tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30439976
Lý luận phê bình văn học
10.08.2010
Đỗ Quyên
Đến trường phái thơ Việt từ cảm thức Hậu hiện đại Việt

Theo dòng chảy của tri thức và sinh hoạt văn hóa, các trường phái văn nghệ sinh ra là để... chết. Chết khi hết vai trò. Và lưu lại trên sân sáng tạo của ngôi nhà nhân loại một viên gạch của riêng mình.


Nói về trường-phái-nhóm thơ theo cùng thi pháp, phong cách, hơn một thế kỷ qua ở Tây phương, nhất là Pháp, Mỹ đã từng rực rỡ biết bao mặt-trời-thơ nhỏ to khác nhau. Với thơ Việt, từ sau thời Thơ Mới tới thời hiện đại rồi Hậu hiện đại, cũng đôi lúc lấp lánh các vì sao lạ, dự phần tỏa sáng bầu trời thơ ca nước nhà.


 


Trước 1975: Hai “khuôn viên văn nghệ” là nhóm thơ Bình Định 1936-45 (đưa tới trường thơ Loạn) và nhóm Sáng Tạo 1956-65 đều không là các tập hợp văn học về thi pháp có tính cách mạng mỹ học như hai nhóm Xuân Thu Nhã Tập 1939-42 (cả lý thuyết và thực hành), và nhóm Dạ Đài (với tuyên ngôn Tượng trưng 1946, được hội thảo quốc tế 2006 của Viện Văn học Việt Nam (1) xem xét - có lẽ lần đầu? - như một thi phái Việt chưa kịp thực hành.)


Sau 1975: Nhóm thơ Tân hình thức Việt (2) với lý thuyết và thực hành gây tiếng vang đáng kể trong thi giới, từ ngoài nước tới trong nước, kể từ năm 2000 đến nay. Mới nhất là tuyển tập song ngữ Thơ Kể - Poetry Narrates (NXB Lao Động, Hà Nội, 5-2010) với 22 tác giả Việt toàn cầu. Đây là tuyển tập thứ hai, và là đầu tiên in ở trong nước, của thơ Tân hình thức Việt. Nhóm thơ Mở Miệng ra đời 2001, tạo “tăm tiếng cùng tai tiếng” trên báo chí, trang mạng văn nghệ các năm 2003-06 và cả tới nay, nhưng chủ yếu là ở các vấn đề “ngoài thơ”.


 


Đã mươi năm rồi, một cao trào - với đúng nghĩa của nó – mang tên Hậu hiện đại, được thực hiện ở văn học Việt, nhất là thơ và tiểu thuyết, trong lẫn ngoài hình chữ S, có tới hàng chục người viết cứng cỏi. Ngay trong dòng chính cũng ngày một tăng, với Nguyễn Bình Phương và Mai Văn Phấn, với Inrasara và Thuận, với Nguyễn Quang Thiều và Lê Anh Hoài, v.v... Đó là chưa tính các tay bút vang danh từ thời Đổi mới có các dấu hiệu Hậu hiện đại như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài...


Về sách xuất bản, dù chưa nhiều để giới sáng tác tham chiếu, cũng đã có một số khảo cứu, giới thiệu vấn đề Hậu hiện đại của các nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Hưng Quốc, Trần Quang Thái, Hoàng Ngọc-Tuấn, Phương Lựu, Nguyễn Văn Dân... và sách dịch của các dịch giả Ngân Xuyên, Nguyễn Ước, Trần Tiễn Cao Đăng...


Lãnh vực phê bình văn học và phê bình truyền thông cũng đạt mức trào lưu với đóng góp hữu hiệu của rất nhiều nhà nghiên cứu, phê bình như Hoàng Ngọc Hiến, Phạm Xuân Nguyên... Có lẽ chỉ còn yếu về phê bình hàn lâm, nghiên cứu bài bản, giảng dạy khoa bảng?


