tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30476563
Tiểu thuyết
23.04.2010
A. Dumas
Hai mươi năm sau

Ở trong thuyền có ba con người chắc chắn là dũng cảm và không ai dám phủ nhận lòng can đảm của họ. Vậy mà trước tiếng nói ấy, cái giọng ấy, cử chỉ ấy, họ cảm thấy một nỗi kinh hoàng chạy rần rật trong mạch máu họ.


Còn Grimaud thì tóc gáy dựng lên và mồ hôi chảy ròng ròng trên trán.


– A! – Aramis nói, – đó là thằng cháu, đó là gã mục sư, đó là con trai của Milady, như chính hắn vừa nói sao?


– Chao ôi, đúng thế! – De Winter lẩm bẩm.


– Thế thì, đợi đấy! – Aramis nói.


Và với vẻ bình tĩnh ghê gớm mà anh thường có trong những tình huống gay go nhất, anh cầm lấy một trong hai khẩu súng trường mà Tony mang theo, giơ lên nhắm vào con người đang đứng sừng sững trên tảng đá như một hung thần.


– Bắn đi! – Grimaud bất giác kêu lên.


Athos nhào mình vào nòng súng và ngăn lại phát đạn sắp sửa bay đi.


– Quỉ bắt anh đi! – Aramis la lên – tôi đã nhắm hắn rất chính xác ở đầu mũi sung và chắc chắn là viên đạn đã trúng giữa ngực hắn rồi.


– Giết chết mẹ nó là đủ lắm rồi, – Athos âm thầm nói.


– Mẹ nó là một đứa phản trắc đã từng đánh vào tất cả chúng ta, hoặc vào bản thân chúng ta hoặc vào những người thân yêu của chúng ta.


– Phải rồi, nhưng đứa con trai, nó chưa làm gì chúng ta cả.


Grimaud lúc nãy nhổm lên để xem hiệu quả của phát súng bây giờ buông mình xuống chán nản và đập tay đen đét.


Gã thanh niên cười phá lên.


– A! Thì ra chính các người, – hắn nói, – thì ra chính các người, và bây giờ ta đã biết rõ các người.


Tiếng cười the thé và những lời nói hăm dọa của hắn theo gió bay trên mạn thuyền và tan đi trong chân trời sâu thẳm.


Aramis rùng mình.


– Hãy bình tĩnh nào, – Athos nói. – Quỉ quái thật! Chúng ta không còn phải là những đấng nam nhi nữa hay sao?


– Có chứ, – Aramis đáp – nhưng gã kia là một con quỉ. Và này, hãy hỏi ông bác xem tôi có sai lầm không nếu trừ khử đứa cháu thân yêu của ông ấy.


De Winter chỉ đáp lại bằng một tiếng thở dài.


Athos nắm bàn tay De Winter và thử lái câu chuyện, anh hỏi ông:


– Bao giờ thì chúng ta cập bến nước Anh?


Nhưng ông ta không nghe thấy những lời ấy và không trả lời.


– Athos này, – Aramis nói – có lẽ hãy còn kịp thời giờ. Trông xem, hắn vẫn đứng ở chỗ cũ.


Athos gắng gượng quay đầu lại, nhìn gã thanh niên đối với anh hiển nhiên là nặng nề khó chịu.


Thực vậy, gã vẫn đứng sừng sững trên tảng đá, ngọn đèn pha tạo ra chung quanh gã một vầng hào quang sáng lạn.


Athos như là hiện thân của lý trí, chú ý tìm hiểu nguyên nhân mà ít quan tâm đến hiệu quả; anh hỏi:


– Nhưng hắn làm gì ở Boulogne?


– Hắn theo đuổi tôi, hắn theo đuổi tôi, – De Winter đáp, lần này ông đã nghe thấy tiếng nói của Athos, vì tiếng nói của anh phù hợp với những suy nghĩ của ông.


