tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28956555
Tiểu thuyết
02.06.2010
Nikos Kazantzakis
Zorba tay chơi Hy Lạp

Không ai nói câu nào, cả hai cùng ăn ngấu nghiến; cả ngày chúng tôi chưa có miếng nào vào bụng. Chúng tôi uống chút rượu, tinh thần phấn chấn lên. Cuối cùng, Zorba mở miệng.


- Bây giờ mà thấy Bouboulina xuất hiện thì vui quá, sếp nhỉ. Mụ đến bây giờ thì thật là đúng lúc, nhưng cầu Chúa tránh cho chúng ta điều ấy! Mụ sẽ là giọt nước tràn cốc. Tuy nhiên, sếp biết đấy, tôi nhớ mụ quá, chết tiệt nhà mụ!


- Bác không hỏi tôi ai đã ném cho bác cái khúc xương đặc biệt đó nữa à?


- Sá gì sếp? Nó tựa như con bọ chét trong một đống cỏ khô thôi... Cứ gặm xương và đừng thắc mắc là ai đã ném xuống cho mình. Nó có ngon không? Còn dính tí thịt nào trên đó không? Đó mới là những câu cần hỏi. Còn mọi chuyện khác thì...


- Đồ ăn thức uống đã hoàn thành phép mầu kỳ diệu của nó! Tôi vừa nói vừa phát vào lưng lão. Thần xác đói mèm đã nguội dịu... thế là phần hồn lục vấn cũng nguội theo. Lấy cây santuri ra đi!


Nhưng đúng lúc Zorba đứng dậy, chúng tôi nghe thấy tiếng chân, nặng nề hối hả trên sỏi. Hai lỗ mũi đầy lông của Zorba phập phồng.


- Vừa nhắc đến mụ... - lão khẽ nói, tay vỗ đánh đét vào đùi. - Mụ đến đây rồi! Con chó cái đánh hơi thấy mùi Zorba trong không trung và mò tới đó.


- Tôi đi đây, - tôi đứng dậy nói. - Tôi không muốn dính dáng gì đến chuyện này. Tôi ra đi dạo một lát. Mặc bác.


- Chúc sếp ngủ ngon.


- Và đừng quên nhé, Zorba. Bác đã hứa sẽ lấy mụ đấy... Đừng làm tôi mang tiếng nói dối.


Zorba thở dài.


- Lại lấy vợ nữa ư, sếp? - Tôi ngán đến tận cổ rồi!


Mùi xà phòng thơm gần thêm.


- Can đảm lên, Zorba!


Tôi vội vã tếch. Ra đến ngoài, tôi đã nghe thấy ngư nữ già thở hổn hển.


 


 


17.


T inh mơ sáng hôm sau, giọng Zorba đánh thức tôi dậy.


                        - Mới bảnh mắt ra, con ong nào đã đốt bác vậy? Làm gì mà la váng lên thế?


- Chúng ta phải nắm tình hình cho nghiêm chỉnh, sếp ạ, - lão vừa đáp vừa nhét đầy thức ăn vào túi dết. - Tôi đã mang về hai con la, sếp dậy đi, chúng ta đến tu viện để dứt điểm việc ký giấy tờ thỏa thuận làm đường dây cáp vận chuyển. Chỉ có một thứ làm sư tử sợ: đó là rận. Lũ rận sẽ hút kiệt máu chúng ta, sếp ạ.


- Tại sao lại gọi Bouboulina tội nghiệp là con rận? - Tôi cười hỏi.


Nhưng Zorba vờ như không nghe thấy.


- Đi thôi, - lão nói, - trước khi mặt trời lên quá cao.


Tôi rất vui thích được lên núi và ngửi mùi thông. Chúng tôi nhảy lên mình la, bắt đầu leo. Chúng tôi dừng lại ở mỏ một lúc để Zorba dặn dò công nhân cuốc than ở đường hầm “Mẹ Nhất”, đào rãnh tháo nước ở đường hầm “Đái Tồ Tồ” và dọn sạch đường hầm “Canavaro”.


Ngày rực rỡ như một viên kim cương nước sáng nhất. Càng lên cao, tinh thần chúng tôi càng như được thanh lọc, càng hào hứng. Một lần nữa, tôi lại cảm thấy ảnh hưởng của không khí trong lành, dễ thở và chân trời bát ngát đối với tâm hồn. Tưởng như tâm hồn cũng là một con vật có phổi, có lỗ mũi, nó cần dưỡng khí và có thể chết ngạt trong bụi bặm hoặc giữa những chỗ quá nhiều uế khí.