 


Nhưng, tư duy Hậu hiện đại Việt vẫn còn như một thách đố, chưa được nhiều người sáng tác, phê bình và nhất là độc giả nhìn nhận là cơ sở của một dòng văn-học-thật. Mà bị coi như thứ dị ứng xã hội bằng chữ nghĩa, như lối quậy phá văn chương truyền thống, mẫu mực và hiện đại, hay như một thứ giả-văn-học. Qua một số bài vở đáng chú ý gần đây (Những bài giới thiệu các nhà thơ Hậu hiện đại Việt của nhà thơ-nhà bình luận Inrasara (3); Phỏng vấn trên báo mạng Tổ Quốc và trên Tạp chí Thơ (Hội Nhà văn VN) của nhà nghiên cứu Trần Thiện Khanh; Mới nhất là thảo luận bàn tròn trên mạng của nhà thơ Phan Nhiên Hạo (4), chúng tôi thấy cái khó ló ra từ văn hóa tiếp nhận, từ cách đọc của người Việt, chứ chưa hẳn do văn phong hay nội dung của văn chương Hậu hiện đại Việt.


Chẳng hạn... Câu hỏi dễ nảy ra: trong 18 thi sĩ của danh-sách-Inrasara ở cuốn “Thơ Việt, từ Hiện đại đến Hậu hiện đại”, những ai Hiện đại, những ai Hậu hiện đại, những ai từ Hiện đại đến Hậu hiện đại, và đoán trước những ai Hậu hậu hiện đại?


Rồi đến việc mỗi tác phẩm, ngay cả của một tác giả, thường có một bút pháp riêng. Ai cũng kêu trời đất rằng, Hậu hiện đại quá nhiều sách vở lý thuyết, cuốn nọ cãi cuốn kia. Nó đa thanh tới mức không thể đồng thanh trong một lý thuyết văn hóa chỉnh tề.


Còn ý thức Hậu hiện đại? Lưng lạc đà chất gì lên cũng được! Không là trường phái, Hậu hiện đại không có phương pháp luận ổn định và nghiệm đúng cho mọi tác giả, cho mọi tác phẩm của một tác giả. Không chừng đó là “Phản Hậu hiện đại”? Mà Phản Hậu hiện đại lại chính là Hậu hiện đại! Trong tất cả các khuynh hướng của văn thơ, chắc chỉ Hậu hiện đại chấp nhận sự phản? 


 


Lại còn một loại phản biện khác, rất là... Hậu hiện đại: “Không cần cổ xúy nữa! Trò chơi Hậu hiện đại đâu còn mới mẻ với các tác giả Việt Nam. Ngay ở chính quốc của thơ Hậu hiện đại là Mỹ, nó đã đi xuống vài chục năm rồi!” Đó là logic rất thường trực trong mọi tranh luận, ở các nơi sự kiện xảy ra sau và các chốn chậm phát triển. Một logic không công bằng! Thuận lý mà bất tình. Là nơi có sở đoản về học thuyết, đương nhiên châu Á và Việt Nam sẽ mãi đi sau phương Tây trong các trào lưu, nhóm phái. (Nếu không muốn nói theo lối cũ: chủ thuyết của phương Đông là không chủ thuyết!) Nhưng không vì thế khi thấy họ bỏ, mình cũng bỏ theo, dù chưa dùng hết cho hợp với xã hội mình, con người mình. Hậu hiện đại Mỹ đi vào thoái trào, xét cho cùng, là việc của người Mỹ. Dân Việt nếu như bỗng “xông lên” cao trào Hậu hiện đại Việt, lại là câu chuyện khác!


 


Qua biết bao bàn thảo, với chúng tôi, điều “chốt” lại là lập luận như sau của nhà nghiên cứu người Nga Konstantin Kornev (5): “Chủ nghĩa Hậu hiện đại đem lại cho con người phương Đông cơ hội chiến thắng văn hóa Tây phương trong chính mình, chiến thắng tính duy lý Tây phương đã bóp méo ý thức hắn, nhờ chính thuốc trị Tây phương. (...) Như vậy, Hậu hiện đại có hai bộ mặt – Đông và Tây. Cái ở phương Tây là sự tự hủy, thì ở phương Đông lại là sự giải phóng và sự trở về mình.”