– Bạn ơi – Athos nói, – để theo đuổi ông, ắt là hắn phải biết rõ cuộc khởi hành của chúng ta chứ? Vả chăng, chắc chắn là trái hẳn lại, hắn ta đã đi trước chúng ta kia mà.


– Thế thì tôi chẳng hiểu ra làm sao cả! – Người Anh vừa nói vừa lắc đầu như một kẻ đang nghĩ rằng thử chống lại một sức mạnh siêu nhiên thì thật là vô ích.


– Aramis này, – Athos bảo, – tôi nghĩ rằng mình rõ ràng sai lầm không để mặc cậu làm cái việc vừa rồi.


– Thôi im đi, – Aramis đáp, – anh làm tôi phát khóc lên bây giờ.


Grimaud thốt ra một tiếng càu nhàu không rõ rệt, nghe như một tiếng gầm gừ.


Vừa lúc ấy từ chiếc tàu buồm có tiếng réo gọi họ. Người lái thuyền ngồi ở đang lái đáp lại và chiếc thuyền ghé mạn con tàu.


Một lát sau, mấy người cùng đầy tớ và hành lý đã lên tàu. Người chủ tàu chỉ đợi hành khách để nhổ neo, và hành khách vừa mới lên boong là người ta cho con tàu quay mũi về phía Hastings nơi họ phải lên bờ.


Cũng lúc ấy ba người bạn đều bất giác nhìn một lần cuối cùng về phía tảng đá, ở đó vẫn nổi lên cái bóng hăm dọa đang theo dõi họ.


Rồi một tiếng nói vọng đến tận chỗ họ và gửi tới họ lời đe dọa cuối cùng:


– Hẹn gặp lại các ngài ở bên nước Anh nhé!


46.

Lễ tạ ơn về chiến thắng Lens


Tất cả sự hoạt động náo nhiệt ấy mà bà Henriette nhận thấy và cố tìm hiểu lý do nhưng uổng công, là do chiến thắng ở Lens gây nên. Quận công De Châtillon có phần đóng góp cao quí vào chiến thắng, được ngài Hoàng thân phái về đưa tin; ngoài ra ông còn được giao cho treo lên các vòm cửa Nhà thờ Đức Bà hai mươi lá cờ chiếm được cua cả quân Lorraine và quân Tây Ban Nha.


Tin tức ấy có tính quyết định: nó cắt đứt cuộc tố tụng với nghị viện, ủng hộ triều đình. Tất cả những thuế khóa đăng ký giản lược bị nghị viện phản đối đều được viện lý do về sự cần thiết bảo vệ danh dự của nước Pháp và về kỳ vọng rủi may đánh bại quân thù. Nhân vì từ sau chiến thắng Nordlingen người ta chỉ toàn gặp phải những chuyện hẩm hiu, nên nghị viện có thể chất vấn Mazarin về những chiến thắng luôn luôn được hứa hẹn và luôn luôn bị trì hoãn. Nhưng lần này rốt cuộc người ta đã đánh nhau và tranh giành toàn là chiến công và chiến công mỹ mãn. Cho nên mọi người đều hiểu rằng có chiến thắng kép đôi với triều đình: chiến thắng ở bên ngoài và chiến thắng ở bên trong, đến nỗi nhà vua ấu thơ khi nhận được tin tức cũng phải kêu lên:


– A! Hỡi các ngài trong nghị viện, chúng ta sẽ xem các ngài nói thế nào đây!


Nghe vậy Hoàng hậu đã ôm ghì vào ngực mình vị ấu chúa mà những tình cảm kiêu kỳ và bất khuất hòa hợp thật nhịp nhàng với tình cảm của bà. Một cuộc hội họp được triệu tập ngay tối hôm nay được mời dự có thống chế De La Meilleraie và ông De Villeroy, bởi vì họ theo phái Mazarin; có Chavigny và Séguier bởi vì họ thù ghét nghị viện; có Guitaut và Comminges bởi vì họ hết lòng với hoàng hậu.