Khi chúng tôi đi vào rừng thông thì mặt trời đã lên cao. Không khí ở đây sực mùi mật ong, gió thổi trên đầu chúng tôi, rì rào như sóng biển.


Trên đường đi, Zorba đã nghiên cứu độ dốc của sườn núi. Trong trí tưởng tượng, cứ cách mấy thước, lão lại trồng một cột và ngước mắt lên lão đã có thể thấy đường dây cáp lấp lánh dưới ánh mặt trời và chạy thẳng xuống bờ biển. Gắn vào dây cáp, những thân cây đã đốn veo véo lao xuống như tên bắn.


Lão xoa tay:


- Số dách! - Lão nói. - Đây sẽ là một mỏ vàng! Chả bao lâu, chúng ta sẽ ngụp lặn trong tiền bạc và có thể nói gì làm nấy.


Tôi ngạc nhiên nhìn lão.


- Hừm! Đừng có nói với tôi là sếp đã quên rồi! Trước khi xây cái tu viện của sếp, ta còn phải trèo lên cái ngọn núi lớn ấy. Tên nó là gì nhỉ?


- Tây Tạng, Zorba ạ, Tây Tạng. Nhưng chỉ hai chúng ta thôi. Bác không được mang đàn bà đến đó.


- Ai nói đến chuyện mang theo đàn bà? Dù sao, những sinh vật tội nghiệp ấy cũng rất có ích, cho nên sếp đừng có nói xấu gì họ; rất có ích khi một người đàn ông không có một công việc đàn ông nào để mà làm, tỉ như cuốc than, tiến công chiếm thành phố hay nói chuyện với Thượng Đế! Vậy, hắn còn biết làm gì khác để khỏi nổ tung ra vì phiền muộn? Hắn uống rượu, chơi xúc xắc hoặc ôm ấp một người đàn bà... và chờ đợi... chờ đợi thời cơ... nếu như thời cơ sẽ đến.


Lão im lặng một lát.


- Nếu như thời cơ sẽ đến, - lão nhắc lại, giọng bực bội, - bởi vì có thể nó sẽ không bao giờ đến cả.


Và một lúc sau: - Không thể cứ như thế này mãi được, sếp ạ; hoặc là thế giới sẽ phải bé đi hoặc là tôi sẽ phải to ra. Nếu không thì tôi đi đứt!


Một tu sĩ hiện ra giữa rạng thông, tóc đỏ hoe và nước da vàng bệch, tay áo xắn lên, đầu đội một chiếc mũ tròn bằng vải dệt lấy. Ông ta cầm một cây gậy sắt, vừa đi vừa đập xuống đất. Trông thấy chúng tôi, ông dừng lại và giơ cây gậy lên.


- Các ông đi đâu? - Ông ta hỏi


- Đến tu viện, - Zorba đáp, - chúng tôi đến cầu nguyện.


- Quay lại đi, các tín đồ Cơ Đốc giáo, tu sĩ kêu lên, cặp mắt xanh trong dần dần bốc lửa. Quay về đi, tôi khuyên các ông như vậy. Các ông sẽ không tìm thấy vườn cây của Đức Mẹ Đồng Trinh ở đây đâu, mà chỉ có vườn của Xatăng thôi! Nghèo khó, khiêm nhường, thanh sạch... mũ miện của người tu hành, như người ta nói! Hô! Hô!. Quay trở lại đi, tôi khuyên các ông. Tiền bạc, kiêu hãnh và trai tơ! Đó là Đức Chúa Ba Ngôi của họ.


- Tay này ngộ đấy, - Zorba khoái trí thì thầm.


Lão quay sang người kia.


- Tên đạo hữu là gì? - Lão hỏi tu sĩ. - Và đạo hữu từ đâu tới?


- Tên tôi là Zaharia. Tôi đã sẵn sàng khăn gói ra đi! Ngay lập tức. Tôi không chịu được nữa! Xin người đồng bào vui lòng cho tôi biết quý danh.


- Canavaro.


