trong Đời viết văn của tôi, truyện Đào kép mới được viết khi ông đang ở Nam Định, nhưng nhiều chi tiết lại lấy ở hai rạp tuồng Năm Chấn và Thông Sang ở Hà Nội mà Nguyễn Công Hoan quen từ thuở nhỏ. Hà Nội đã cung cấp một kho vốn sống vô tận, tác giả còn dùng đến nó trong nhiều năm về sau.


(còn tiếp)


Nguồn: Nhà văn hôm nay với Hà Nội (Kể chuyện đời sống văn học). Ký của Vương Trí Nhàn

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
Na Hang: Sắc nước hương trời - Trần Mai Hưởng 30.09.2019
Nhìn mưa, nhớ Nguyễn Ngọc Ly - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Trúc Cương - Liêu xiêu một đời - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Ngôi sao xa xôi thưở ấy - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Sun Group, Địa Ngục Tự - Bài 2: Dấu chấm hỏi về 'vòng tròn khép kín' ở Tam Đảo II - Nhiều tác giả 26.09.2019
Điều tra độc quyền: Sun Group, Địa Ngục Tự và ma trận chiếm lĩnh rừng quốc gia Tam Đảo - Nhiều tác giả 23.09.2019
Nguyên Ngọc con người lãng mạn - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2019
xem thêm »