Những điều quyết định trong cuộc họp chẳng lọt ra ngoài tí gì. Người ta chỉ biết rằng chủ nhật tới sẽ có lễ và hát Tạ ơn ở Nhà thờ Đức Bà mừng chiến thắng Lens.


Hôm chủ nhật ấy, dân chúng Paris tỉnh giấc trong niềm hoan hỉ. Thời ấy lễ tạ ơn là một đại sự, người ta chưa lạm dụng cái kieu lễ nghi này và nó gây tác dụng lớn. Mặt trời như cũng tham dự vào lễ hội, thức dậy thật rạng rỡ và mạ vàng lên những ngọn tháp tối sẫm của kinh đô lúc ấy đã nườm nượp dân chúng. Những phố xá tối tăm nhất của khu Cité cũng mang không khí hội hè và dọc theo các đường kè người ta cũng thấy những đoàn dài dằng dặc những nhà tư sản, những thợ thủ công, những đàn bà trẻ con nối tiếp nhau kéo đến Nhà thờ Đức Bà, giống như một con sông chảy ngược về nguồn.


Các cửa hiệu vắng tanh, các nhà đều đóng cửa. Ai nấy đều muốn xem ông vua trẻ cùng với mẹ và vị giáo chủ trứ danh Mazarin mà người ta căm ghét đến nỗi ai cũng muốn nhìn tận mắt.


Vả chăng, sư tự do lớn nhất ngự trị trong đám dân chúng đông đảo ấy: mọi chính kiến đều biểu hiện công khai và có thể nó báo hiệu cuộc khởi loạn, giống như hàng nghìn quả chuông ở tất cả các nhà thờ ở Paris khua vang báo hiệu le Tạ ơn. Cảnh sát của thành phố do tự thành phố đặt ra; chẳng có cái gì đe dọa đến quấy rối cuộc hòa tấu của lòng căm ghét rộng rãi và làm nguội lạnh những lời nói từ những cửa miệng phỉ báng kia.


Tuy nhiên, từ tám giờ sáng, trung đoàn thị vệ của hoàng hậu do Guitaut chỉ huy cùng với phó là Comminges cháu ông ta, có kèn trống đi đầu, đến bố trí quân từ Hoàng cung đến Nhà thờ Đức Bà. Dân Paris xem cuộc vận động ấy với vẻ bình thản va bao giờ cũng tò mò trước điệu nhạc binh và những bộ quân phục sặc sỡ.


Friquet diện quần áo ngày hội. Viện cớ bị sưng hàm mà hắn tạo ra bằng cách tọng vô số hạt anh đào vào một bên miệng, hắn đã được Bazin cấp trên của hắn cho nghỉ cả ngày.


Lúc đầu Bazin từ chối, do bác đang bực bội trước hết vì Aramis ra đi mà chẳng hề nói cho bác biết là đi đâu, sau nữa vì bác phải phục dịch một cuộc lễ mixa mừng chiến thắng không hợp với chính kien của mình. Ta còn nhớ Bazin là một người Fronde; và nếu trong một buổi lễ long trọng như thế này mà một ông phụ thủ có thể vắng mặt như một lễ sinh tầm thường thì Bazin ắt đã trình với vị tổng giám mục cái điều yêu cau như người ta vừa trình với bác. Bác bèn bắt đầu bằng cách từ chối mọi chuyện nghỉ phép.


Nhưng ngay trước mắt Bazin cái hàm của Friquet. sưng lên to tướng, cho nên vì danh dự của cả đoàn lễ sinh có thể bị tổn hại bởi một dị dạng như thế, cuối cùng Bazin đành càu nhàu mà nhượng bộ.  Ra đến cổng nhà thờ, Friquet nhổ toẹt cái khối sưng ra và dứ về phía Bazin một cử chỉ nó bảo đảm cho thằng nhóc Paris sự hơn hẳn của nó đối với những thằng nhóc khác trên thế giới; còn về công việc khách sạn của hắn, tất nhiên hắn giũ sạch mà nói rằng hắn phải phục dịch một ngày lễ ở Nhà thờ Đức Bà.