- Tôi không thể chịu đựng thêm ngày nào nữa, người anh em Canavaro ạ. Suốt đêm, Chúa Kitô rên rỉ, làm tôi không ngủ được. Và tôi cũng rên với Ngài luôn. Thế rồi, sáng sớm nay, tu viện trưởng - cầu sao lão bị thiêu trong lửa Địa Ngục đời đời - cho gọi tôi lên. “Này, Zaharia” lão nói “Vậy thầy không để các đạo hữu ngủ ư? Tôi sẽ tống cổ thầy” - “Tôi không để cho họ ngủ ấy à?” tôi nói “tôi hay Chúa Kitô? Chính Chúa cứ rên rỉ hoài đấy chứ”. Thế là lão giơ cây Thánh giá lên, cái tên phản Chúa ấy và... người anh em xem đây!


Ông ta trật cái mũ thầy tu ra, để lộ một nạm máu đông trên tóc.


- Cho nên tôi rũ áo ra đi.


- Hãy quay lại tu viện với chúng tôi, Zorba nói. Tôi sẽ thuyết phục tu viện trưởng. Nào, Cha có thể đi cùng với chúng tôi và dẫn đường cho chúng tôi. Quả là trời phái Cha đến giúp chúng tôi.


Tu sĩ nghĩ một lát. Mắt ông ta long lanh.


- Các ông thuê tôi cái gì?


- Cha muốn gì?


- Hai “pao” cá thu muối và một chai brandi.


Zorba cúi người về phía trước nhìn ông ta.


- Phải chăng Cha cũng đôi lúc có một thứ ma quỷ trong người, Cha Zaharia?


Tu sĩ giật mình.


- Làm sao ông đoán được? - Ông ta ngạc nhiên hỏi.


- Tôi cũng gốc gác ở núi Athos nên cũng biết sơ sơ về điều đó, - Zorba đáp.


Thầy tu cúi đầu. Phải cố gắng lắm chúng tôi mới nghe rõ câu trả lời của ông ta:


- Phải, trong tôi có một con quỷ.


- Và nó thích cá thu muối cùng rượu branđi, phải không?


- Phải, nó đáng ném vào hỏa ngục ba lần!


- Thôi được! Xong! Nó cũng hút thuốc lá nữa chứ?


Zorba ném cho thầy tu một điếu thuốc và ông ta háo hức vồ lấy.


- Nó có hút, phải, nó có hút, ôn dịch bắt nó! - Ông ta nói và ông lấy trong túi ra một hòn đá lửa cùng một cái bấc, châm thuốc và rít một hơi dài.


- Nhân danh Chúa Jêxu! - Ông ta nói.


Ông ta nhấc chiếc gậy sắt lên, quay đằng sau và cất bước.


- Con quỷ của thầy tên là gì nhỉ? - Zorba vừa hỏi vừa nháy mắt với tôi.


- Joseph! - Zaharia trả lời, không quay đầu lại.


Tôi chẳng thích đi cùng với lão thầy tu nửa điên nửa dại này chút nào. Một đầu óc bệnh hoạn cũng như một thân thể bệnh hoạn, khiến tôi thương hại, đồng thời cũng cảm thấy ghê tởm. Nhưng tôi không nói gì. Tôi để Zorba muốn làm gì thì làm.


Chúng tôi ngồi xuống dưới một cây thông khổng lồ, mở túi dết ra. Tay thầy tu cúi người và thèm thuồng ngó vào xem trong đó có gì.


- Từ từ nào! - Zorba kêu. - Đừng nhóp nhép miệng quá sớm vậy, Zaharia! Hôm nay là thứ Hai tuần lễ Thánh chúng tôi là hội viên Hội Tam Điểm, nên sẽ ăn chút thịt và gà giò. Chúa xá tội cho chúng tôi! Nhưng đây có chút halva và quả ôliu dành cho cái dạ dày thánh của cha đó!


Tu sĩ vuốt bộ râu nhớp nhúa:


- Đành là tôi sẽ ăn quả ôliu với bánh mì và nước lã, y nói, vẻ hối lỗi. Nhưng Joseph là một con quỷ, nó sẽ ăn thịt với các bạn, nó thích gà giò - ôi, nó là một linh hồn đọa lạc mà - và nó sẽ uống rượu trong bầu của các bạn.


Y làm dấu Thánh giá, ngốn bánh mì, ôliu và halva, dùng mu bàn tay chùi mồm, uống nước, rồi lại làm dấu như thể đã ăn xong bữa.


