tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30493093
Tiểu thuyết
16.06.2010
A. Dumas
Hai mươi năm sau

Ban đêm náo động một cách âm thầm. Ngày hôm sau người ta lại trông thấy những tấm áo choàng xám và đen, những đội tuần tra thương nhân mang vũ khí và những toán ăn mày.


Hoàng hậu đã thức suốt đêm để bàn bạc với Hoàng thân. Nửa đêm Hoàng thân được dẫn đến phòng nguyện của hoàng hậu và tới năm giờ sáng ông mới ra về.


Năm giờ hoàng hậu đến văn phòng tể tướng. Nếu như bà chưa được đi nằm thì giáo chủ cũng đã dậy rồi.


Ông đang thảo bức thư trả lời Cromwell. Ông hẹn với Mordaunt mười ngày thì sáu ngày đã qua rồi.


– Chà! Ta để hắn phải chờ đợi một chút, nhưng ông Cromwell hiểu quá đi cách mạng la thế nào nên không thể không thứ lỗi cho ta.


Ông bèn đọc lại với vẻ thỏa mãn đoạn đầu bức thư biện hộ của mình thì nghe có tiếng cào nhè nhẹ vào canh cửa thông sang những căn phòng của hoàng hậu. Chỉ một mình hoàng hậu có thể đến bằng cửa ấy. Giáo chủ đứng lên và ra mở.


Hoàng hậu mặc xuềnh xoàng, nhưng cái xuềnh xoàng ấy lại hợp với bà, vì rằng cũng như nữ thần Diane ở viện bảo tàng Poitiers hoặc ở phòng khách bà Ninon, Anne d’Autriche giữ cái độc quyền là lúc nào cũng xinh đẹp. Song buổi sớm hôm ấy bà còn đẹp hơn thường lệ bởi vì cặp mắt bà có tất cả cái long lanh mà một nỗi vui mừng bên trong tạo nên.


– Có việc gì đấy bà, – Mazarin lo ngại nói – trông bà có vẻ đắc ý lắm?


– Đúng, Giulio ạ, – bà đáp; – đắc ý và vui sướng, vì rằng tôi đã tìm ra kế bóp chết cuộc bạo loạn này.


– Bà hoàng của tôi ơi, – Mazarin nói – bà là một chính khách lớn, nào xem kế sách ra sao.


Và ông giấu điều mà ông viết bang cách nhét lá thư mới bắt đầu xuống dưới tờ giấy trắng.


– Chúng muốn bắt nhà vua, ông biết chứ? – Hoàng hậu nói.


– Chao ôi! Biết! Và còn muốn treo cổ tôi nữa!


– Chúng sẽ không có vua.


– Và chúng sẽ không treo cổ tôi.


– Ông nghe đây: tôi muốn cướp đi của họ con trai tôi và bản thân tôi, và ông cùng với tôi, tôi muốn rằng sự kiện này, từ hôm nay đến ngày kia sẽ thay đổi bộ mặt của mọi thứ, cần được thực hiện mà không ai biết, ngoài ông, tôi và một người thứ ba.


– Người thứ ba ấy là ai?


– Ông Hoàng thân.


– Ông ta đã về như người ta nói với tôi phải không?


– Về tối hôm qua.


– Bà đã gặp rồi chứ?


– Tôi vừa mới chia tay ông ấy.


– Ông ấy giúp sức vào kế hoạch này à?


– Chính ông ta đề ra ý kiến.


– Thế còn Paris?


– Ông ta sẽ để cho bị đói và buộc phải đầu hàng không điều kiện.


– Kế hoạch không thiếu vẻ vĩ đại, nhưng tôi chỉ thấy có một trở ngại.


– Trở ngại gì?


– Sự không thể được.


– Lời nói vô nghĩa. Không có gì là không thể được.


– Trên kế hoạch.


– Trong thực hiện. Chúng ta có tiền không?


– Ít thôi – Mazarin đáp, sợ Anne d’Autriche đòi moi tiền ở trong túi của ông ta.


– Chúng ta có quân không?


– Chừng năm sau nghìn người.


– Chúng ta có tinh thần can đảm không?


– Rất nhiều.


