tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28205690
Lý luận phê bình văn học
24.12.2009
Nguyễn Hữu Sơn
Về việc đọc, góp ý bản thảo Truyện Kiều


  • Trong đoạn kết bài viết Cụ Đào Duy Anh không hề sai khi lập lại văn bản Truyện Kiều (Kiến thức ngày nay, số 692, ra ngày 1-11-2009), ông Nguyễn Quảng Tuân viết: “Ông Nguyễn Khắc Bảo có đáng được trả bốn nghìn vàng như ông đã tự cho mình là người có công sửa sai không? Không hiểu hai ông Nguyễn Hữu Sơn và Nguyễn Khắc Phi đã thẩm định sao để chấp nhận công “sửa sai” của ông Nguyễn Khắc Bảo” (tr.7)… Cách một số sau, mở đầu bài viết Không có chữ nào “khác lạ” trong Truyện Kiều (KTNN, số 694, ra ngày 20-11-2009), ông Nguyễn Quảng Tuân nhấn mạnh: “Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam vừa cho xuất bản quyển Truyện Kiều – Văn bản hướng tới phục nguyên của Nguyễn Khắc Bảo khảo đính và chú giải đã được GS. Nguyễn Khắc Phi và PGS. TS. Nguyễn Hữu Sơn thẩm định trước khi in” (tr.14)… Khoan chưa bàn đến chuyện ông Khắc Phi – Khắc Bảo “họ hàng” với nhau thế nào? Tại sao ông Nguyễn Quảng Tuân khi thì đặt tên ông Sơn lên trước ông Phi, khi lại đặt sau; lúc gọi bằng “ông”, khi trang trọng nêu cả học hàm, học vị? Cũng xin chưa bàn đến cách bàn câu chữ Truyện Kiều của hai ông Nguyễn Khắc – Nguyễn Quảng, mà cứ với đà này thì… Ở đây, trong phạm vi cụ thể, tôi chỉ xin giải trình việc đọc góp ý bản thảo Truyện Kiều (hữu hảo, tự nguyện, không có tiền trà thuốc), còn việc sau này ông Nguyễn Khắc Bảo tiếp thu đến đâu, chỉnh sửa thế nào, in ấn ra sao, tôi không được biết. Nhân đây, tôi xin công bố nguyên văn bài viết Đọc và góp ý bản thảo đề cập trực tiếp đến cảo bản "Truyện Kiều - Văn bản phục nguyên" (2007) và xa gần liên quan đến sách Truyện Kiều – Văn bản hướng tới phục nguyên và ngọn nguồn câu chuyện “thẩm định trước khi in” để nhà nghiên cứu Nguyễn Quảng Tuân và bạn đọc cùng rộng đường đánh giá, thẩm định…



 NHS


 


                        Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Bảo được coi là một trong những người đã sưu tập, tập hợp, tàng trữ được nhiều văn bản Truyện Kiều bằng chữ Nôm ở nước ta hiện nay (bao gồm cả các bản khắc in, sao chụp và photo)... Trong những năm qua tôi đã được đọc một số bài viết của ông bình luận, trao đổi về các vấn đề thời gian sáng tác, quá trình khắc in, truyền bản và diễn biến văn bản, câu chữ Truyện Kiều. Gần đây, nhân đọc hai công trình “Truyện Kiều - bản Liễu Văn Đường 1866” (NXB Nghệ An, 2004) và “Truyện Kiều - bản Thịnh Mỹ Đường 1879” (NXB Văn hóa dân tộc, H., 2004), tôi thực sự trân trọng nhiệt tình của ông, đồng thời cũng đã có dịp trực tiếp cùng ông trao đổi, luận bình về một số vấn đề văn bản Truyện Kiều.


                        Nay được NXB Giáo dục tin cậy mời đọc góp ý bản thảo "Truyện Kiều - Văn bản phục nguyên" của soạn giả Nguyễn Khắc Bảo, tôi xin nhấn mạnh một số điểm sau.