Như vậy là Friquet được tự do diện bộ quần áo bảnh bao nhất. Nhất là hắn lại có một thứ trang sức thật đặc sắc, đó là một cái mũ bonnet nó lai lai kiểu mũ dẹt thời trung cổ với kiểu mũ rộng vành thời vua Louis XIII. Bà mẹ nó may cho nó cái mũ kỳ lạ ấy, và do ngẫu hứng hoặc do thiếu vai đồng màu, bà đã tỏ ra ít quan tâm đến sự hòa hợp màu sắc, thành thử các tác phẩm kiệt xuất của đồ mũ mãng thế kỷ thứ mười bảy kia một bên thì vừa vàng vừa xanh, một bên thì vừa trắng vừa đỏ. Nhưng Friquet vốn rất mê sự đa dạng của màu sắc, nên hắn chỉ càng thêm hãnh diện và dương dương đắc ý.


Ra khỏi chỗ Bazin, Friquet ba chân bốn cẳng chạy đến Hoàng cung. Hắn tới vào lúc trung đoàn thị vệ từ trong đó đi ra, và do hắn đến chẳng có mục đích nào khác là xem diễn binh và nghe nhạc, hắn bèn đi lên đầu, đánh trống bằng hai thanh đá đen, rồi chuyển sang chơi kèn miệng giả làm kèn đồng một cách tài tình khiến các nhà tài tử về âm điệu bắt chước đã phải nhiều lần khen ngợi.


Trò chơi ấy kéo dài từ cửa ở các Thầy đội đến quảng trường Nhà thờ Đức Bà, và Friquet lấy làm thích thú lắm. Nhưng khi trung đoàn dừng lại và các đại đội triển khai đi sâu tận vào tận trung tâm khu Cité và đóng ở cuối phố Saint Christophes, gần phố Cocatrix nơi ông Broussel ở, thì Friquet chợt nhớ ra là mình chưa ăn sáng, hắn loay hoay tìm xem mình phải quay gót về phía nào để hoàn thành cái công việc quan trọng trong ngày ấy. Sau khi đã suy nghĩ chín chắn, hắn quyết định rằng ông tham nghị Broussel sẽ phải chi cho bữa chén của hắn.


Cho nên hắn băng mình chạy đến đứt hơi tới nhà ông tham nghị và đạp cửa dữ dội.


Bà mẹ hắn làm vú già cho ông Broussel ra mở cửa.


– Thằng ôn con kia, – bà nói, – mày đến đây làm gì, tại sao mày không ở Nhà thờ Đức Bà?


– Mẹ Nanette ơi, – Friquet đáp, – con đã đến đấy, nhưng vì con thấy có những chuyện xảy ra mà thầy Broussel cần được báo cho biết, cho nên được ông Bazin cho phép, mẹ biết ông Bazin phụ thủ chứ, con đến đây để nói chuyện với ông Broussel.


– Thế mày định nói gì với ông Broussel, hả thằng khỉ?


– Con muốn nói riêng với ông ấy.


– Không thể được, ông ấy đang bận việc.


– Thế thì con đợi vậy, – Friquet nói, – Chắc hẳn ông ấy thu xếp thì giờ được.


Và hắn leo nhanh lên cầu thang, còn bà Nanette thong thả lên sau hắn.


– Nhưng cuối cùng, – bà nói, – mày muốn gì ơ ông Broussel.


– Con muốn bảo ông ấy rằng, – Friquet cố nói thật to để đáp lại, – có cả một trung đoàn thị vệ đi về phía này. Do con nghe nói ở khắp nơi rằng triều đình có ác cảm với ông, nên con đến báo trước để ông ấy đề phòng.


Broussel nghe tiếng kêu của thằng nhãi ranh và thích thú trước sự hăng hái quá mức của hắn, ông bước xuống gác một, vì quả thật ông đang làm việc ở gác hai.