– Vậy thì dễ lắm. Ồ! Giulio, ông có hiểu không? Paris, cái thành phố Paris ghê tởm ấy mot buổi sáng thức dậy không có hoàng hậu, không có vua, bị bao vây, bị quấy nhiễu, bị bỏ đói, tất cả phương sách chỉ còn trông vào cái nghị viện ngu đần và ông chủ giáo còm nhom với đôi chân vặn vẹo của họ!


– Hay, hay! – Mazarin nói. – Tôi hiểu rõ hiệu quả, nhưng tôi không trông thấy phương tiện để đạt tới.


– Tôi thì tôi sẽ tìm thấy đấy.


– Bà nên biết rằng đây là chiến tranh, là cuộc nội chiến bừng bừng, kịch liệt, không nguôi.


– Ồ! Phai đấy, phải đấy, chiến tranh, – Anne d’Autriche nói – phải đấy, tôi muốn biến cái thành phố phiến loạn này thành tro bụi; tôi muốn dập tắt ngọn lửa trong máu; tôi muốn rằng một tấm gương kinh khủng sẽ nêu mãi mãi tội ác và trừng phạt. Hỡi Paris! Ta căm thù mi, ta ghê tởm mi!


– Khoan khoan, Anne, bà khát máu đấy! Hãy coi chừng, chúng ta không còn ở thời đại những Malatesta và những Castruccio Castracani ([1]); bà sẽ làm cho bà bị chặt đầu, bà hoàng xinh đẹp của tôi ạ, và như thế thì uổng lắm.


– Ông cười tôi đấy à?


– Tôi rất ít cười. Chiến tranh với cả một dân tộc thì thật là nguy hiểm. Bà hãy trông Charles đệ nhất em rể của bà đấy, tình hình ông ấy xấu lắm, rất xấu.


– Chúng ta đang ở nước Pháp, và tôi là người Tây Ban Nha.


– Không cần, per Baccho, không cần, có lẽ tôi thích bà là người Pháp thì hơn, cả tôi cũng vậy: người ta sẽ thù ghét hai ta ít hơn.


– Song ông tán thành toi chứ?


– Vâng, nếu tôi thấy điều ấy có thể làm được.


– Nó sẽ làm được, chính tôi nói với ông thế; ông hãy sửa soạn ra đi.


– Tôi ấy à? Lúc nào tôi cũng sẵn sàng ra đi, song, như bà biết đấy, tôi chẳng ra đi bao giờ... và lần này chắc là cũng không hơn những lần khác.


– Cuối cùng, nếu tôi đi thì ông có đi không?


– Tôi sẽ thử xem.


– Ông làm tôi đến chết về những sự sợ hãi của ông đấy, Giulio ạ, mà ông sợ cái gì kia chứ?


– Sợ nhiều điều lắm.


– Những điều gì nào?


Bộ mặt Mazarin từ giễu cợt trở thành u ám.


– Anne, – ông nói, – bà chỉ là một người đàn bà, và là đàn bà, bà có thể tùy tiện lăng nhục đàn ông vì chắc chắn là mình được miễn tội. Bà cáo buộc tôi là sợ hãi; tôi không sợ hãi nhiều như bà đâu, bởi vì tôi, tôi không bỏ trốn. Người ta hò la chống ai? Chống bà hay chống tôi? Người ta muốn treo cổ ai? Bà hay tôi? Vậy mà tôi đương đầu với bão tố, trong khi bà cáo buộc tôi là sợ hãi; chẳng phải anh hùng rơm đâu, đó không phải là thói của tôi, nhưng tôi vững vàng. Hãy bắt chước tôi, om xòm ít thôi, hiệu quả nhiều hơn. Bà la hét toáng lên, bà chẳng đạt tới đâu. Bà bàn đến chuyện trốn.


Mazarin nhún vai, cầm tay hoàng hậu và dắt bà ra cửa sổ:


– Hãy nhìn xem!


– Gì nào? – Hoàng hậu nói, mù quáng vì sự bướng bỉnh của mình.


