tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 26688217
21.06.2010
Triệu Xuân
Các báo ở Sài Gòn (1957) viết về MIẾNG NGON HÀ NỘI

BÁO NẮNG SỚM, SỐ 27, NGÀY 28 THÁNG 10 NĂM 1957


Vũ Bằng là một nhà văn, nhà báo kỳ cựu đất Bắc. Ông đã từng điều khiển nhiều tờ báo lớn, như Vịt Đực, Trung Bắc Chủ Nhật, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, v.v... Song người ta thưởng thức ở như ông hơn cả là những thiên phóng sự, những bài văn trào lộng rất chua cay và tế nhị, mà ít khi tìm thấy được ở một nhà văn nào khác.


Nhiều thiên tiểu thuyết Một mình trong đêm tối, Truyện hai người. Tập phóng sự Khúc ngâm trong đất Hà, tập hồi ký Cai, v.v... đã đặt Vũ Bằng vào một chỗ ngồi đặc biệt xứng đáng với ông trong văn giới hiện đại.


Từ mấy năm nay, người ta không được đọc một sáng tác phẩm nào của Vũ Bằng, và vẫn chờ đợi ở ông rất nhiều, thì vừa mới đây, ông đã cho ra đời cuốn Miếng ngon Hà Nội (nhà Đất Nước xuất bản) là một cuốn sách viết theo thể phóng bút, kể tất cả những cái ngon lành, thi vị của miếng ngon Bắc Việt, từ cốm Vòng, bún chả, phở, đến thịt chó, chả cá, bún ốc, rươi v.v... Tác giả kể ra không thiếu một miếng ngon nào, và món quà nào cũng được diễn tả một cách duyên dáng, tế nhị và dí dỏm, khiến cho người đọc thương mến quà Bắc, và đo đó, nhớ thương đất nước hơn.


Có những nguyên nhân sâu xa và những ý tưởng đẹp đẽ đã thúc đẩy Vũ Bằng dựng được một tác phẩm hoa gấm như Miếng ngon Hà Nội, trong đó chứa đựng biết bao nhiêu tình cảm yêu đời, yêu người, và yêu nước.


“Vào khoảng năm tàn tháng hết, ở miền Nam nước Việt có những buổi tối đìu hiu lạnh như mùa thu đất Bắc.


“Gió buồn đuổi lá rụng trên hè. Mây bạc nặng nề trôi đi chầm chậm như chia mối buồn của khách thiên lý tương tư.


“Người xa nhà, đột nhiên thấy trống trải trong lòng.


“... Những lúc đó, ta không thể không liên tưởng tới những ngày dịu ngọt bên cạnh mẹ già, vợ dại, dưới cái mái nhà cũ kỹ rêu phong. Ngọn đèn không sáng lòe nhưng đủ soi một cách thân mật vào những mái tóc thân yêu; tiếng ca hát không nhiều, nhưng đủ làm cho tim ta ấm áp.


“Đi trong gió lạnh, tôi nhớ đến những buổi sum họp êm đềm, tôi nhớ đến những bữa cơm thân mật, tôi nhớ đến những miếng ngon gia dụng, và đêm đêm tôi đã ghi những nhận xét và cảm xúc đó lên mặt giấy.


“... Ghi lại nỗi buồn nhớ xa xôi, và gửi gắm một chút tình cho ai ai, ở Trung, Bắc cũng như Nam mang nặng trong lòng những biệt ly xứ sở”.


Người ta đôi khi hay nói “ăn để mà sống, chứ không phải sống để mà ăn”, ngụ ý chê sự ăn uống là tục phàm. Tôi không thể đồng ý cái quan niệm sai lầm này, khi đọc Miếng ngon Hà Nội của Vũ Bằng.


Được ăn miếng ngon, ta thấy yêu đời hơn lên và được ăn miếng ngon của xứ sở thì ta cũng thấy yêu nước hơn lên. Những miếng ngon của xứ sở đã thi vị hóa cuộc sống của chúng ta, khiến chúng ta bám chặt lấy sự sống, và hãnh diện rằng mình đã được là người Việt Nam.