Thiết nghĩ, xã hội Việt và văn học Việt có thể còn dai dẳng với các điều kiện Hậu hiện đại 10-20 năm nữa.


 


Thi ca là triết học cất cánh, bay vào hoặc bay ra trái tim người.


Chúng ta cần có một chương trình nghiên cứu hệ thống và thực dụng về các hướng đi mới-khác-lạ của thơ ca Việt Nam mà trước đây nó chưa đi hết, đến nay nó chưa đi tới...


Văn hóa nào cũng có thơ ca làm tinh hoa. Từ lâu chúng ta thường an phận rằng, văn hóa Việt không có luận thuyết theo quan niệm phương Tây. Trong bốn nhóm, trường thơ Việt Nam xứng danh mà chúng tôi thử đề xuất – đó là: nhóm thơ Bình Định/trường thơ Loạn, nhóm Xuân Thu Nhã Tập, nhóm Dạ Đài và nhóm Tân hình thức Việt, thiển nghĩ, nhóm Xuân Thu Nhã Tập (7) đến nay duy nhất có lý thuyết thơ hài-hòa-Đông-Tây và thực hành đủ thuyết phục về chất-thơ; thế nhưng trên thực tế vẫn bị xem là không thành quả. Trái thơ Xuân Thu Nhã Tập hậu thế khó ăn nổi, chỉ nên ngắm và tôn thờ.


 


Chỉ trong mười năm qua, cũng đã có thêm một số khởi xướng, tìm hiểu và thử nghiệm về cách-làm-thơ-Việt, của những tác giả độc lập chưa được, hay chưa thể, trở thành “trường phái” hoặc trở nên có lý luận. Với sự theo dõi hạn hẹp, chúng tôi muốn dẫn ra các điển hình như Lý thuyết Cấu của nhà thơ-nhà lý luận Khải Minh (8), các thủ pháp, kỹ thuật mới như Thơ phụ âm của nhà thơ Đặng Thân (9), Thơ thực hiện của nhà thơ Nguyễn Tôn Hiệt (9) và của đôi ba thi sĩ khác nữa mà hầu hết đều chuyên chở các yếu tố Hậu hiện đại.


 


Cuối cùng, xin mạnh dạn đề nghị “Hội nghị quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài” lưu tâm một đề tài xứng đáng làm vùng sáng trong thơ Việt, cần được thể hiện trên văn đàn quốc tế. Đó là trào lưu trường ca Việt Nam (10) (mà năm ngoái chúng tôi đã có dịp khơi mở ở một số diễn đàn như vanchuongviet.org, damau.org, lethieunhon.com)


 


Quan niệm rằng, thể loại như một thi pháp, cảm hứng chủ đạo như một phương pháp, chúng tôi chia sẻ cùng nhận định của nhà nghiên cứu văn học Chu Văn Sơn (11), “về thể loại, sự bùng nổ của trường ca có lẽ là hiện tượng đáng kể nhất của thơ Việt Nam từ nửa sau thế kỷ 20 đến giờ”.


 


Với thống kê sơ bộ còn nhiều thiếu sót, danh sách tác giả và tác phẩm trường ca Việt Nam của chúng tôi cho thấy, kể từ thời Thơ Mới tới nay, có 122 nhà thơ Việt Nam đã viết ít nhất một trường ca hoặc một bài thơ dài có ý nghĩa tương đương. Trong danh sách này, một cách tương đối, có thể xem Phạm Huy Thông là trường ca gia Việt Nam đầu tiên với tác phẩm nổi tiếng “Tiếng Địch Sông Ô” ra đời năm 1935, và mới nhất là Trương Thìn với “Mấy Cõi Rong Vui” vừa ra mắt ở TP HCM vào giữa tháng 5/2010. (Mời coi phần Phụ Lục).


Đội ngũ các nhà trường ca Việt đó từng có cả một “trung đội” lừng danh từ những năm tháng khói lửa chiến tranh 1962-75 và sau đó vài năm là Thu Bồn và Thanh Thảo, là Nguyễn Khoa Điềm và Hữu Thỉnh, là Anh Ngọc và Nguyễn Đức Mậu... được nối tiếp tới thời hậu chiến là những Trần Mạnh Hảo và Thi Hoàng, Nguyễn Trọng Tạo và Hoàng Trần Cương, Trần Anh Thái và Nguyễn Quang Thiều... Còn Trần Dần và Lê Đạt - hai tác giả quan trọng khác của trường ca Việt - thì đã đưa thể loại văn học ngoại cỡ này tới tầm kích lạ lẫm về ngôn từ và sâu sắc về nhân sinh. Ở ngoài nước, ít ỏi không thành phong trào, nhưng cũng có các tác giả với những đóng góp thay đổi cần thiết về cả hình thức, cấu tứ lẫn nội dung, cảm hứng của trường ca Việt; đó là Du Tử Lê và Cao Đông Khánh, là Trần Nghi Hoàng và Đỗ Quyên.


 


Trường-phái-trường-ca-Việt-Nam – nếu có thể gọi như vậy – đặc sắc và Việt tính! Đó không là một tập hợp có chủ định, có đường hướng của nhóm các thi sĩ chung phương pháp, quan niệm theo một nhóm phái thông thường. Đó là phản ứng dây chuyền sáng tạo“đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” có ý thức của từng nghệ sĩ hòa cùng cảm xúc tráng ca của đất nước và sử thi của dân tộc trong một thời đại bi hùng của nhân loại. Qua thập niên đầu thế kỷ 21, con sông trường ca Việt hiện đại ấy cũng trở mình theo tâm thức chung của văn học Việt Nam và thế giới, từ thể tài, cấu trúc đến giọng điệu, ngôn ngữ (12). Và, lẽ tự nhiên, đã có không ít biểu hiện của trường ca Việt mang gương mặt Hậu hiện đại.


 


Văn giới Việt đang tung mở. Thi hứng Việt đang bung nở. Thúc đẩy các khuynh hướng, trào lưu thơ Việt đương đại cũng là hiện đại hóa một dân tộc thi sĩ, một đất nước thơ ca.


Vì một dòng thi ca Việt Nam trên cơ sở của lý thuyết, của phương pháp!


Để cùng dựng lên Làng Thơ Việt trong Làng Văn hóa Toàn cầu... *)


 


Canada & Việt Nam, 1/12/2009 – 7/7/2010


Đ.Q.


Tác giả gửi trieuxuan.info


--------


*) Tu chỉnh từ Tham luận cho “Hội nghị quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài 4-10/1/2010, Hà Nội, Việt Nam; và bổ sung phần Phụ Lục so với bản đã đăng trên Tạp chí Sông Hương số 257, tháng 7/2010


 


Tài liệu tham khảo:


 


(1) Hồ Thế Hà: Quan niệm về thơ của nhóm Dạ đài (vienvanhoc.org.vn)


(2) Đặng Tiến: Tân hình thức nhịp đập của thời đại” (thotanhinhthuc.org)


(3) Inrasara: Thơ Việt, từ Hiện đại đến Hậu hiện đại  (inrasara.com)


(4) Phan Nhiên Hạo: Văn chương hôm nay nhìn từ ngoài lề (litviet.com)


(5) Konstantin Kornev (Ngân Xuyên dịch): Chủ nghĩa Hậu hiện đại phương Tây và phương Đông (chungta.com)


(6) Lê Thụy Tường Vi: Chủ nghĩa siêu thực và Xuân Thu Nhã Tập (khoavanhoc-ngonngu.edu.vn)


(7) Khải Minh: Ngày nào thơ Việt Nam chưa có lý thuyết mới thì… (talawas.org)


(8) Đặng Thân: Thơ phụ âm (alliteration) [& tôi]  (tienve.org)


(9) Nguyễn Tôn Hiệt:  Tuyên ngôn về Thơ Thực hiện (tienve.org)