– Kia kìa! Qua cửa sổ bà nhìn thấy gì nào? Nếu tôi không lầm thì đó là dân tư sản mặc áo giáp, đội mũ sắt, trang bị súng trường tốt như thời liên minh thần thánh; họ đang nhìn chằm chằm lên cửa sổ bà đang đứng và bà có thể bị nom thấy nếu bà vén rèm lên quá cao. Bây giờ ta ra cửa sổ kia; bà trông thấy gì nữa? Những đám dân chúng mang giáo mác canh gác các cổng ngõ của bà. Ở bất cứ cửa nào của hoàng cung mà tôi dẫn bà ra, bà đều thấy như thế cả. Các cổng lớn bị canh gác, và đến lượt tôi sẽ nói với bà cái điều mà La Ramée nói với tôi về ông De Beaufort: trừ phi là chim hay là chuột, ông sẽ không ra khỏi nơi đây.


– Vậy mà ông ta vẫn ra đấy.


– Bà có tính nước ra cũng bằng cách ấy không?


– Thế tôi là tù nhân đấy à?


– Trời ơi! – Mazarin nói, – có đến một tiếng đồng hồ tôi chứng minh với bà điều đó rồi.


Và Mazarin điềm nhiên lấy ra viết tiếp bức thư đang viết dở.


Anne tức run người lên, đỏ bừng mặt vì hổ nhục, đi ra khỏi văn phòng và dập cửa đánh rầm một cái.


Mazarin chẳng buồn quay đầu lại.


Trở về phòng mình, hoàng hậu buông mình xuống chiếc ghế bành và khóc nức nở.


Rồi bỗng nhiên một ý nghĩ đến bất thình lình khiến bà bật dậy và reo lên:


– Ta thoát rồi! Ồ, phải rồi, phải rồi, ta biết một người có thể đưa ta ra khỏi Paris, người ấy, một người mà ta đã quên lãng quá lâu.


Và mặc dù với nỗi vui mừng, bà mơ màng nói:


– Ta mới bội bạc làm sao, có đến hai mươi năm trời ta bỏ quên người ấy, người mà lẽ ra ta phải phong làm thống chế Pháp quốc. Bà mẹ chồng ta đã vung vãi vàng bạc, chức phẩm và những vuốt ve cho Concini, ông ta đã làm hại bà; ông vua chồng ta vì một cuộc ám sát đã phong Vitry làm thống chế Pháp quốc. Còn ta, ta bỏ mặc trong quên lãng, trong cảnh khốn cùng cái anh chàng D’Artagnan cao quí đã từng cứu ta.


Và bà chạy ra chiếc bàn để giấy, bút, mực và ngồi viết.


52.

Cuộc hội kiến


Buổi sáng hôm ấy, D’Artagnan nằm trong phòng Porthos. Đó là thói quen của đôi bạn từ khi có những cuộc rối loạn. Dưới chân giường họ để gươm kiếm và trên bàn trong tầm tay để súng ngắn.


D’Artagnan vẫn còn ngủ và mơ thấy trời phủ một đám mây, từ đám mây ấy rơi xuống một trận mưa vàng và anh giơ mũ ra hứng dưới một ống máng.


Porthos thì mơ thấy cái tấm bảng ở cỗ xe của mình không đủ rộng để chứa hết những gia huy mà anh cho tô vẽ vào đấy.


Các anh thức giấc vào lúc bảy giờ do một thằng hầu không mặc áo dấu mang một bức thư đến cho D’Artagnan.


– Thư của ai đấy? – chàng Gascon hỏi.


– Của hoàng hậu, – tên hầu đáp.


– Sao! – Porthos ngồi dậy ở trên giường nói; – no bảo gì vậy?


D’Artagnan bảo thằng hầu sang buồng bên cạnh và khi nó khép cửa lại, anh nhảy ra khỏi giường và lướt đọc rất nhanh, trong khi Porthos cứ giương mắt ếch ra mà nhìn, không dám hỏi câu nào.


– Này bạn Porthos, – D’Artagnan đưa thư ra và nói, – lần này thì đây là danh hiệu nam tước của cậu và tờ phong đại úy của tôi. Cầm lấy, đọc đi và xét đoán.


Porthos giơ tay đưa tay đón bức thư và run run đọc dòng chữ:


“Hoàng hậu muốn nói chuyện với ông D’Artagnan, ông hãy đi theo người đưa thư”.


– Ơ này! – Porthos nói, – mình thấy đây chỉ là chuyện bình thường.