- Nào, - y nói, - bây giờ đến lượt Joseph, cái linh hồn khốn khổ ba lần bị đầy Địa Ngục.


Và vồ lấy miếng gà giò.


- Ăn đi, hỡi linh hồn đọa lạc! - Y vừa làu bàu giận dữ vừa tọng những miếng tướng vào mồm. - Ăn đi!


- Ura! Cừ lắm, - ông thầy tu! Zorba reo lên, phấn khởi. - Tôi thấy là cha bắt cá cả hai tay.


Lão quay sang tôi.


- Sếp thấy y thế nào, sếp?


- Y rất giống bác, - tôi cười đáp.


Zorba đưa bầu rượu cho tay thầy tu.


- Joseph! Làm một hớp nào!


- Uống đi, hỡi linh hồn đọa lạc! - Tu sĩ vừa nói vừa chộp lấy bầu rượu tấp lên miệng.


Mặt trời nóng dữ và chúng tôi lùi vào bóng râm. Tay thầy tu sực mùi mồ hôi chua loét và mùi trầm hương. Y gần như chảy nước dưới ánh nắng và Zorba phải kéo y vào chỗ râm mát nhất để bớt nặng mùi.


- Làm sao mà cha lại trở thành tu sĩ? - Zorba hỏi, lão đã ăn uống no nê và muốn nói chuyện phiếm.


Tu sĩ nhe răng cười.


- Bộ ông bạn tưởng là vì mình rất thánh thiện? Chắc thế! Đó là do nghèo khó, ông bạn ạ, nghèo khó! Mình chẳng còn gì ăn, thế là mình tự nhủ: hay là vào béng một tu viện cho khỏi chết đói!


- Thế cha có mãn nguyện không?


- Đội ơn Chúa! Mình cũng hay thở dài và ca cẩm nhưng xin đừng có để ý đến điều đó. Mình không khát khao những chuyện thế tục đâu: riêng phần mình thì mình đ... cần những cái đó... ấy xin lỗi... ngày nào mình cũng bảo thẳng là mình đ... cần. Thế nhưng mình khao khát Ihiên Đàng! Ở đây mình thường bông đùa, đú đởn, làm cho đám tu sĩ chê cười. Tất cả bọn họ đều bảo là mình bị quỷ ám và lăng mạ mình. Nhưng minh tự bảo “không đúng thế, Thượng Đế chắc phải thích vui đùa cười cợt. “Vào đây, chú hề nhỏ của ta, vào trong này”, một ngày kia. Ngài sẽ bảo mình vậy, mình biết mà. “Lại đây, làm trò mua vui cho ta!” Đó, mình sẽ vào Ihiên Đàng bằng cách ấy, với tư cách là thằng hề!


- Đầu óc thầy nhắm đúng hướng đấy, không trệch đi đâu được, bạn già ạ. - Zorba đứng dậy nói: - Nào, ta phải đi thôi kẻo tối mất.


Tu sĩ lại đi lên trước. Trong khi trèo núi, tôi có cảm giác như bọn tôi đang leo những cấp độ trí tuệ trong tôi, từ những lo lắng tủn mủn, thấp hèn lên những ưu tâm cao cả hơn, từ những chân lý tiện lợi của đồng bằng lên những quan niệm cheo leo.


Đột nhiên tay thầy tu dừng lại.


- Đức Bà Báo Oán! - Y kêu lên, chỉ tay vào một miếu đường nhỏ có mái vòm duyên dáng. Y quỳ xuống, làm dấu Thánh giá. Tôi xuống la và bước vào nhà nguyện mát. Một thánh tượng cổ kính ám khói được đặt trong góc, đầy đồ lễ tạ: những lá bạc mỏng khắc thô sơ những hình chân, tay, mắt, trái tim... Trước thánh tượng, một giá nến bằng bạc giữ liên tục một ngọn lửa thường trực.


Tôi lặng lẽ lại gần: một Thánh Mẫu dữ dội, hiếu chiến, cổ lực lưỡng, với cái nhìn khắc khổ, ngượng ngập của một trinh nữ, tay không bồng chúa hài đồng, mà cầm một ngọn giáo dài thẳng băng.