Chưa bao giờ, từ trước tới nay, có một nhà văn nào diễn tả được hết cái hay, cái đẹp của miếng ngon Hà Nội (hay Việt Nam cũng thế) như Vũ Bằng: thật là sâu sắc, tế nhị, thật là chan chứa tình cảm, chan chứa tình yêu đời, yêu nước.


“Người tản cư đi thơ thẩn hết cả Hà Nội 36 phố phường vào một buổi đầu thu kia, nghiệm thấy rằng tâm tính người Hà Nội đổi thay, phố xá nhà cửa thay đổi, mà cái mặc của người Hà Nội cũng khác xưa, duy chỉ có một thứ không thay đổi: là cái ăn của người Hà Nội.


“Xa Hà Nội một dạo, người bước chân về có thể ăn các thứ cao lương mỹ vị của Tàu, Tây nhưng rút lại thì người Hà Nội rồi cũng quay về với những món ăn cổ truyền, đặc biệt Hà Nội, nó làm cho chúng ta thêm nhớ.


“Một cái quàng tay, một cái nhìn âu yếm, cả một thời ái ân xưa kia tưởng đã tan biến, bây giờ lại trở về, có phần thơm ngát hơn xưa. Một hơi thở, một miệng cười gợi lại cả một mối tình êm dịu mà kín đáo, cũng như một người xa quê lâu ngày ngửi thấy hương lúa chín ở cánh đồng lại thấy nở ra trong trí bao nhiêu kỷ niệm tốt đẹp nơi thôn dã.


“Miếng ngon Hà Nội vì thế làm cho ta yêu Hà Nội thấm thía, nhớ Hà Nội ê chề, và làm cho ta cảm thấy là người Hà Nội hơn...


“Một lọ cà cuống to không hơn một ngón tay; vài cái bánh cốm bên một lạng chè sen, hay một lọ vừng; hoặc một chai nước mắm, mấy cái đó tính theo thời giá không quá năm chục bạc. Thế nhưng mà những thứ quà đó đã đem đến cho lòng ta bao nhiêu cảm giác mông lung, nhã lịch. Ta cầm lấy, mà thấy như ôm một chút hương hoa của đất nước vào lòng. Ai đã bảo ăn uống là một nghệ thuật? Hơn thế, ăn uống là một nền văn hóa đấy”.


Trong Miếng ngon Hà Nội, Vũ Bằng đã diễn tả tất cả những cái ngon, cái đẹp về các món ăn, các thứ quà Hà Nội hay Bắc Việt cũng thế. Chúng ta thấy những bài nói về Cốm Vòng, Phở, Chả cá, Rượu, Bánh cuốn Thanh Trì, v.v... Đó là những món ăn muôn thuở, qua đời này sang đời khác, hết biến thiên này đến biến thiên khác cũng không thay đổi, vẫn giữ được nguyên vẹn hương vị cổ truyền, một hương vị cổ điển đặc biệt Việt Nam. Những món ăn ấy chẳng khác gì những tác phẩm văn chương cổ điển, bao giờ cũng giữ được ưu thế, bao giờ cũng được người ta ưa chuộng. Có phải vì nó mang nặng cái “hồn” của đất nước, mang cái dấu đặc biệt “dân tộc tính” hay không?


Hãy nghe Vũ Bằng tả:


“Cốm là một thứ quà của đồng ruộng quê hương mang đến cho ta. Tôi còn nhớ lúc tản cư ở vùng Hà Nam, mỗi khi thấy mây thu phủ ngang trời, người ta gặp nhau ở chợ vẫn thường chỉ nói một câu: “Bây giờ ở Hà Nội là mùa cốm!”. Thế rồi nhìn nhau không nói gì nữa, nhưng mà ai cũng thấy lòng ai chan chứa biết bao nhiêu buồn”.


Chỉ Hà Nội có cốm ăn... Và mỗi khi tiết hoa vàng lại trở về, người ta nhớ Hà Nội là phải nhớ đến cốm, nhớ bao nhiêu chuyện ấm lòng chung quanh mẹt cốm, bao nhiêu cảm tình xưa cũ hiu hiu buồn, mà thắm thiết xiết bao.


“... Tôi còn đủ sức minh mẫn mà nhận thấy rằng cốm Vòng để cạnh hồng trứng, một thứ xanh ngăn ngắt, một thứ đỏ tai tái đã nâng đỡ lẫn nhau và tô nên hai màu tương phản nhưng lại thật “ăn” nhau.


“Tôi đố ai tìm được một thứ sản phẩm gì của đất nước thương yêu mà biểu dương được tinh thần của những cuộc nhân duyên giữa giai gái như hồng và cốm!


“Một thứ thì giản dị mà thanh khiết; một thứ thì chói lọi mà vương giả, nhưng đến lúc ăn vào thì vị ngọt lừ của hồng nâng mùi thơm của cốm lên, kết thành một sự ân ái nhịp nhàng, như trai gái xứng đôi, như trai gái vừa đôi... mà những mảng lá chuối tước tơi để đệm hồng chính là những sợi tơ hồng quấn quýt...”.


Có ai tả hơn được thế, và có phải Vũ Bằng đã làm thơ chăng?


Song tiêu biểu cho miếng ngon Bắc Việt thì nhất định phải để “phở” đứng ở hàng đầu, vì thế mà Vũ Bằng gọi phở là món quà căn bản và xếp lên đầu cuốn sách cho được trịnh trọng. Bất cứ người nào trong xã hội cũng ăn phở được, bất cứ mùa nào ăn phở cũng thấy ngon. Quanh năm ăn phở, và bất cứ giờ nào ăn phở, suốt đời ăn phở cũng không hề chán.


Cứ đọc những dòng sau đây của Vũ Bằng tả, ai mà không thấy rỏ dãi, ai mà không nhớ quê hương:


“Cứ nhìn bát phở không thôi, cũng thú. Một nhúm bánh phở, một ít hành hoa thái nhỏ, điểm mấy ngọn rau thơm xanh mát, mấy nhát gừng màu vàng thái mướt như tơ, mấy miếng ớt mỏng vừa đỏ màu hoa hiên, vừa đỏ sẫm như hoa lựu... ba bốn thứ màu sắc đó, cho ta cảm giác được ngắm một bức họa lập thể của một họa sĩ trong phái văn nghệ tiền tiến dùng màu sắc hơi lố lỉnh, hơi bạo quá, nhưng mà đẹp mắt”.


“... Thế là “bài thơ phở” viết xong rồi đấy, mời ông cầm thìa. Húp một tí nước thôi, ông đã thấy tỉnh người rồi phải không?


“Nước dùng nóng lắm đấy, nóng bỏng rẫy lên, nhưng ăn phở có như thế mới ngon. Thịt thì mềm, bánh thì dẻo, thỉnh thoảng lại thấy cay cái cay của gừng, cay cái cay của hạt tiêu, cay cái cay của ớt, thỉnh thoảng lại thấy thơm nhè nhẹ cái thơm của hành hoa, thơm hăng hắc thơm cái thơm của rau thơm, thơm dìu dịu cái thơm của thịt bò tươi và mềm... rồi thì hòa hợp tất cả những vị đó lại, nước dùng thì ngọt cứ lừ đi, ngọt một cách hiền lành, ngọt một cách thành thực... không, ông phải thú nhận với tôi đi: “Có phải ăn một bát phở như thế thì khoan khoái quá phải không?”.


“Quả vậy, ăn một bát phở như thế, phải nói rằng có thể “lâm ly” hơn là nghe thấy một câu nói hữu tình của người yêu; ăn một bát phở như thế thú có thể ví như, sau một thời gian xa cách, được ngã vào trong tay người vợ đẹp mà lại đa tình vậy”.


Thế là đủ để giới thiệu với bạn đọc Miếng ngon Hà Nội, một văn phẩm kỳ thú của Vũ Bằng. Tôi đã đọc văn phẩm này một cách chậm chạp, một cách vô cùng say sưa, và nhiều khi lòng tôi rung động đến muốn rơi nước mắt. Tôi phải đọc thật chậm, để đồng thời liên tưởng đến những ngày xa xưa, len vào ngõ Hàng Khay ăn phở, và năm nào cũng thế, suốt cả một tháng tám, cứ mỗi buổi sáng là tôi phải ăn một mớ cốm vòng. Những ngày ấy, bây giờ như xa lắm, và những “ngày vui” ấy bao giờ còn trở lại với tôi (bao giờ trở lại với các bạn)? Nghĩ thế, lòng ai mà không buồn “buồn chết đi được”.


Vũ Bằng, với lời văn thành thực, tế nhị và sâu sắc, đã đem lại cho chúng ta những thứ quà ngon của quê hương xa vời, đã đem lại cho chúng ta những niềm yêu thương xứ sở, với Miếng ngon Hà Nội của ông.


Đã lâu lắm, hơn mười năm nay, tôi mới lại được đọc một văn phẩm thích thú như Miếng ngon Hà Nội, đọc đến mê say, và tôi phải nói lại, có khi rung cảm đến muốn khóc. Chỉ vì nó thấm thía quá, chỉ vì nó có sức khêu gợi lòng sầu xứ đến não nuột.


Cho nên tôi xin chân trọng trao vào tay bạn Miếng ngon Hà Nội của Vũ Bằng, và để kết thúc, tôi xin phép được trích thêm đoạn kết này của tác giả:


“... Miếng ngon Hà Nội bao giờ cũng trung thành êm ái, miếng ngon Hà Nội bao giờ cũng chiếm được lòng ta như một người vợ hiền chiếm được lòng chồng. Có thể rằng có những buổi mây chiều gió sớm, người đàn ông theo tiếng gọi giang hồ cố hữu, lơ là với yêu đương trong một thời gian, song phút sa ngã qua đi, quay về với gia đình, người đàn ông chỉ càng thấy mối tình cũ càng thêm quý hóa.


                 “Trắng da là đĩ anh ơi,


                 Đen da là vợ ở đời với anh”.


“Miếng ngon Hà Nội cũng thế, cũng trầm lặng như vậy, và cũng tiết ra một hương thơm như vậy. Hương thơm đó ngào ngạt quyến luyến như một lời tâm sự của người xưa để lại cho người sau, như một lời ân ái của tình nhân để lại cho tình nhân. Bao giờ phai lạt được những niềm yêu thương ấy!”.


 


BÁO TỰ DO, SỐ 289, NGÀY 23 THÁNG 12 NĂM 1957


Trước Vũ Bằng, Thạch Lam đã viết Hà Nội 36 phố phường. Bao nhiêu phong vị đậm đà của Hà Nội được chính người Hà Nội ghi lại ngay trên đất Hà Nội, giữa lúc Hà Nội còn nguyên vẹn, chưa gặp cảnh tàn phá của chiến tranh. Kể cũng lạ! Một bát cháo lòng, một đĩa tiết canh đánh khéo, nào có gì đặc biệt lắm đâu mà quý yêu đến vậy? Yêu như yêu một đứa con thơ - không, đúng hơn, yêu như yêu một bà mẹ già, một khoảnh vườn con xơ xác chốn quê hương.


Phải rồi, chính đó là tình yêu quê hương. Cho nên, dõi theo tác giả, chúng ta ngậm ngùi, luyến tiếc. Mỗi ngày chúng ta một “xa quê hương”! Bao nếp sống quen thuộc đã phai mờ. Hít thở không khí Hà Nội, Thạch Lam vẫn thấy dần dà mình đang “xa Hà Nội”. Cái “Hà Nội” cổ kính của 36 phố phường xưa đang sắp bỏ mình vĩnh viễn đi vào dĩ vãng. Tấm lòng hoài vọng đó đã khiến chúng ta nhìn sự vật qua một cặp mắt khác.