(10) Đỗ Quyên: Vòng vo về trường-phái-nhóm thơ Việt từ cảm xúc Hậu hiện đại Việt (vanchuongviet.org); và Đến trường phái thơ Việt từ cảm thức trường ca Việt (Bản thảo tiểu luận)


 (11) Chu Văn Sơn: Thanh Thảo với trường ca (vietvan.vn)


 (12) Diêu Thị Lan Phương: Yếu tố tự sự trong trường ca trữ tình hiện đại (vienvanhoc.org)


 


 


PHỤ LỤC:


Phụ lục 1: Trả lời phỏng vấn của phóng viên Phi Hà, Đài tiếng nói Việt Nam (phát cuối tháng 6-2010) về trường ca Việt Nam (Mời nghe MP3-file)


 


Phụ lục 2:


123 Tác giả trường ca Việt Nam –


Danh sách phác thảo


(Trích bản thảo sách “Một cách tìm hiểu trường ca Việt Nam”)


Đây đang là phác thảo cho một công việc không dễ dàng - và có lẽ là lần đầu tiên? - về khái niệm “tác gia trường ca Việt Nam”.


Ngoài một số rất ít tác giả là thi hữu đã cung cấp trực tiếp tác phẩm, nguồn tham chiếu chính của chúng tôi hiện là các trang mạng, và không thể về Việt Nam thường xuyên để cập nhật sách báo đã xuất bản. Thành thật xin lỗi về các thiếu sót chắc sẽ có ở mọi mặt, như tiêu chí tuyển chọn, vấn đề văn bản và xuất bản, v.v… - nhất là với các tác giả hiện chưa có trong danh sách!


Cũng bởi thế, chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp cũng như thông tin về tác phẩm, tác giả trường ca Việt Nam. Các ý tưởng, thảo luận và bài vở thích hợp – khi được người gửi cho phép - có thể tham gia làm nội dung của cuốn sách. Chân thành cám ơn những cộng tác, giúp đỡ vô giá của quý vị tác giả và độc giả gần xa! Xin ghi nhận tấm thịnh tình từ những bạn văn đầu tiên đã đọc và ủng hộ Danh sách phác thảo này: các nhà thơ Khế Iêm, Mai Văn Phấn, Trần Anh Thái; nhà lý luận-phê bình Trần Thiện Khanh…


Thư từ, bài vở xin gửi về: Đỗ Quyên, email: truongcaviet@yahoo.com


 