– Mình thì thấy nhiều chuyện đặc biệt, – D’Artagnan nói. – Nếu người ta gọi đến tôi, tức là công việc rối rắm lắm. Cậu thử nghĩ xem trong đầu óc hoàng hậu phải xáo động thế nào thì ký ức về tôi sau hai chục năm trời nó mới nổi lên trên mặt nước chứ?


– Đúng đấy, – Porthos nói.


– Nam tước, hãy mài sắc gươm, nạp đạn vào súng, đem lúa mạch cho ngựa ăn, tôi xin cam đoan rằng trước ngày mai sẽ có chuyện mới lạ, và motus ([2])!


– Ái chà! Thế không phải là một cái bẫy người ta giăng ra để gạt bỏ chúng ta hay sao? – Porthos nói, anh vẫn băn khoăn rằng vinh quang sau này của anh ắt gây ra sự khó chịu cho kẻ khác.


– Nếu là một cái bẫy thì tôi sẽ ngửi thấy ngay, hãy yên trí, – D’Artagnan nói. – Nếu Mazarin là người Ý thì tôi cũng là Gascon cơ mà.


Và D’Artagnan loáng một cái đã mặc xong quần áo.


Porthos vẫn nằm và đang cài áo choàng cho bạn thì có tiếng gõ cửa lần nữa.


– Cứ vào! – D’Artagnan bảo.


Một tên hầu thứ hai vào.


– Giáo chủ Mazarin sai tôi mang thư đến, hắn nói.


D’Artagnan nhìn Porthos.


– Phiền phức rồi đấy, – Porthos nói, – bắt đầu từ đâu bây giờ?


– Tuyệt diệu thật, – D’Artagnan nói, – Đức ông hẹn gặp tôi sau nửa giờ.


– Anh bạn này, – D’Artagnan quay sang nói với tên hầu, – hãy trình với Đức ông rằng nửa giơ nữa tôi sẽ có mặt.


Tên hầu chào và đi ra.


– Cũng may là nó không trông thấy tên hầu kia, – D’Artagnan nói.


– Cậu cho rằng cả hai người cho đi tìm cậu vì cùng một việc ư? – Porthos hỏi.


– Tôi chắc chắn là không phải như vay.


– Thôi, thôi, nhanh nhẹn lên, D’Artagnan. Nhớ rằng hoàng hậu đang đợi cậu; sau hoàng hậu là giáo chủ, và sau giáo chủ là tôi.


Tên hầu dẫn anh đi qua phố Cánh Đồng Nhỏ, và rẽ sang trái đưa anh vào một cái cổng nhỏ của khu vườn trông ra phố Richelieu. Rồi họ đi lên một cầu thang kín và D’Artagnan được đưa vào trong phòng nguyện.


Một niềm xúc động bất giác khiến trống ngực viên trung úy đập rộn rã. Anh không còn lòng tin cậy của tuổi trẻ nữa, và kinh nghiệm đã dạy cho anh tất cả tầm quan trọng của những biến cố đã qua. Anh đã biết thế nào là sự quí phái của các ông hoàng và vẻ uy nghiêm của các vua chúa. Anh đã quen xếp sự tầm thường của mình sau những kẻ giàu sang và danh gia thế phiệt. Xưa kia anh tiếp cận Anne d’Autriche với tư cách một chàng trai trẻ chào đón một người đàn bà. Giờ đây thì khác hẳn: anh đến với bà ta như một người lính tầm thường đến với một vị thủ lĩnh lẫy lừng.


Một tiếng nhè nhẹ khuấy động sự yên tĩnh của phòng nguyện. D’Artagnan rùng mình và trông thấy một bàn tay trắng muốt vén tấm thảm lên. Nhìn hình dạng thanh tú, màu trắng nuột nà và vẻ đẹp mỹ miều, anh nhận ra bàn tay vương giả kia mà đã có lần người ta đưa anh hôn.


Hoàng hậu đi vào.


– Ông đấy à, ông D’Artagnan, – bà nói và nhìn viên sĩ quan bằng cặp mắt chứa chan nỗi u hoài thương mến. – Đúng là ông, và tôi nhận ra ngay. Ông hãy nhìn lại tôi đi, tôi là hoàng hậu, ông có nhận ra tôi không?


– Không ạ, thưa lệnh bà, – D’Artagnan đáp.