Một mùi hương cốm Vòng, một màu mạ xanh trải đến chân trời, dăm ngọn cau xào xạc đều làm ta ngậm ngùi nhớ đến một cái gì đã mất.


Hôm nay, Vũ Bằng nhắc nhở để ta nhớ lại những Miếng ngon Hà Nội - nhắc tới cố đô xa cách bằng cách nhắc tới miếng quà - tầm thường đấy nhưng mà quen thuộc - nỗi niềm nhớ nhung mới tha thiết, kín đáo làm sao!


Xưa kia, ở giữa Hà Nội, dân Hà Nội có kẻ còn nhớ Hà Nội thay, huống chi ngày nay, sống trên đất Sài Gòn quanh năm nắng cháy, ta làm sao mà không nhớ được những ngày đầu thu se se gió lạnh, những tơ mưa phùn dằng dặc vào xuân? “Một tiếng dế ở chân tường, một ngọn gió vàng heo hắt hay một tiếng lá đụng cành trâm, đều nhắc nhở ta những kỷ niệm xa xôi, dìu dịu” (Thay lời tựa - tr. 7). Người xa nhà đột nhiên thấy trống trải trong lòng. Lê bước chân trên nẻo đường xa lạ, y thấy tiếc nhớ một cái gì không mất hẳn, nhưng không còn thấy.


“Nhớ vẩn vơ, buồn nhè nhẹ. Cái buồn không se sắt, cái nhớ không day dứt, nhưng chính cái buồn và cái nhớ đó mới thực làm cho người ta nhọc mệt, thẫn thờ. Lòng người, cũng như cánh hoa, chóng già đi vì thế. Người ta không nặng lắm về hiện tại, nhưng thiết tha với quá khứ hơn” (Thay lời tựa - tr. 7). Quá khứ đây là những miếng quà, những mảnh sống vụn vặt gom góp lại thành một cuộc đời.


Những miếng quà ngon đó truyền từ đời nọ qua đời kia “biểu lộ một phần nào cá tính của dân tộc” (Dựng - tr. 15). Vũ Bằng còn bạo hơn nữa khi đem ví Miếng ngon Hà Nội với tác phẩm bất hủ của Nguyễn Du. “Không thể khéo hơn được, không thể ngon hơn được” (Dựng - tr. 17). Và hễ ăn vào là “thấy ngát mùi đất nước Việt Nam, thấy mình là Việt Nam, và thích thú và kiêu hãnh được trời cho là người Việt Nam (Dựng - tr. 17). Đấy, Miếng ngon Hà Nội “thiêng liêng” đến như vậy, trách nào không có người lưu luyến!


Những miếng ngon trong sách Vũ Bằng thật là rẻ tiền. Không phải là những miếng ngon kiếm trong khách sạn Lục Quốc, trên tầng lầu Đông Hưng viên, mà là những món quà nho nhỏ, “gia dụng”, do bàn tay của mẹ, của vợ, của em gái làm ra, hoặc mua trong những ngõ hẹp đơn sơ mà ấm cúng. Đó là những tô phở bò, phở gà, những đĩa bánh cuốn, bánh đúc, bánh khoái, những mẻ cốm Vòng, những món rươi, những mẻ ngô rang, những củ khoai lùi, vài ba lá bún, một đĩa tiết canh, một bát cháo lòng, một miếng giồi chó, một bữa gỏi cá chép hoặc cá quả. Chỉ có thế thôi! Có gì mà thơ đâu? Nhưng qua nỗi nhớ, niềm thương của tác giả, “chúng” bỗng trở thành những bài thơ đượm tình đất nước.


Này là món phở bò. “Cứ nhìn bát phở không thôi, cũng thú. Một nhúm phở, một tí hành hoa thái nhỏ, điểm mấy ngọn rau thơm xanh biêng biếc, mấy nhát gừng màu vàng thái mướt như tơ, mấy miếng ớt mọng vừa đỏ màu hoa hiên, vừa đỏ sẫm như hoa lựu... ba bốn thứ màu sắc đó, cho ta cái cảm giác được ngắm một bức họa lập thể của một họa sĩ trong phái văn nghệ tiền tiến dùng màu sắc hơi lố lỉnh, hơi bạo quá, nhưng mà đẹp mắt” (tr. 27).


Thật là đẹp. Đẹp và ngon nữa. “Quả vậy, ăn một bát phở như thế, phải nói rằng có thể “lâm ly” hơn là nghe thấy một câu nói hữu tình của người yêu; ăn một bát phở như thế, thú có thể ví như sau một thời gian xa cách, được ngã vào trong tay một người vợ đẹp mà lại đa tình vậy” (tr. 28). Bởi đã coi ăn uống là việc hệ trọng, là cả một nghệ thuật, nên Vũ Bằng rất sành ăn.


Phở bò đã thế, đến phở gà thì “chú ý về cái phần thanh của phở: nước ngọt mà không ngọt mì chính, nhưng ngọt bằng xương; thịt không xác nhưng béo mềm, mà không ngấy” (tr. 35). Phi là người Hà Nội, đã từng lê “khắp xó mọi nơi” để “nếm phở thiên hạ” không thể nào “hiểu” phở chi ly và cặn kẽ như thế được. Hết phở, đến bánh cuốn Thanh Trì. Cô hàng bánh chỉ đội một cái thúng, trên đậy một cái mẹt, trong đựng “một chai nước mắm, một chai giấm, một chén ớt, dăm cái chén, cái đĩa và mươi đôi đũa” (tr. 37). Chỉ có thế, “nhưng thưởng thức vài lần món bánh cuốn Thanh Trì rồi, anh sẽ thấy nhớ mãi món quà đó và nhớ từ cái dáng người bán hàng đội bánh nhớ đi, nhớ thứ nước chấm, nhớ cái cảm giác bánh trơn trơn trôi nhẹ vào cổ... nhớ quá, nhớ khôn nguôi” (tr. 37). Ờ, thì bánh cuốn, bánh khoái, dẫu sao cũng còn là những món quà lịch sự, chứ còn bánh đúc, cái thứ bánh mà với thời giá bây giờ, chỉ cần trả hai đồng là ăn đã no, bánh đúc cũng là miếng ngon Hà Nội ư?


Tôi nghĩ đến câu ca dao:


                 Em còn bánh đúc bẻ ba,


                 Tôm canh quẹt ngược, cửa nhà anh tan.


Hình ảnh người đàn bà quê mùa, nhai ngồm ngoàm mấy miếng bánh đúc giữa phiên chợ, mắt lấm lét sợ người quen bắt gặp về mách lại với chồng, vẫn chưa hề phai nhạt trong trí nhớ tôi. Nhưng ta hãy nghe Vũ Bằng tả:


“Bánh trông mịn mặt, chung quanh mỏng, giữa phồng, trông như da thịt mát rợi của người đàn bà đẹp vừa mới tắm”. Mới nhìn đã thế chứ ăn thì “cắn một miếng thật ngọt, rồi vừa nhai vừa ngẫm nghĩ, ta thấy rằng ta đã tạo hạnh phúc lạ lùng cho khẩu cái của ta” (tr. 55). Còn nữa... “Đậu rán và bánh đúc hành mỡ là bóng với hình, là non với nước, là trai với gái, thật là hợp giọng, thiếu đi một thứ thì tự nhiên cuộc đời thiếu vẻ đẹp ngay” (tr. 57). Bánh đúc còn thế huống chi cốm Vòng?


Trách gì tác giả chẳng “Bây giờ ngồi nghĩ lại, tôi nhớ rằng tôi không nhớ tết, không nhớ những ngày vui và những tình ái đã qua bằng nhớ một ngày nào đã mờ rồi, tôi hãy còn nhỏ, sáng nào về mùa thu cũng được mẹ tôi mua sẵn cho một mẻ cốm Vòng, để ăn lót dạ trước khi đi học” (tr. 60). Lịch sử cốm Vòng có liên lạc chặt chẽ với lịch sử cưới xin “Để anh mua cốm, mua hồng sang chơi” (ca dao).


Giờ đây, không được trông thấy cốm và ăn cốm, người ta càng thấy quý cốm hơn, “mỗi một hạt cốm thật là một hạt ngọc của trời” (tr. 74).


Tôi không thể nào kể cho hết được. Mỗi món quà là ít nhiều tâm sự, là vang bóng của một thời, là một chút gì tạo thành đất nước quý yêu.


Cùng với thị hiếu của thời đại, nhiều lúc ta cũng thích ăn cơm Tàu, cơm Tây. Ngon thì ngon thật, nhưng vắng những “miếng ngon Hà Nội” ta vẫn nhơ nhớ thế nào. Cơm Tàu, cơm Tây ví như một người tình, “miếng ngon Hà Nội” mới là người vợ hiền đã “chiếm được lòng ta”. “Có thể rằng có những buổi mây chiều gió sớm, người đàn ông theo tiếng gọi giang hồ cố hữu, lơ là với mối yêu đương trong một thời gian, nhưng phút sa ngã qua đi, quay về với gia đình, người đàn ông chỉ càng thấy mối tình cũ càng thêm quý hóa”. Miếng ngon của Hà Nội cũng thế, cũng trầm lặng như vậy và cũng tiết ra một hương thơm như vậy.


“Hương thơm đó ngạt ngào quyến luyến như một lời tâm sự của người xưa để lại cho người sau, như một lời ân ái của tình nhân để lại cho tình nhân, như một lời tâm sự của một người anh yêu mến gửi cho cô em gái. Bao giờ phai lạt được những niềm yêu thương ấy? Bao giờ “ăn Bắc” lại không có nghĩa là ăn ngon?” (tr. 170).


Tôi trích cũng hơi nhiều nhưng tôi còn muốn trích nhiều thêm nữa. Mỗi trang là một bài thơ, mỗi “miếng ngon” thấp thoáng hình bóng cố đô Hà Nội. Miếng ngon Hà Nội hơn một cuốn tùy bút, hơn một tập sách ký sự, là một nỗi lòng con thảo đối với mẹ hiền Việt Nam. Vũ Bằng viết văn gần ba mươi năm, xuất bản trên dưới hai mươi cuốn sách, nhưng quả tình chưa tác phẩm nào làm tôi rung động bằng Miếng ngon Hà Nội. Phải chăng vì tác giả đã viết ra bằng cả một tấm lòng tha thiết nhớ quê hương?


HY HOÀNG


Nguồn: Tư liệu sưu tầm khi làm Vũ Bằng Toàn tập. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2005.


www.trieuxuan.info


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Foie Gras – Gan ngỗng béo, và những điều chưa từng bật mí - Tư liệu sưu tầm 16.04.2019
Tiến sỹ & Phó Tiến sỹ - Tư liệu 15.04.2019
Phân tích lập trường của Việt Nam về Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông (COC) - Lê Hồng Hiệp 15.04.2019
Thơ viếng Đền Hùng, 1929 - Phan Khôi 15.04.2019
Vũ Nhôm cùng Trưởng ban Nội chính thành ủy Đà Nẵng đã dùng tên dâm tặc bức hại người vô tội như thế nào? - Hoàng Hải Vân 15.04.2019
Về Tự Lực Văn Đoàn - Lại Nguyên Ân 15.04.2019
Cố Thủ tướng Phạm văn Đồng - Tư liệu 12.04.2019
Vụ án Trịnh Vĩnh Bình - Tư liệu sưu tầm 12.04.2019
Vẻ đẹp độc đáo kiến trúc chùa Tây Phương - Nguyễn Xuân Diện 12.04.2019
Tìm hiểu về thời học sinh của cụ Nguyễn Nghiễm - Nguyễn Khắc Bảo 10.04.2019
xem thêm »