1.         Thụy An


2.         Duyên Anh


3.         Lê Ngọc Bảo


4.         Nguyễn Bính


5.         Thu Bồn


6.         Văn Cao


7.         Hoàng Cầm


8.         Hoàng Đình Chiến


9.         Phan Đức Chính


10.        Vũ Thành Chung


11.        Hoàng Trần Cương


12.        Võ Tấn Cường


13.        Trần Dần


14.        Xuân Diệu


15.        Phạm Tiến Duật


16.        Khương Hữu Dụng


17.        Nguyễn Duy


18.        Lê Đạt


19.        Nguyễn Khoa Điềm


20.        Nguyễn Hoàng Đức


21.        Hoàng Văn Đức


22.        Thái Giang


23.        Trần Mạnh Hảo


24.        Ngọc Thiên Hoa


25.        Lưu Quốc Hòa


26.        Trần Ninh Hồ


27.        Phan Hoàng 


28.        Thi Hoàng


29.        Trần Nghi Hoàng


30.        Xuân Hoàng


31.        Trần Quang Hiển


32.        Cầm Hùng (Thái)


33.        Vũ Trọng Hùng


34.        Vũ Xuân Hương


35.        Tố Hữu


36.        Inrasara


37.        Ngô Kha


38.        Nguyễn Thụy Kha


39.        Vũ Anh Khanh


40.        Cao Đông Khánh


41.        Nguyễn Linh Khiếu


42.        Trần Đăng Khoa


43.        Huyền Kiêu


44.        Trần Tuấn Kiệt


45.        Đỗ Trung Lai


46.        Du Tử Lê


47.        Vĩnh Quang Lê


48.        Tam Lệ


49.        Viên Linh


50.        Hữu Loan


51.        Thái Thăng Long


52.        Trần Vũ Mai


53.        Thế Mạc


54.        Nguyễn Đức Mậu


55.        Lê Thị Mây 


56.        Nguyễn Nhật Minh


57.        Trần Quốc Minh  


58.        Trần Hồng Minh


59.        Trần Nhuận Minh


60.        Giang Nam


61.        Liên Nam


62.        Ngô Quang Nam


63.        Phạm Ngà


64.        Nh. Tay Ngàn


65.        Anh Ngọc


66.        Tô Nhuần


67.        Trần Nhương


68.        Vũ Đình Ninh


69.        Nguyễn Anh Nông


70.        Đỗ Xuân Oanh


71.        Mai Văn Phấn 


72.        Nguyễn Khắc Phục


73.        Hoài Quang Phương


74.        Trúc Phương


75.        Viễn Phương


76.        Y Phương


77.        Lê Huy Quang


78.        Phùng Quán


79.        Thường Quán


80.        Hoàng Quý


81.        Lê Minh Quốc


82.        Nguyễn Hữu Quý


83.        Đỗ Quyên


84.        Trần Vàng Sao


85.        Lê Ái Siêm


86.        Lê Quang Sinh


87.        Nguyễn Thái Sơn


88.        Lê Vĩnh Tài


89.        Nguyễn Văn Tao 


90.        Nguyễn Trọng Tạo 


91.        Vương Tâm


92.        Kiệt Tấn


93.        Tô Ngọc Thạch


94.        Mai Nam Thắng


95.        Trần Anh Thái


96.        Thanh Thảo 


97.        Nguyễn Đình Thi 


98.        Quỳnh Thi


99.        Nguyễn Quang Thiều


100.      Trương Thìn


101.      Hữu Thỉnh


102.      Phạm Huy Thông


103.      Dương Thuấn


104.      Đinh Thị Như Thúy


105.      Nguyễn Quang Thuyên


106.      Phạm Thiên Thư


107.      Trần Mạnh Thường


108.      Nguyễn Vũ Tiềm


109.      Từ Nguyên Tĩnh


110.      Hoàng Bình Trọng


111.      Vương Trọng


112.      Phạm Xuân Trường


113.      Thanh Tùng


114.      Phạm Nguyên Tường


115.      Vũ Xuân Tửu


116.      Nguyễn Thế Vinh


117.      Trần Thế Vinh


118.      Phan Vũ


119.      Tạ Vũ


120.      Vũ Anh Vũ


121.      Lê Anh Xuân


122.      Lý Hoài Xuân


123.      Ngu Yên


 


Vancouver, cập nhật 7/7/2010


Đỗ Quyên


Tác giả gửi trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiểu thuyết Sóng lừng (VN. MAFIA) qua Từ điển và một số bài nghiên cứu phê bình - Nhiều tác giả 05.12.2019
“Sóng lừng” – Cuốn tiểu thuyết về Mafia ở Việt Nam - Bùi Quang Huy 03.12.2019
Trò chuyện với nhà văn Triệu Xuân - Nguyễn Khoa Đăng 02.12.2019
Những bài viết về nhà văn Hồng Nhu - Nhiều tác giả 14.11.2019
Sóng lừng (VN. Mafia), tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Giao thông Vận tải, 1991. - Nguyễn Bích Thu 12.11.2019
Về Bogdanov và tiểu thuyết “Tinh cầu Đỏ” - Vũ Đình Phòng 07.11.2019
Một Week end ở Điện Biên Phủ - Phan Quang 07.11.2019
Ngụ ngôn giữa đời thường: Việt Nam giữa Canada; Ta giữa Tây; Dân tộc giữa nhân loại - Đỗ Quyên 01.11.2019
Đào Duy Anh nói về sự "Hán hóa" (1950) - Đào Duy Anh 31.10.2019
Sự kiêu hãnh quá đáng là dấu hiệu cho thấy nhiều điều không tốt đẹp - Vương Trí Nhàn 31.10.2019
xem thêm »