Bằng cái giọng ngọt ngào mà bà biết lồng vào tiếng nói của mình khi bà muốn, Anne d’Autriche nói tiếp:


– Thế ra ông không con biết rằng hồi xưa hoàng hậu đã cần đến một dũng sĩ trẻ dũng cảm và tận tụy và bà đã tìm được người kỵ sĩ ấy, và mặc dù ông ta có thể tưởng rằng bà đã quên ông ta, bà vẫn dành một chỗ cho ông ta trong đáy lòng mình.


– Không, thưa lệnh bà, tôi không biết chuyện ấy, – người lính ngự lâm đáp.


– Không sao ông ạ, – Anne d’Autriche nói, – không sao, ít ra là đối với hoàng hậu, vì rằng bà hoàng hậu ấy hôm nay vẫn cần đến lòng dũng cảm ấy, vẫn lòng tận tụy ấy.


– Sao thế nhỉ! – D’Artagnan nói, – xung quanh hoàng hậu đầy những bộ hạ thật tận tụy, những cố vấn thật khôn ngoan, những con người thật vĩ đại do công tích hoặc địa vị của họ, vậy mà hoàng hậu lại hạ cố để mắt đến một người lính vô danh ư?


Anne hiểu rõ lòng trách móc được che đậy ấy, bà cảm động hơn là tức giận. Biết bao đức hy sinh và vô tư của người quí tộc Gascon đã bao phen khiến bà hổ thẹn, bà sẵn sàng chịu thua vì tinh thần cao thượng.


– Ông D’Artagnan này, – hoàng hậu nói. – Tất cả những điều ông nói về những người bao quanh tôi có lẽ đúng đấy; nhưng tôi chỉ tin cậy một mình ông thôi. Tôi biết rằng ông là của giáo chủ, nhưng hãy là của tôi nữa, tôi sẽ đảm nhận vận hạnh của ông. Nào, giờ đây liệu ông có làm cho tôi cái mà hồi xưa nhà quí tộc kia mà ông không biết ấy đã làm cho hoàng hậu không?


– Tôi sẽ làm mọi điều mà hoàng thượng ra lệnh, – D’Artagnan nói.


Hoàng hậu ngẫm nghĩ một lát, và nhìn thấy thái độ dè dặt của người lính ngự lâm, bà nói:


– Có lẽ ông thích sự nghỉ ngơi phải không?


– Tôi không biết nữa, thưa lệnh bà, vì tôi có được nghỉ ngơi bao giờ đâu.


– Ông có bạn bè không?


– Tôi có ba người bạn: hai người đã rời Paris không biết đi đâu. Còn mỗi một người còn lại, nhưng tôi chắc rằng đó là một trong số những kẻ biết người kỵ sĩ mà hoàng thượng đã nói với tôi.


– Tốt lắm, – hoàng hậu nói, – ông và bạn của ông giá trị bằng một đội quân.


– Thưa lệnh bà, tôi phải làm gì?


– Năm giờ ông trở lại đây và tôi sẽ nói ông biết; nhưng này, chớ có nói với bất kỳ ai về cuộc gặp gỡ mà tôi hẹn với ông.


– Không đâu, thưa lệnh bà.


– Thề trước Chúa Jésus đi.


         Thưa lệnh bà, tôi không bao giờ sai lời hứa. Tôi đã nói không là không.


(còn tiếp)


Nguồn: Hai mươi năm sau. Tiểu thuyết của A. Dumas. Anh Vũ dịch. NXB Văn học in lần thứ ba, 2009.


www.trieuxuan.info


 







[1]           Những Castruccio Castracani nổi tiếng ở Ý xưa kia, tức là những thủ lĩnh quân du kích hoặc lính đánh thuê, xưng hùng xưng bá một vùng. Trong số đó có những vua chúa thất thế.




[2]           Tiếng Latin: Im lặng, giữ kín.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
49.
50.
51.
52.
53.
54.
55.
56.
57.
58.
59.
60.
61.
62.
63.
64.
65.
66.
67.
68.
69.
70.
71.
72.
73.
74.
75.
76.
77.
78.
79.
80.
81.
82.
83.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 10.12.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 10.12.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 10.12.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 07.12.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 06.12.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 05.12.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 05.12.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 05.12.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 02.12.2019
xem thêm »