– Này, cậu bạn ơi, – ông nói, – trung đoàn thị vệ thì can gì đến ta và cậu điên hay sao mà làm om xòm lên thế? Cậu không biết rằng đó là thói quen các vị ấy vẫn làm như thế ư? Theo lệ thường thì trung đoàn ấy phải làm hàng rào trên đường vừa đi qua.


Friquet giả bộ kinh ngạc và dùng ngón tay quay quay cái mũ mới, hắn nói:


– Thưa ông Broussel, ông biết điều đó thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên với ông, ông biết hết mọi thứ, nhưng còn cháu thì lạy Chúa, thực ra cháu không biết, và cháu cứ tưởng rằng đã góp với ông một ý kiến hay. Xin ông Broussel đừng giận cháu về điều đó.


– Trái lại, cậu nhỏ ơi, trái lại ta thích sự nhiệt tình của cậu. Bà Nanette ơi, hãy xem những quả mơ mà bà Longueville gửi cho ta hôm qua; và lấy dăm sáu quả cho con trai bà cùng với một cái bánh mềm.


– A! Xin cảm ơn ông Broussel, – Friquet nói, – xin cảm ơn, cháu rất thích ăn mơ.


Broussel sang phòng vợ và bảo dọn ăn sáng. Lúc ấy chín giờ rưỡi. Ông cố vấn đứng ra cửa sổ. Phố xá vắng tanh, nhưng xa xa người ta nghe thấy như tiếng thủy triều đang dâng lên, tiếng ầm ầm mênh mông của những đợt sóng quần chúng đã lớn lên chung quanh Nhà thờ Đức Bà.


Tiếng ồn ấy càng tăng khi D’Artagnan cùng với đại đội ngự lâm quân đến canh ở các cổng Nhà thờ Đức Bà để giúp tiến hành cuộc lễ. Anh đã bảo trước Porthos vận đại lễ phục, cưỡi con ngựa đẹp nhất của mình, đóng vai người linh ngự lâm danh dự giống như D’Artagnan trước kia vẫn thường làm.


Viên đội trong đơn vị, người lính già trong những cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha đã nhận ra Porthos là bạn đồng ngũ và chẳng mấy chốc đã kể cho mọi người dưới quyền bác những công tích lớn lao của anh chàng khổng lồ ấy, niềm vinh dự của ngự lâm quân xưa kia của ngài De Tréville. Porthos không những được anh em trong đại đội đón tiếp niềm nở mà còn được mọi người nhìn với vẻ thán phục.


Mười giờ sáng đại bác ở cung Louvre bắn báo hiệu vua ra. Một chuyển động giống như một cơn giông bão uốn cong và xô lắc các ngọn cây truyền nhanh trong đám dân chúng đang rộn rịch đằng sau những khẩu súng trường bất động của lính thị vệ. Cuối cùng vua xuất hiện cùng với thái hậu trong một cỗ xe toàn mạ vàng. Mười cỗ xe khác theo sau chở các thị nữ, các sĩ quan của hoàng gia và tất cả triều đình.


– Đức vua muôn năm! – Người ta hô lên ở khắp mọi chỗ.


Ông vua trẻ trịnh trọng thò đầu ra cửa xe, lộ vẻ mặt khá biết ơn và cũng khẽ gật đầu chào, điều đó càng làm tăng tiếng hô của đám đông.


Đoàn ngự giá đi thong thả và phải mất gần nửa giờ để vượt khoảng cách từ cung Louvre đến quảng trường Nhà thờ Đức Bà. Tới đó đoàn dần dần tiến vào dưới cái vòm rộng mênh mông của đô thành và cuộc lễ thánh bắt đầu.


Lúc triều đình đi đến chỗ của mình, thì một cỗ xe có gia huy của Comminges rời đoàn xe của triều đình và thong thả đi đến cuối phố Saint-Christophe vắng tanh vắng ngắt. Bốn thị vệ và một phó quan cảnh sát đi theo xe bèn leo lên cỗ xe nặng nề và đóng các rèm cửa lại rồi qua một kẽ sáng được sắp đặt thận trọng, viên cảnh sát bắt đầu rình theo dọc phố Cocatrix như có ý đợi một người nào đi tới.


Tất cả mọi người đều bận tâm vào lễ hội, thành thử cả cỗ xe lẫn những sự đề phòng của những kẻ ngồi trong xe đều không bị chú ý. Riêng có Friquet mà mắt lúc nào cũng rình rập là thấy rõ, hắn đến đầu tường ở một ngôi nhà ở sân trước nhà thờ để nhấm nháp những quả mơ. Từ chỗ ấy hắn nhìn xem vua, hoàng hậu và tể tướng Mazarin, và dự lễ mixa như hắn đã phục dịch.


Vào cuối cuộc lễ, hoàng hậu trông thấy Comminges vẫn đứng bên cạnh bà để chờ đợi sự xác định lại mệnh lệnh mà bà đã giao cho y trước lúc rời cung Louvre, bà khẽ nói:


– Đi đi, Comminges, và xin Chúa phù hộ cho ông!


Comminges lập tức đi ngay, ra khỏi nhà thờ và đi vào phố Saint-Christophe.


Friquet nhìn thấy viên sĩ quan bảnh bao ấy có hai thị vệ theo sau thì cũng đi theo chơi, và càng hoan hỉ vì cuộc lễ kết thúc ngay lúc ấy và vua cũng đã lên xe.


Vừa trông thấy Comminges xuất hiện ở đầu phố Cocatrix là viên cảnh sát nói nhỏ một tiếng với tên xà ích và tên này lập tức cho cỗ xe chuyển động và đi đến cổng nhà ông Broussel.


Comminges gõ cửa cùng lúc chiếc xe dừng ở đó.


Friquet đứng đằng sau Comminges, đợi mở cửa.


– Thằng ôn kia, mày làm gì đấy? – Comminges hỏi.


Với cái giọng mơn trớn mà thằng nhóc Paris biết dùng rất tài tình khi cần thiết, Friquet đáp:


– Thưa ngài sĩ quan, tôi đợi vào nhà tiên sinh Broussel?


– Đúng là ông ta ở đây phải không? – Comminges hỏi.


– Vâng, thưa ngài.


– Ông ta ở gác mấy?


– Ở tất cả các ngôi nhà, – Friquet đáp; – nhà này là của ông ấy mà.


– Nhưng thường ong ta ở đâu?


– Khi làm việc ông ở gác hai; khi ăn ông xuống gác một; lúc này chắc ông đang ăn vì là giữa trưa rồi.


– Tốt! – Comminges nói.


Cửa mở. Viên sĩ quan hỏi người đầy tớ và biết rằng tiên sinh Broussel có nhà và đúng là đang ăn trưa. Comminges đi lên sau người đầy tớ và Friquet đi lên sau Comminges.


Broussel ngồi ở bàn ăn cùng với gia đình, trước mặt ông là bà vợ, hai bên cạnh là hai cô con gái, ở đầu bàn là người con trai Louvières; mà chúng ta đã thấy xuất hiện nhân tai nạn của ông tham nghị, nay ông đã bình phục hoàn toàn. Ông già đôn hậu sức khỏe dồi dào đang thưởng thức những trái mơ ngon lành mà bà De Longueville gửi đến.


Người đầy tớ toan mở cửa phòng dề báo tin, thì Comminges giữ tay người ấy lại, tự mình mở cửa và đứng ngay trước bức tranh gia đình ấy.


(còn tiếp)


Nguồn: Hai mươi năm sau. Tiểu thuyết của A. Dumas. Anh Vũ dịch. NXB Văn học in lần thứ ba, 2009.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
49.
50.
51.
52.
53.
54.
55.
56.
57.
58.
59.
60.
61.
62.
63.
64.
65.
66.
67.
68.
69.
70.
71.
72.
73.
74.
75.
76.
77.
78.
79.
80.
81.
82.
83.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 07.12.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 06.12.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 06.12.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 05.12.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 05.12.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 05.12.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 02.12.2019
xem thêm »