- Tai họa cho kẻ nào dám xâm phạm tu viện! - Tay thầy tu nói, vẻ kinh hãi. - Đức mẹ sẽ lao vào, đâm giáo xuyên qua người hắn. Ngày xưa, bọn Algiêri đến đây đốt tu viện. Nhưng hãy coi lũ vô đạo ấy bị trừng phạt như thế nào về tội ấy: khi chúng qua miếu đường này. Đức Mẹ Đồng Trinh thình lình nhảy vọt từ thánh tượng lao ra ngoài và bắt đầu vung giáo đâm bên nọ xỉa bên kia, khắp mọi phía... giết sạch, không còn một mống. Ông nội tôi nhớ là đã thấy hài cốt chúng la liệt khắp cánh rừng. Từ đó, chúng tôi gọi Người là Đức Bà Báo Oán. Trước kia người ta gọi là Đức Mẹ từ bi.


- Tại sao người không thi thố phép lạ trước khi chúng đốt tu viện, thưa cha Zaharia? - Zorba hỏi.


- Đó là ý của đấng tối cao! - Tu sĩ đáp và làm dấu ba lần.


- Đấng tối cao mới hay lớm làm sao! - Zorba vừa lẩm bẩm vừa trở lại trèo lên yên. - Ta đi tiếp thôi!


Chẳng mấy chốc, hiện ra một cao nguyên trên đó in rõ nét tu viện Đức Mẹ Đồng Trinh giữa lớp lớp đá và thông. Thanh tĩnh, tươi tắn, tách biệt hẳn với thế giới trần tục, nằm lọt thỏm trong hõm xanh um của đèo cao này, kết hợp một cách hài hòa sâu sắc vẻ cao cả của ngọn núi với vẻ dịu dàng của đồng bằng, tu viện này hiện ra trước mắt tôi như một nơi ẩn dật tuyệt vời cho con người suy tưởng.


“Ở đây”, tôi nghĩ thầm, “một tâm hồn dịu dàng, mực thước có thể vun trồng nên một phấn hứng tôn giáo vừa tầm con người. Chẳng phải một đỉnh cao cheo leo, siêu phàm cũng không phải một đồng bằng lười nhác, gợi dục, chỉ vẻn vẹn là cái gì cần thiết cho tâm hồn trở nên cao cả mà vẫn không mất đi tình thương yêu trìu mến của con người. Một nơi như thế này sẽ không tạo nên anh hùng, cũng chẳng sản sinh ra loài súc sinh. Nó sẽ tạo nên con người”.


Một ngôi đền cổ Hy Lạp duyên dáng hoặc một nhà thờ Hồi giáo tươi vui đặt ở nơi này ắt là hợp. Thượng Đế nên mang nhân dạng bình dị, mà xuống đây, đi chân không qua bãi cỏ xuân và trầm tĩnh chuyện trò với con người.


“Thật huyền diệu! Thật cô tịch! Thật là cực lạc!” tôi thì thầm.


Chúng tôi xuống la, đi qua cửa giữa, lên nhà khách, ở đó, người ta mời chúng tôi một khay rượu raki, mứt và cà phê theo tục lệ cổ truyền. Cha tiếp tân ra gặp chúng tôi và một lúc sau các tu sĩ xúm quanh chúng tôi, bắt đầu nói chuyện. Những cặp mắt tinh quái, những đôi môi háo hức, những bộ râu, ria và mùi nồng nặc của biết bao con dê đực.


- Các ông có mang báo đến không? - Một tu sĩ bồn chồn hỏi.


- Báo ư? - Tôi ngạc nhiên nói. - Ở đây, các cha cần báo làm gì?


- Ông bạn ạ, có báo chúng tôi mới biết được những gì đang xảy ra ở thế giới dưới kia! - Hai ba giọng bất bình cất lên.


Tì vào thành bao lơn, họ quang quác như một lũ quạ. Họ sôi nổi nói chuyện về nước Anh, nước Nga, về Venizelos(1), và đức vua. Thế giới đã trục xuất họ, nhưng họ vẫn gắn bó với thế giới. Mắt họ còn đầy hình ảnh những thành phố lớn, những cửa hiệu, phụ nữ, báo chí...


(còn tiếp)


Nguồn: Zorba Tay chơi Hy Lạp. Tiểu thuyết của Nikos Kazantzakis. Dương Tường dịch theo bản tiếng Anh ZORBA THE GREEK của Carl Wildman. Ballantine, 1965. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 23.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »