tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28206116
Lý luận phê bình văn học
08.01.2010
Nguyễn Hữu Sơn
Trương Tửu và những trang văn trước cách mạng Tháng Tám 1945

I. Nhà văn, nhà nghiên cứu, nhà báo, nhà giáo Trương Tửu (18.11.1913 - 16.12.1999), còn có các bút danh Nguyễn Bách Khoa, Hoàng Canh, Mai Viên, T.T...; nguyên quán làng Bồ Đề, xã Phú Viên, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội).


Cuộc đời Trương Tửu là một chuỗi những thăng trầm, những cuộc dấn thân trên tinh thần trung thực, tranh đấu vì học thuật và lẽ phải. Vào năm 1927, ngay khi mới 15 tuổi, ông đã bị bắt, bị đuổi học vì tham gia bãi khóa ở Hà Nội để đòi thực dân Pháp thả tác giả Chiêu hồn nước (Phan Tất Đắc, 1910-1935). Ba năm sau, khi đang học Trường Kỹ nghệ thực hành Hải Phòng, ông vận động học sinh bãi khóa, phản đối ban giám đốc bỏ các môn lý thuyết về kỹ thuật nên lại bị đuổi học. Năm 1937, ông làm chủ bút Quốc gia khuynh tả, vì đả kích Bảo Đại, triều đình Huế và Nghị viện nên bị truy tố trước Tòa án Hà Nội và bị xử phạt. Năm 1940, ông viết Kinh thi Việt Nam nhưng bị cấm, viết truyện Thằng Hóm bị tịch thu ngay lúc ở nhà in. Từ 1941-1946, ông chủ trì Nhà xuất bản Hàn Thuyên và tập san Văn mới, chủ trương in sách của mọi tác giả, mọi xu hướng (dân tộc, dân chủ, quốc gia, cộng sản và các tác giả tự chịu trách nhiệm...). Bút danh Trương Tửu bị cấm, ông phải lấy bút danh Nguyễn Bách Khoa tiếp tục viết sách. Tháng 5-1945, ông bị hiến binh Nhật lùng bắt phải bỏ trốn và tập san Văn mới bị tịch thu. Sau chín năm vàng son tham gia kháng chiến chống Pháp, ông tiếp tục giảng dạy lý luận và lịch sử văn học Việt Nam tại Trường Đại học Sư phạm và Đại học Văn khoa Hà Nội. Năm 1956, ông tham gia phái đoàn giáo dục đại học tham quan nghiệp vụ ở Trung Quốc, khi trở về viết bài trên tập san Giai phẩm của Nhà xuất bản Minh Đức, kiến nghị một số chủ trương, chính sách mới về văn hóa, văn nghệ, giáo dục và kinh tế với Đảng và Nhà nước. Năm 1957, ông được phong Giáo sư cùng đợt với các học giả Đào Duy Anh, Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu, Nguyễn Mạnh Tường... Đầu năm 1958, ông bị “thi hành kỷ luật”, buộc thôi công tác, không dạy đại học nữa vì tham gia viết trên Giai phẩm mùa thu và Giai phẩm mùa đông (không viết báo Nhân văn). Từ sau đó ông chuyển sang nghiên cứu, viết sách, hành nghề Đông y và mất tại Hà Nội(1)…


 


II


 


     Đến nay không mấy ai còn nhớ những trang văn xuôi (bao gồm tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn) in đậm tính luận đề và chất dã sử của Trương Tửu thời những năm ba mươi, bốn mươi của thế kỷ XX. Sự lãng quên này có lý do bởi các tác phẩm văn xuôi Trương Tửu đều chưa được tái bản, hơn nữa còn  chịu búa rìu của những quan niệm phê bình cực đoan, “bắt vít” một chiều, cơ hội chủ nghĩa, cố ý tạo nên luồng dư luận không đúng và không tốt. Trên thực tế, Trương Tửu sáng tác khá nhiều và được coi là một trong những cây bút có phong cách trong làng tiểu thuyết giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám.


Nói về số lượng, Trương Tửu sáng tác khá sung sức. Theo các nguồn tư liệu đã tập hợp được, trong khoảng năm năm (1937-1942) ông đã viết tới 11 tác phẩm văn xuôi (không kể tập Múa kiếm giữa chợ chỉ mới thấy quảng cáo khi xuất bản sách Năm chàng hiệp sĩ). Hiện chúng tôi đã sưu tập được 10 tập tiểu thuyết và truyện: Thanh niên S.O.S... (Minh Phương Xb, H., 1937; In lần thứ hai, 1937, 154 trang); Một chiến sĩ (Minh Phương Xb, H., 1938, 165 trang); Khi chiếc yếm rơi xuống (Minh Phương Xb, H., 1939, 44 trang); Trái tim nổi loạn (Văn Thanh Xb, H., 1940, 165 trang), Một cổ đôi ba tròng (Tân Việt Xb, H., 1940, 74 trang), Đục nước béo cò (Minh Phương Xb, H., 1940, 41 trang), Khi người ta đói (Phổ thông bán nguyệt san, số 59, tháng 5-1940, 140 trang), Một kiếp đọa đầy (Tập truyện. Hàn Thuyên Xb, H., 1941, 159 trang), Tráng sĩ Bồ Đề (Ký bút danh Mai Viên. Tiểu thuyết dã sử. Hàn Thuyên Xb, H., 1942, 264 trang), Năm chàng hiệp sĩ (Ký bút danh Mai Viên. Truyện dã sử. Hàn Thuyên Xb, H., 1942, 237 trang); còn lại tác phẩm Thằng Hóm (1940?) tạm thời chưa tìm lại được... Xin nói thêm, khi xuất bản Năm  chàng hiệp sĩ, tại trang phụ đầu sách có ghi: “Đang soạn: Múa kiếm giữa chợ - Truyện dã sử” và đến trang phụ cuối sách dành trọng cả trang quảng cáo chi tiết: “Đón xem Múa kiếm giữa chợ - Truyện phiêu lưu dã sử của Mai Viên - Tác giả dắt các bạn đi qua những khu rừng bí mật, qua những hang động đầy hùm beo ma quỷ, qua những ngọn tháp rùng rợn của xứ Hời! Các bạn sẽ có cái cảm giác kỳ quái của một người đang sống một giấc mơ ghê ghớm, phút chốc lại rùng mình hoảng hốt về những cảnh oanh liệt, những hành vi lỗi lạc, những tình trạng nguy hiểm của các vai trò. Đọc những trang dã sử tả trong truyện, các bạn sẽ thấy rõ cái công lao của cha ông ta bầy mưu lập kế để tràn xuống đất đai của giống Hời!”…


 


III


 


Điều đáng chú ý là trong một số tác phẩm, nhà văn Trương Tửu thường có thêm những đề tựa bằng cách mượn lời các văn nhân nổi tiếng khác hoặc bằng chính ý kiến của mình. Mở đầu tiểu thuyết Thanh niên S.O.S, Trương Tửu bày tỏ ý nguyện hướng tới lớp độc giả quan trọng trong xã hội: “Tặng tất cả những ai có tâm huyết, thường lưu ý đến vấn đề thanh niên hiện thời” và viết lời Tựa nhằm thể hiện rõ quan điểm cá nhân:


     “Không lúc nào bằng lúc này, thanh niên nhắm mắt mà sống, nghiến răng mà sống, rút rít mà sống, rẫy rụa mà sống - sống với những lới nguyền rủa trên môi và những ưu phiền não nuột trong lòng.


     Không lúc nào bằng lúc này, thanh niên đem cả thông minh tiêu phí vào khói thuốc phiện, đem cả danh dự ném vào chiếc đệm bông, đem cả tương lai vứt vào một bài tăng gô, đem cả cuộc đời quẳng vào một hộp đêm.


     Không lúc nào bằng lúc này, thanh niên hoài nghi tất cả trừ khoái lạc, chán nản tất cả trừ tiền tài, công kích tất cả trừ tội ác, làm tất cả trừ bổn phận, không tin vào một tôn giáo nào, không nhận một luân lý nào, không thờ một lí tưởng nào, không trọng một quyền thế nào.


     - Chỉ tại xã hội


     Trong một xã hội mà giàu áp chế nghèo, nghèo căm ghét giàu; mà công lý nhân đạo, lẽ phải đều bị dẫm bẹp dưới gót sắt của tiền bạc, quyền thế, sức mạnh; trong một xã hội mà kẻ ăn thừa mứa đổ đi, người nằm chết đói ở vỉa đường, kẻ vung vãi bạc trăm bạc ngàn để ăn chơi, người đổi mồ hôi nước mắt lấy bát gạo; trong một xã hội mà đặt chân vào só tối nào cũng gặp một gái đĩ, dạo chơi hè phố nào cũng chạm trán một tên ma cô; trong một xã hội mà rạp chiếu bóng là buồng đợ của nhục dục, công viên là cung điện của dâm thần...


     Trong một xã hội như thế, thanh niên tránh thế nào được sự truỵ lạc? Kết án họ là ngu độn.


     - Chỉ nên kết án xã hội


     Kết án xã hội vì nó gây dựng trên một nền tảng kinh tế không tổ chức.


     Kết án xã hội vì nó dung túng các sự bóc lột, áp chế, bất công, chênh lệch.


     Kết án xã hội vì nó đầu độc cá nhân.


     Kết án xã hội để chứng thực cho sự phá sản gần đến của nó.


     Kết án xã hội để phá đổ nó đi.


     - Phải làm lại xã hội


     Làm lại nó theo một quan niệm khác về sự tổ chức kinh tế và chính trị.


     Làm lại nó theo chủ nghĩa xã hội.


     Chỉ có thế mới giải quyết được vấn đề thanh niên truỵ lạc.


     Quyển THANH NIÊN S.O.S này, bằng sự nghiên cứu lịch sử truỵ lạc của một tâm hồn, vạch một con đường đi tới sự giải quyết ấy. Nó bầy ra một thực trạng xã hội. Nó toát ra một khẩu hiệu tranh đấu.


     Tác giả nó mong rằng các bạn đọc thân yêu sẽ hiểu nó theo quan điểm ấy”...


     Trong tiểu thuyết Khi chiếc yếm rơi xuống, Trương Tửu mượn lời Victor Hugo chuyển thành lời đề từ cho tác phẩm của mình. Có thể thấy tự những câu chữ này đã bộc lộ rõ ràng quan điểm và mục đích của người tác giả:


Truyện này là chuyện gì?


Truyện xã hội mua một kẻ nô lệ.


Mua của ai? Của nghèo đói…


Người ta bảo chế độ nô lệ mất rồi.


Nhầm.


Nó vẫn còn, và tên là MÃI DÂM.


Nó đè chĩu trên số kiếp người đàn bà, nghĩa


là đè chĩu trên duyên thắm, trên nhan sắc,


trên tình mẫu tử.


(Những kẻ khốn nạn)


Đến tiểu thuyết Một chiến sĩ, Trương Tửu nêu rõ chủ kiến sáng tác bằng cả bài viết TỪ THANH NIÊN S.O.S ĐẾN MỘT CHIẾN SĨ, trong đó ông nhấn mạnh tính hệ thống và mối liên hệ chặt chẽ giữa hai tác phẩm:


“THANH NIÊN S.O.S được quan niệm và xếp đặt theo một định luật xã hội học: cá nhân không là gì hết, hoàn cảnh là tất cả. Những điều kiện sinh hoạt của một hoàn cảnh đẻ ra những tâm trạng, tư tưởng, pháp luật tương đương. Tất cả họp thành một sức mạnh lôi cuốn người ta một cách tàn nhẫn. Người ta không đủ thời giờ và nghị lực dừng bước hay rẽ tạt sang bên cạnh. Người ta mất hết tự chủ. Người tachỉ còn là cánh bèo trên dòng thác, một bánh xe trong bộ máy. Đối với cá nhân, hoàn cảnh tác động như một số mệnh.


Căn cứ vào định luật ấy, tác giả THANH NIÊN S.O.S cắt nghĩa hiện tượng truỵ lạc của thanh niên. Với những con số xác thực, tác giả đặt lên thảm một bài toán. Thanh niên sống thế nào, nghĩ thế nào, tác giả đem phô bầy trên mặt giấy, y nguyên, linh hoạt. Tác giả không tố cáo, không biện hộ. Tác giả chỉ ghi dấu vết một hoàn cảnh của thời đại.


Hoàn cảnh trong THANH NIÊN S.O.S là một hoàn cảnh truỵ lạc. Văn, Liêu, Hà, Sâm chỉ là những nạn nhân của hoàn cảnh ấy. Trên đường oan trái, người đi trước dắt kẻ đi sau rồi cùng bị xô đẩy xuống vực thẳm đầy xương máu.


Đọc hết THANH NIÊN S.O.S người cạn nghĩ sẽ phải bi quan và chán ngán. Nhưng ai đã hiểu biết trình tự biến hoá của xã hội tất nhiên phải liên tưởng đến một hoàn cảnh trái hẳn hoàn cảnh tả trong THANH NIÊN S.O.S...


Thực thể mục nát của xã hội hiện thời đã chế tạo ra một hoàn cảnh truỵ lạc. Nó cũng phải phát sinh ra một hoàn cảnh phản động lại. Hoàn cảnh này là hủy thể của tình trạng mục nát kia. Nó lấy phá hoại làm lẽ sống, lấy tranh đấu làm điều kiện tấn công, lấy chiến sĩ làm phần tử.


Những thanh niên nào được thấm nhuần tim óc trong hoàn cảnh tranh đấu ấy sẽ trở nên những chiến sĩ tận tuỵ chống lại cái thực thể mục nát của xã hội cho đến khi kiến thiết được những chế độ hợp lý và nhân đạo hơn.


Một lần nữa, ảnh hưởng mãnh liệt của hoàn cảnh đối với cá nhân lại được minh chứng trong thiểu thuyết MỘT CHIẾN SĨ này.


Tác giả không chủ ý vẽ ra một chương trình hành động. Tác giả chỉ ghi chép một thí nghiệm tranh đấu của người chiến sĩ để làm sáng tỏ một nhân sinh quan, khả dĩ giúp các bạn thanh niên có chỗ đặt chân mà hoạt động giữa lúc này, trong xã hội Việt Nam, những giá trị tinh thần cũ đương nhường chỗ cho những tư tưởng hỗn độn và đồi bại”...


Các tác phẩm văn xuôi Trương Tửu bao quát một hệ thống chủ đề và phạm vi nội dung hiện thực rộng lớn: đương đại, lịch sử và dã sử; đấu tranh xã hội, gia đình và cá nhân; đấu tranh giai cấp, tình yêu và phong tục; thành thị, ven đô và nông thôn; trí thức, công chức và nông dân… Tác giả cũng sử dụng nhiều phong cách, bút pháp, giọng điệu khác nhau: đối thoại, độc thoại, dòng ý thức, ghi chép tư liệu, phóng sự, luận đề, sử liệu, thư từ… Trương Tửu có những tác phẩm đi sâu khai thác cuộc cải biến xã hội đương thời, những cuộc va chạm quyết liệt giữa cái mới và cái cũ, đặc biệt phản ánh sâu sắc những đổ vỡ, hoang mang, ngỡ ngàng của lớp người trẻ tuổi trước thực tại xã hội thời thực dân hóa cùng mặt trái của thời kỳ đô thị hóa, hiện đại hóa (Thanh niên S.O.S, Một chiến sĩ, Khi người ta đói…). Thông qua những tấn bi kịch tình yêu và gia đình, nhà văn đi sâu phân tích bi kịch con người cá nhân, con đương bần cùng hóa, bế tắc và không còn khả năng thích nghi với cuộc sống đang biến đổi mau chóng (Khi chiếc yếm rơi xuống, Đục nước béo cò…). Phần nào bắt nhịp và tiếp xúc đồng đại với văn học phương Tây đương đại, Trương Tửu chú trọng phân tích tâm lý con người cá nhân theo dòng ý thức, theo những ẩn ức thân phận và cả khía cạnh tính dục (Trái tim nổi loạn, Một cổ đôi ba tròng, Tôi nguyền rủa mãi người cha ấy, Một kiếp đọa đầy…). Đến chặng cuối thời kỳ sáng tác văn xuôi, Trương Tửu hướng đến thể tài dã sử, thường được gọi là “truyện dã sử” hay “tiểu thuyết dã sử”. Trong thực chất, cả hai tiểu thuyết Tráng sĩ Bồ Đề và Năm chàng hiệp sĩ đều thuộc loại tiểu thuyết lịch sử, có thời gian, bối cảnh, sự kiện, có mối liên hệ với nhân vật thuộc thời trung đại và được ghi chép trong chính sử. Tiểu thuyết Tráng sĩ Bồ Đề (2 quyển, 14 chương) nương theo sự kiện Thập đạo tướng quân Lê Hoàn thay thế nhà Đinh vào giai đoạn cuối thế kỷ X. Tuy nhiên, hoạt động của các tráng sĩ Bồ Đề, Bạch Hạc và các cô Minh Tâm, Kim Chi trong đảng Từ Bi đối lập với đảng Thập Đạo nơi kinh thành cho thấy màu sắc hiện đại hóa và dấu ấn ảnh hưởng không khí xã hội đương thời. Tiểu thuyết Năm chàng hiệp sĩ (2 quyển, 14 chương) lại lấy bối cảnh lịch sử xã hội thời Lý Anh Tông (1138-1175), xây dựng nhiều nhân vật đảng viên trung kiên của đảng Quần Anh đan xen những mối tình lãng mạn, những hoạt động do thám, thủ tiêu, lật đổ. Điều này khiến thiên tiểu thuyết gia tăng chất truyện trinh thám, cốt truyện vụ án, đường rừng, đưa lại sự hấp dẫn, ly kỳ, hồi hộp cho người đọc. Nhìn chung, cả hai thiên tiểu thuyết lịch sử này đều được “tiểu thuyết hóa” ở mức độ cao, hư cấu thêm nhiều nhân vật, sự kiện, chi tiết, tình tiết. Đây cũng chính là điều sở đắc của loại tiểu thuyết lịch sử (dã sử) của Trương Tửu trong dòng tiểu thuyết lịch sử nói chung.


Rõ ràng phần lớn các sáng tác của Trương Tửu đều có mối liên hệ chặt chẽ với dự đồ sáng tạo, với chủ đích luận đề đấu tranh xã hội, với tính tư tưởng mà tác giả suy tôn, tin tưởng. Những lời tựa, đề từ, trữ tình ngoại đề có sự tương hợp chặt chẽ với toàn bộ nội dung tư tưởng tác phẩm. Đây chính là một đặc điểm quan trọng, góp phần định hướng, chi phối toàn bộ các tác phẩm văn xuôi của Trương Tửu giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945.


 


IV


Ngay từ trước Cánh mạng tháng Tám 1945 đã có một số ý kiến bàn về sáng tác của Trương Tửu. Có thể nói những ý kiến của người đương thời - tức những người sống đồng thời với giai đoạn các tiểu thuyết Trương Tửu vừa mới ra đời - thực sự là những cảm nhận trực tiếp, cụ thể, tươi mới về các sáng tác của họ Trương với tư cách là tiếng nói của người trong cuộc, người cùng thời, chưa bị pha tạp bởi mọi thiên kiến và ràng buộc qui phạm. Ngay sau khi tiểu thuyết Thanh niên S.O.S vừa ra đời, nhà phê bình xuất sắc Kiều Thanh Quế ở miền Nam đã đặt tác phẩm này bên cạnh Làm đĩ của Vũ Trọng Phụng, Người đàn bà trần truồng của Nguyễn Vỹ đều cùng thuộc dòng văn chương "phóng túng tình dục". Trước biến thiên của một thời đại đang trong quá trình Âu hoá và đặc biệt sự vận động trong đời sống tinh thần xã hội đã tạo nên những quan niệm đạo đức, thẩm mĩ và lối sống mới mẻ, nhiều khác biệt. Một trong những nội dung có ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ trong đời sống văn chương là vấn đề tình dục - tính dục. Kiều Thanh Quế đã lựa chọn ba tác phẩm của ba cây bút tiêu biểu Vũ Trọng Phụng - Trương Tửu - Nguyễn Vỹ để lý giải hiện tượng này:


 "Văn chương Việt Nam tiến bộ. Nhà văn không còn sợ luân lý Khổng - Mạnh nữa. Họ nói: "Văn học muốn tiến hoá phải thoát ly tinh thần luân lý phong kiến" (Hồ Xanh). Rồi họ mạnh dạn mang quan niệm tình dục vào văn chương. Một vài nhà văn đương thời tiêu biểu cho xu hướng này: Vũ Trọng Phụng, Trương Tửu, Nguyễn Vỹ. Tôi muốn lấy 3 tác phẩm: Làm đĩ, Thanh niên S.O.S, Người đàn bà trần truồng của họ làm trụ điểm cho cuộc lập luận này.


Họ Vũ, họ Trương, họ Nguyễn, cả ba đều có ý muốn phóng túng tình dục văn chương họ tố cáo họ!


Tình dục, giai cấp phú hào đang thi vị hoá nó để hành lạc. Người ta dựa vào học thuyết Freud mà dâm đãng hoá tình dục. Freud  thật là đắc tội mà tạo ra một cái thuyết để cho muôn người hiểu sai"(2)…


 Sau khi diễn giải thuyết Phân tâm học của S. Freud, Kiều Thanh Quế xác định: "Viết Thanh niên S.O.S, ngoài việc lấy tình dục cắt nghĩa ái tình, Trương Tửu còn dùng nó "nghiên cứu lịch sử trụy lạc của một tâm hồn (trong truyện là Liêu), vạch một con đường đi tới sự giải quyết vấn đề thanh niên, bày ra một thực trạng xã hội, toát ra một khẩu hiệu tranh đấu" (Rút trong bài tựa Thanh niên S.O.S - KTQ chú)..., Trương Tửu đưa ra một chàng thanh niên hư đốn, trụy lạc, chạy theo tình dục: Liêu. Liêu của ông nằm mộng, tơ tưởng đến một người con gái, vào tiệm hút, vào nhà chớp bóng thọc tay vào chỗ tối kỵ của đàn bà, phá hư danh tiết một người con gái, chết vì hành lạc thái quá... Kết cuộc Trương Tửu đội lốt một vị đốc - tờ kết tội thanh niên, kết án Dục tình..."(3).


 Minh chứng cho điều này, Kiều Thanh Quế dẫn lời đốc - tờ nói với chị Quế Hương về bệnh tình của Liêu trong phần cuối tiểu thuyết Thanh niên S.O.S: “Nếu tôi không nhầm thì cậu Liêu nhà ta hay lui tới những chốn ăn chơi. Vì trác táng lâu ngày, tạng phủ trong người mòn yếu. Hôm nay chắc bị xúc cảm về một việc gì nên máu ở tim ngừng chảy, mới ngất đi lâu như thế. Tôi làm nghề thuốc đã năm sáu năm nay. Những bệnh nhân trẻ tuổi đến tĩnh dưỡng ở bệnh viện của tôi như cậu Liêu kể có non nghìn người. Thôi thì loạn óc, đau màng óc, đau tim, đau cuống phổi, ho lao, nào thần kinh,… đủ các chứng bệnh tinh thần. Mà tôi xét ra không phải họ làm việc thái quá bằng tâm trí mà sinh ra thế. Tất cả đều đã hoặc đang mắc bệnh hoa liễu. Họ say đắm nhiều quá những thú vui dâm dục. Họ thức đêm này qua đêm khác để uống rượu, hút thuốc phiện. Họ nuôi trong óc luôn luôn những ý nghĩ bất chánh. Họ sống thuần bằng những mộng dâm đãng, những mưu cơ lừa dối. Bởi vậy nên thân thể và tinh thần họ suy vi rất mau chóng. Tôi chắc cậu Liêu cũng ở vào ca ấy”(4)...


Mấy năm sau, trong chuyên khảo Ba mươi năm văn học, với bút hiệu Mộc Khuê, Kiều Thanh Quế tiếp tục nhấn mạnh: "Cùng một chủ trương với họ Lê (Lê Văn Trương - NHS chú) về xã hội tiểu thuyết, Trương Tửu viết Thanh niên S.O.S, Trái tim nổi loạn, Một chiến sĩ, Một cổ đôi ba tròng"(5)…


Nhìn chung, các sáng tác của Trương Tửu thường tỏ rõ ý thức bênh vực người nghèo khó, hướng đến đấu tranh nhưng các nhân vật lại có phần thiên về tiếng nói triết lý, luận đề, ngoại đề (Hảo trong tiểu thuyết Một chiến sĩ, Thiện trong Khi người ta đói...). Có thể chính lối tư duy luận lý mạnh về khảo cứu và phân tích đã chi phối tư duy hình tượng và cảm xúc khiến cho ngòi bút Trương Tửu in đậm phong cách tiểu thuyết - ký sự, nghiêng hẳn về "Sinle hóa"... Xin dẫn một đoạn văn Trương Tửu tỉnh táo cắt nghĩa, diễn giải chuyện ái tình của nam nữ thanh niên ở tuổi dậy thì trong tiểu thuyết Thanh niên S.O.S: "Phàm một người con gái phải trải qua một thời kỳ mà cơ thể kêu gào một khoái cảm, khoa học gọi là thời kỳ động tình. Trong thời kỳ đó, không gì làm người con gái hoạt bát, có duyên, tươi tỉnh, lẳng lơ bằng đứng trước mặt một người con trai (…). Sự có mặt của người con trai làm thức tỉnh cái tinh lực tiềm tàng trong cơ thể người con gái. Người ta gọi nó là tinh lực dâm đãng. Hiện tượng này đã được khoa học chứng nhận bằng nhân điện, cho rằng ở mỗi cơ thể người con trai ngời ra những âm ba điện lực có đủ sức mạnh chiếu vào cơ thể người con gái, khua động cái bản chất điện lực nằm tản mạn trong đó"(6)… Điều này cũng thể hiện rõ nét trong tập truyện vừa Một kiếp đọa đầy gồm một thiên truyện cùng tên và truyện Cái tôi của ai. Truyện thứ nhất kể về hai chị em gái. Người chị tên Liễu xấu xí lại bị mọi người xung quanh ghẻ lạnh đã rắp tâm ghen ghét và trả thù cô em. Khi em Nguyệt có cậu Tú Duyên đến hỏi cưới thì Liễu giả làm người khác viết thư gây chia rẽ, gây sự đánh Liễu rồi bỏ đi. Đến truyện Cái tôi của ai hầu như là lời kể về những chiêm nghiệm, những suy tư suy tưởng về cuộc sống, về con người cá nhân trong mối quan hệ với xã hội, về ý thức muốn hoàn thiện nhân cách nhưng rồi vẫn bị cuộc sống đời thường chi phối, níu kéo và nhấn chìm trong những mưu mô, thủ đoạn, hành động thấp hèn... Nhận diện nội dung các sáng tác văn xuôi Trương Tửu, Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại (1942) đã xếp tác phẩm của ông mở đầu cho mục "Tiểu thuyết xã hội" (cùng với Nguyên Hồng, Thạch Lam, Đỗ Đức Thu, Nhượng Tống, Thanh Tịnh, Thụy An, Nguyễn Xuân Huy, Ngọc Giao, Nguyễn Vỹ) và nêu mấy ý kiến khái quát: “Những tiểu thuyết đầu tay của ông đều là tiểu thuyết tranh đấu, nghĩa là những tiểu thuyết có tính cách cải tạo và bênh vực một vài ý kiến của mình (…). Từ tiểu thuyết tranh đấu đến tiểu thuyết xã hội, tác giả chỉ cần đi một bước”... Về phong cách Trương Tửu, Vũ Ngọc Phan nhận diện qua một thiên tiểu thuyết thuộc dòng “đấu tranh xã hội” tiêu biểu: “Đọc Một chiến sĩ, người ta nhận thấy Trương Tửu là một nhà văn lời lẽ hùng hồn, thống thiết. Những lời ấy nó đánh vào tình cảm người ta hơn vào lý trí người ta, mà người đời thường vị tình hơn theo lý. Trong tiểu thuyết của ông, nhiều chỗ văn ông trác luyện, sáng suốt, lối văn thích hợp cho người muốn bênh vực thuyết của mình. Những đoạn Hiền bày tỏ sự hoài bão của mình cho Như Lan nghe để nàng hiểu mình, đừng có sầu não quá độ là những đoạn thấm thía, dễ cảm người đọc. Song đến cách dựng việc trong Một chiến sĩ thì lại có nhiều điều khuyết điểm”… Với loại sách “có tính cách xã hội”, Vũ Ngọc Phan khảo sát và đánh giá từng tác phẩm cụ thể: “Quyển Khi chiếc yếm rơi xuống tuy mang cái nhan đề khơi gợi nhưng cả tập tiểu thuyết tuyệt nhiên không có chỗ nào gợi tình cả. Nó gần là tập phỏng vấn một gái giang hồ để tìm nguyên nhân trụy lạc của phần đông gái nhà chứa. Cái nguyên nhân ấy là sự đói khát (…). Tập tiểu thuyết xã hội Khi người ta đói của Trương Tửu là một tập ông viết một giọng thô bạo và hằn học bội phần nếu người ta đem so với các tiểu thuyết khác của ông. Đọc cả truyện, người ta chỉ thấy rặt một màu đen tối, không có lấy một tia hy vọng ở kẻ nghèo (…). Viết tập Khi người ta đói Trương Tửu cũng nương tựa vào nhiều thành kiến như trong khi phê bình nên nhiều khi ông thiên vị và tạo nên những việc buồn thảm quá đáng. Người ta thấy Trương Tửu phải chăng hơn khi viết tập ái tình tiểu thuyết Trái tim nổi loạn (…). Đoạn kết rất là đột ngột và thê thảm. Một truyện ái tình bi đát, tả bằng những nét hơi đậm một chút nhưng tỉ mỉ, kỹ càng. Chỉ phải vài ba đoạn nghị luận hơi dài, nhắc đi nhắc lại một ý kiến về ái tình và hôn nhân, làm cho những đoạn ấy kém phần thú vị. Tuy vậy, Trái tim nổi loạn của Trương Tửu cũng đáng kể là một tiểu thuyết xây dựng vững vàng… Viết tập Một kiếp đọa đầy và Cái tôi của ai (in chung trong một tập), Trương Tửu đã dài giòng quá”… Sau khi phân tích các tập truyện và tiểu thuyết Một chiến sĩ, Khi chiếc yếm rơi xuống, Khi người ta đói, Một kiếp đọa đầy, Vũ Ngọc Phan xác định: “Trương Tửu tỏ cho người ta thấy ông là một nhà tiểu thuyết xã hội. Ngay trong tập ái tình tiểu thuyết Trái tim nổi loạn, ông cũng có cái ý phân giai cấp mỗi khi nói đến sự giàu nghèo của Thúy và Thông. Còn ở hầu hết các tiểu thuyết khác của ông, ông bênh vực người nghèo rõ rệt… Về mặt phê bình, Trương Tửu là một nhà văn thiên vị, chỉ biết theo khuynh hướng chính trị của mình; còn về tiểu thuyết xã hội, ông là một nhà văn có những ý kiến chưa lấy gì làm chín chắn và sâu rộng”(7)… Đặt trong mặt bằng chung của nền văn xuôi và tiểu thuyết đương thời, có thể nói Vũ Ngọc Phan đã thẳng thắn chỉ rõ những điểm hạn chế và khả thủ ở sáng tác Trương Tửu, trong đó nhấn mạnh ưu điểm về lối văn “trác luyện, sáng suốt”, “tỉ mỉ, kỹ càng”, “đáng kể là một tiểu thuyết xây dựng vững vàng”…  


Xét trong tương quan chung, khi tập truyện Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân được tái bản, Kiều Thanh Quế đã đi sâu phân tích, dẫn giải cả về nội dung và chiều sâu hình thức nghệ thuật, qua đó nhận diện sự khác biệt với phong cách Trương Tửu - Lê Văn Trương: "Thời xưa! Một thời xưa của nước Việt Nam cổ. Những cái vang, cái bóng của cổ thời ấy, Nguyễn Tuân trịnh trọng ghi chép lại như một nhà lịch sử ký sự, bằng ngọn bút tỉ mỉ của một nhà tiểu thuyết chơi văn. Vang bóng một thời là một toàn khối đựng đủ "mùi tiêu sái" của người xưa trong các quan niệm "chơi", "nhàn", v.v... Văn Tự lực văn đoàn mềm mại dịu dàng. Văn Trương Tửu, Lê Văn Trương mạnh mẽ, đột khởi. Văn Nguyễn Tuân thì dí dỏm như một cô gái làm nũng, có khi lại "đỏng đảnh" như một người đàn bà khó chiều. Trong hai thuộc tánh ấy, văn Nguyễn Tuân mạnh bạo đi đi đến nhiều tiểu xảo văn thuật có khi cũng ý nhị mà lắm lúc cũng ngô nghê! (Sự quá quắc bao giờ cũng cụng nhằm những viên đá tảng đánh vỡ gò trán!). Tiểu xảo văn thuật của Nguyễn Tuân luôn luôn nhu dụng đến các phép ẩn dụ (métaphore), hình tượng (imagination), nhân cách hóa (personn fication)"(8)…


Ghi nhớ và cảm nhận về Trương Tửu trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Vỹ hồi tưởng: "Trương Tửu có khiếu ngôn ngữ và lý luận. Lời nói của anh là một sản phẩm của máy móc, lý luận của anh là một dây truyền ngôn ngữ phối trí chặt chẽ, liên kết mạch lạc và rèn rũa với một nghệ thuật tinh vi, tế nhị. Anh là một nhà hùng biện bẩm sinh. Không do một học đường nào đào tạo cả (...). Ngoài những khảo cứu văn học và triết học, Tửu cũng viết truyện. Truyện dài đầu tiên của Trương Tửu nhan đề Thanh niên S.O.S (1938) là tiếng kêu cứu của một thế hệ thanh niên đang suy sụp vì phong trào lãng mạn. Kế tiếp là Một chiến sĩ và Khi chiếc yếm rơi xuống (1939). Cả ba đều do nhà Minh Phương 15 A, cư xá Văn Tân, phố Hàng Đãy xuất bản... Bắt đầu đệ nhị thế chiến, ba quyển này đều bị Nha Thông tin và báo chí Pháp (I.P.P) cấm, vì đả kích xã hội An Nam thối nát dưới chế độ thực dân (...). Từ học thuyết này qua học thuyết khác, Tửu rơi vào triết lý macxit nhưng không thiên hẳn về chủ nghĩa quốc tế nào vì nguyên tắc của Tửu là chống giáo lý. Tửu không phải là người trung kiên với một điều tín. Đúng hơn, anh là một người tự do tư tưởng, và, trước hết là một người hùng biện hoàn toàn độc lập" (Văn thi sĩ tiền chiến)(9)...


Đến gần đây, trong công trình Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam (Từ cuối thế kỷ XIX đến 1945), phần Thư mục tác phẩm văn xuôi Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến 1945 đã thống kê Trương Tửu có 7 tác phẩm văn xuôi (Khi chiếc yếm rơi xuống, Khi người ta đói, Một cổ đôi ba tròng, Trái tim nổi loạn, Thanh niên S.O.S,  Một chiến sĩ, Một kiếp đoạ đầy”(10). Tuy nhiên, trong phần giới thiệu tóm tắt nội dung và nghệ thuật tác phẩm, công trình chỉ chọn phân tích duy nhất mục từ tác phẩm Một kiếp đoạ đầy. Mục từ do nhà nghiên cứu Vũ Tuấn Anh thực hiện:


“[Một kiếp đoạ đầy] Gồm hai truyện: Một kiếp đọa đầy và Cái tôi của ai.


Một kiếp đọa đầy kẻ về một cô gái xấu xí, sống trong đau khổ, mặc cảm, uất ức và cuối cùng đã có những hành vi bột phát trả hận với cuộc đời. Liễu hỏng một mắt và bị méo mồm do di chứng của bệnh đậu mùa. Cô bị mẹ ghét bỏ, em gái khinh nhờn, họ hàng chế giễu, bầu bạn lảng tránh. Tuổi xuân của cô chỉ là một chuỗi ngày buồn thảm, nhục nhã. Nguyệt, em Liễu, là cô gái có nhan sắc nhưng tâm địa ích kỷ, luôn đối xử độc ác với Liễu khiến Liễu vốn là một người hiền lành cũng nảy ý định trả thù.


Khi Nguyệt được mai mối lấy cậu Tú Duyên và mọi việc đang êm đẹp thì Tú Duyên nhận được một lá thư của một người giấu tên sỉ vả chàng cướp người yêu của anh ta. Tú Duyên muốn ngãng ra nhưng Nguyệt thanh minh, thuyết phục Tú Duyên, nên hai người lại hòa hợp trở lại. Chính Liễu là người đã viết lá thư đó. Thấy mình đã thất bại trong việc phá hạnh phúc của Nguyệt, Liễu tìm cách phá hoại nhan sắc của Nguyệt. Một hôm, vô tình Nguyệt nhìn vào tờ giấy thấm trên bàn Liễu và nhận ra đó chính là những chữ viết của bức thư nặc danh. Nguyệt căm tức lao vào đánh Liễu. Trong lúc xô xát, Liễu đã cắn đứt môi Nguyệt, sau đó bỏ nhà trốn đi.


Cái tôi của ai (Tâm sự) gần với tùy bút - triết lý hơn là một truyện vừa. Một con người tự phân tích cái tôi của mình để thấy rõ hơn bản chất, thế giới nội tâm cũng như những hành vi ứng xử của mình. Cái tôi con người như phân tích của tác giả, là một phức thể: có cái tôi bên ngoài (tức là cái tôi xã hội), có cái tôi bên trong, và cả cái tôi đạo đức nữa. “Trong con người tôi, hình như đã có sẵn một cái tôi bên ngoài, có thể gọi là cái tôi xã hội sống cạnh nách với cái tôi bên trong. Có khi nó làm xong, cái tôi bên trong mới can thiệp vào để tán thành hay phản đối. Nhưng có một điều này tôi cho là rất lạ, là bao giờ cũng như bao giờ, cái tôi xã hội cũng chỉ làm lợi cho cái tôi bên trong”. Một vài câu chuyện được kể lại chứng minh cho những xét đoán của tác giả. Với đồng lương của một thày ký còm tháng hai ba chục, tôi phải bảo vợ bớt tiền chợ. Nhưng rồi cô em đến chơi, chứng kiến bữa cơm đạm bạc. Tôi xấu hổ, mắng vợ và khi thấy vợ tức tưởi khóc, tôi lại thấy hối hận. Vậy là, hôm qua tôi là cái đầy tớ của cái tôi bên trong, hôm nay lại là cái đầy tớ của cái tôi xã hội. Và khi tôi hối hận vì đã mắng vợ vô lý, thì lại có cái tôi thứ ba nữa: cái tôi đạo đức, đóng vai quan tòa của lương tâm mình”...


Tác giả cũng đề cập tới sự ích kỷ của cái tôi. Cái tôi ích kỷ ấy khiến cho tôi đã có lần tham một gói kẹo của ai đó để quên trên xe điện. Nhưng rồi cái tôi ích kỷ ấy cũng có lần nhận được bài học quý báu. Có lần tôi bị ốm mà không còn đồng xu dính túi, lại chẳng có ai thân thuộc giữa đất Hà Nội. Gia đình bán hàng nước dưới nhà - gia đình bác Nhỡ đã tận tình chăm sóc, khiến tôi cảm thấy ân hận vì trước đây mình vẫn luôn nghi ngờ lòng tốt của mọi người. Gia đình bác Nhỡ sau cũng gặp hoạn nạn, ly tán càng để lại cho tôi những suy nghĩ thấm thía, khiến cho tôi thấy muốn làm những việc tốt đẹp, vô tư cho mọi người. “Đã sa vào kiếp người, tôi chỉ biết có con người, chỉ sợ có sự trừng phạt của lương tâm tôi thôi, anh ạ”.


Nhưng cố dứt cái tôi ích kỷ của mình là chuyện không dễ dàng. Sống trong sự bon chen của cuộc đời, vì tiền bạc, vì hãnh diện, con người không dễ thắng cái tôi ích kỷ. “Muốn sống còn, tôi cũng phải ích kỷ như mọi người”. Tác giả kể một câu chuyện để minh họa cho triết lý ấy. Một lần, các đồng nghiệp ở sở vận động nhau ký vào đơn đòi chủ tăng lương. Tôi không ký, nhưng vì người cầm đầu là Thiệp ráo riết vận động, lại sợ bản tính liều lĩnh, du côn của Thiệp, nên tôi đành ký. Hôm sau, chủ hứa hẹn trấn an các nhân viên. Tôi được gọi vào gặp chủ; ông chủ đưa cho xem những lá đơn xin việc đang chờ với số lương yêu cầu chỉ bằng hai phần ba số lương tôi đang lĩnh. Tôi sợ hãi, xin rút ý kiến đòi tăng lương. Ông chủ vẫn hăm dọa đuổi việc và hỏi tên chủ mưu. Tôi đành khai ra Thiệp. Thiệp bị đuổi việc. Trước ánh mắt hằn học của Thiệp khi rời sở, tôi luôn sống trong sự sợ hãi và ám ảnh về sự đê hèn của mình: chỉ vì giữ một chỗ làm mà tố cáo, làm hại đồng nghiệp. “Thì ra, cái tính ích kỷ mà tôi khinh, tôi ghét, tôi cố tìm diệt, nó vẫn ở trong máu tôi”…


Kết thúc tác phẩm là sự sám hối và tiếng kêu tuyệt vọng của một người ý thức về nhân phẩm nhưng không thắng nổi sự ích kỷ xấu xa của con người mình: “Tôi chán tôi đến cực điểm rồi. Tôi không muốn là tôi nữa. Tôi sợ cuộc đời tôi sẽ mãi mãi chỉ là một chuỗi dài những cái ích kỷ bẩn thỉu và tội lỗi. Trời hỡi trời! Không biết tôi còn bị giam trong sự ích kỷ đến ngày nào? Đến lúc nào?”…


Truyện của Trương Tửu có xu hướng đi vào phân tích những éo le, uẩn khúc trong các trạng thái đời sống cũng như trong lòng người và đưa ra những triết lý về nhân thế. Truyện Một kiếp đọa đầy gò bó, thiếu sự linh hoạt tự nhiên và có phần cường điệu. Cái tôi của ai tuy lan man, có tính chất tùy bút nhưng đã thể hiện được khả năng phân tích tâm lý cùng lối văn sắc sảo, khúc chiết trong việc diễn đạt những ý tưởng và triết lý của tác giả”(11)…     


 


V


Độc giả ngày nay đọc tác phẩm Trương Tửu cần đặt các sáng tác của ông trong bối cảnh đương thời mới có thể nhận thức rõ hơn dấu ấn một phong cách riêng cũng như những đóng góp nhiều mặt với đời sống văn chương nước nhà. Hơn nữa, chính lối văn luận đề, giàu chi tiết hiện thực đời thường khiến cho tác phẩm của ông còn có thể trở thành điểm tựa của nhiều bộ môn liên ngành như lịch sử, báo chí, ngôn ngữ học, văn hóa học, xã hội học…


 


Hà Nội, ngày 16 tháng 10 năm 2009


Nguồn: Trương Tửu – Tuyển tập văn xuôi. Nguyễn Hữu Sơn – Trịnh Bá Đĩnh sưu tầm và biên soạn. NXB. Lao động – Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2009; 888 trang


_____


(1) Xem Nguyễn Bách Khoa: Khoa học văn chương (Trịnh Bá Đĩnh tuyển chọn). NXB Văn hóa – Thông tin, H., 2003, 340 trang.


- Văn Tâm: Trương Tửu, trong sách Từ điển văn học (Bộ mới). NXB Thế giới, H., 2004, tr.1864-1865.


- Trương Tửu: Tuyển tập nghiên cứu, phê bình (Nguyễn Hữu Sơn – Trịnh Bá Đĩnh sưu tầm và biên soạn). NXB Lao động – Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, H., 2008, 1088 trang.


- Hoài Nam: Bản lĩnh và cá tính Trương Tửu. Tiền phong Cuối tuần, số 14, ra ngày 6-4-2008, tr.13…


(2)(3) Kiều Thanh Quế: “Làm đĩ”, “Thanh niên S.O.S”, “Người đàn bà trần truồng” và quan niệm tình dục trong văn chương Việt Nam. Báo Mai, Sài Gòn, số 108, ra ngày 27-10-1938, tr.9.


(4) Kiều Thanh Quế: "Làm đĩ", "Thanh niên S.O.S", "Người đàn bà trần truồng". Báo  Mai, số 108, ra ngày 27-10-1938, tr.9...


      - Xem chú dẫn theo nguyên tác của Trương Tửu: Thanh niên S.O.S. In lần thứ hai. Minh Phương Xb, H., 1937, tr.150.


      (5) Mộc Khuê: Ba mươi năm văn học. NXB Tân Việt, H., 1942, tr.52.


      (6) Trương Tửu: Thanh niên S.O.S. In lần thứ hai. Minh Phương Xb, H., 1937, tr.72-73.


(7) Vũ Ngọc Phan: Nhà văn Việt Nam hiện đại. Tái bản. Nxb Thăng Long, Sài Gòn, 1960, tr.1123-1136.


(8) Kiều Thanh Quế: Nhân quyển "Vang bóng một thời tục bản" - Tập truyện ngắn của Nguyễn Tuân. Tri Tân, số 145, tháng 6-1944; tr.10-11+15. Tuyển in trong Tạp chí Tri tân (1941-1945) - Phê bình văn học (Trịnh Bá Đĩnh - Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm, biên soạn). Nxb Hội Nhà văn, H., 1999, tr.203-208.


      (9) Nguyễn Vỹ: Văn thi sĩ tiền chiến. Khai Trí Xb, Sài Gòn, 1969... Tái bản. Nxb Hội Nhà văn, H., 1994.


      (10) Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam (Từ cuối thế kỷ XIX đến 1945) (Vũ Tuấn Anh – Bích Thu chủ biên). Nxb Văn học, H., 2001, tr.1135.    


(11) Vũ Tuấn Anh: Một kiếp đọa đầy, trong sách Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam (Từ cuối thế kỷ XIX đến 1945). Sđd, tr.771-774.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn chương thời mở cửa - Đinh Quang Tốn 11.07.2019
Đời sống văn nghệ thời đầu đổi mới, Thơ hôm nay: gieo và gặt - Ngô Minh 11.07.2019
Những sinh thể văn chương Việt nhìn từ nhiều phía - Bùi Việt Thắng 09.07.2019
Lý luận phê bình và thị hiếu thẩm mỹ công chúng - Hà Quảng 09.07.2019
Cách nhìn đa chiều về con người và lịch sử “Trong cơn lốc xoáy” của Trầm Hương - Nguyễn Khắc Phê 08.07.2019
“Trong cơn lốc xoáy” và những vấn đề… - Bùi Công Thuấn 08.07.2019
Nguyên Hùng 'chơi' thơ chân dung - Nguyễn Thị Ngọc Hải 05.07.2019
Nguyên Hùng với 102 mảnh ghép văn nhân - Huệ Hương Hoàng 05.07.2019
108 đoản khúc thơ Nguyên Hùng - Hoàng Thị Thu Thủy 05.07.2019
Lê Thị Kim: “kẻ lữ hành đang đi ngược chiều gió thổi” - Nguyễn Văn Hòa 01.07.2019
xem thêm »