                        1. Cấu trúc của sách


                        Do phần Mục lục (tr.472) chưa hoàn chỉnh nên chưa thể so sánh với từng mục trong chính văn để góp ý được cụ thể, chi tiết. Tuy nhiên vẫn có thể nhận ra mấy điều bất ổn.


                        - Công trình khảo đính và chú giải nên được chia thành 2 phần chính: Phần tạm qui ước gọi là “Tổng luận” gồm các nội dung giới thiệu mục đích, yêu cầu, tình hình nghiên cứu, khảo sát văn bản, cấu trúc, qui cách thực hiện (trong đó Lời nói đầu của tác giả nên gộp chung vào bài để tránh trùng lặp, hoặc chuyển thành Lời nói đầu của Nhà xuất bản) và phần “Tác phẩm” (bao gồm in ảnh ấn bản chữ Nôm, phiên âm văn bản, khảo dị, chú giải…). Tùy yêu cầu có thể có thêm phần Phụ lục. Cần kế thừa cách viết tổng luận ngắn gọn của người đi trước, tập trung chủ yếu vào vấn đề khảo đính văn bản, không quá sa đà vào những chuyện nguồn gốc cốt truyện, đoán định khoảng thời điểm sáng tác Truyện Kiều, nguyên nhân "tam sao thất bản", quá trình sưu tập, vấn đề kỵ húy, từ ngữ địa phương,... bởi càng chia nhỏ các chủ đề càng dễ dẫn đến không tập trung, thiếu thống nhất, trùng lặp, dàn trải.


                        - Cấu trúc bản thảo chưa phản ánh được tính khoa học, bộc lộ ở thứ tự lớp lang các đề mục và thể hiện ngay trong chính văn cũng như khi so sánh giữa các đề mục với bản Mục lục. Tiếp sau Lời nói đầu (tr.5-6) còn có các mục Vài điều lưu ý trong khảo cứu ở sách này (tr.7-13) và các mục ngắn như Danh mục sách tham khảo chính (tr.13) và Các từ điển, tự điển, tự vị tham khảo (tr.14) không thấy có trong Mục lục và không rõ chúng đứng độc lập hay thuộc vào một phần nào?...


                        - Trong mục VII- Vài điều lưu ý trong cách phiên âm và khảo đính của cuốn sách này (tr.40-49), tại tiểu mục 2, sau lời "Vậy xin có mấy điều lưu ý" (tr.42), đến dấu (+) thứ ba lại lan man liên hệ, so sánh quá dài dòng (tr.43-48)...


                        - Hai phần Khảo cứu và Chú giải đều đặt cuối sách khó theo dõi (đặc biệt phần Khảo cứu). Theo tôi, những bài thuộc phần "Phụ lục" không cần thiết vì đó chỉ là những bài báo giới thiệu chân dung soạn giả với công việc chung chung, còn lại nội dung mấy bài báo khác đều đã được thể hiện đầy đủ trong sách.


                        2. Nội dung


                        - Trước hết, cá nhân tôi đồng thuận với ý kiến của soạn giả (cũng như ý kiến của nhiều người khác) về khả năng Nguyễn Du sáng tác Truyện Kiều vào khoảng thời gian 1796-1802 (không phải 1786-1788) (tr.17-24);  cũn việc "chúng tôi khẳng định" đến nay vẫn chưa tìm được nguyên tác Truyện Kiều (tr.16-17, 28) và kết luận: "Sau khi nghiên cứu 45 bản Truyện Kiều... chúng tôi nhận thấy không có hai bản nào giống nhau hoàn toàn về câu chữ và tự dạng chữ", "Trong số 44 bản..., vẫn không có những bản Truyện Kiều giống nhau hoàn toàn" (tr.10, 28), đều là những ý kiến không mới, thậm chí không phải chứng minh.


                        - Việc tìm đến một văn bản Truyện Kiều là công việc của nhiều thế hệ học giả với ước mong tìm về một bản Truyện Kiều "gần với nguyên tác nhất", Truyện Kiều "tầm nguyên". Ai cũng bình đẳng trong ý thức khoa học và thiện chí yêu mến Truyện Kiều nhưng do khả năng và điều kiện cụ thể mà mỗi người đạt được kết quả khác nhau. Đồng thời với nhiều công trình khảo cứu văn bản Truyện Kiều của các ông Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Quảng Tuân, Đào Thái Tôn gần đây, việc ông Nguyễn Khắc Bảo tiếp tục có thêm công trình mới là cần thiết.


                        - Nếu xây dựng được văn bản Truyện Kiều thực sự khoa học thì điều đó cũng góp phần thiết thực phục vụ công tác nghiên cứu, thưởng thức, giảng dạy và truyền bá Truyện Kiều. Trong khả năng cụ thể, công trình này đưa thêm một phương án, một cách hình dung, một cách lý giải, một cách xây dựng văn bản Truyện Kiều để người đọc có thêm tài liệu tham khảo. Đương nhiên đây chỉ là một phương án thiết kế văn bản Truyện Kiều theo cách hiểu của soạn giả chứ chưa phải là tiếng nói chuẩn mực cuối cùng. Nhân đây cũng cần nói thêm rằng, trong tình hình có ý kiến cho rằng "loạn Truyện Kiều", nếu đưa ra một sản phẩm thiếu tính khoa học thì vấn đề văn bản Tuyện Kiều càng thêm rối, nhất là khi được in ở NXB Giáo dục vốn có uy tín, khả năng thâm nhập và ảnh hưởng sâu rộng trong công chúng bạn đọc.


                        - Do cùng mang tính chất "khảo cứu văn bản" nên có nhiều đoạn, nhiều trang dẫn giải chung chung từ những sách xuất bản trước đây của soạn giả đã được lồng ghép, sử dụng lại trong sách này...


                        3. Hình thức trình bày


                        - Trước hết cần thấy những lúng túng trong quan niệm của người biên soạn. Trong nhiều trang, soạn giả có ý chê cách làm của người đi trước "mỗi người lại tìm một hay vài bản Kiều Nôm có trước để tạo nên bản Truyện Kiều do mình đứng tên: "hiệu đính", "hiệu khảo" (...) nên các bản Quốc ngữ lại mắc thêm cái lỗi "dĩ ngoa truyền ngoa"..." (tr.5, 6, 7, 43) nhưng rồi lại xác định: "Dựa vào câu chữ trong 44 bản Truyện Kiều chữ Nôm và gần một trăm bản Truyện Kiều Quốc ngữ để chọn lọc, tinh tuyển theo thiển ý của mình nhằm cung cấp cho bạn đọc một văn bản Truyện Kiều Quốc ngữ mà chúng tôi tin là có khả năng sát với nguyên tác Truyện Kiều của thi hào soạn thảo" (tr.42). Điều này là dĩ nhiên bởi soạn giả không thể có thao tác nào khác ngoài những thao tác khoa học chung của khoa văn bản học (hơn nữa lại bộc lộ sự thiếu thống nhất trong chủ trương giới hạn khảo đính chủng loại và số lượng văn bản); nhiều trang người biên soạn có ý phê bình những chữ "khác lạ" nhưng khi khác lại coi trọng, đề cao chính những chữ  "khác lạ" đó trong những văn bản cụ thể.


                        - Cách nói Truyện Kiều "được xuất bản bằng chữ Nôm từ năm 1866 đến nay là 44 lần" (tr.15) không đúng.


                        - Cần lưu ý tính thống nhất trong cách nhận định về 44 bản Kiều chữ Nôm và cách sử dụng chúng. Có nơi soạn giả xác định sẽ dựa vào hai bản trục LVĐ 1866 và TMĐ 1879, khi gặp chữ sai sẽ "tra tìm trong 43 bản Kiều Nôm còn lại" (tr.6 - Vậy cộng chung thành 45 bản?); có khi chỉ khảo dị hạn chế "chỉ khảo cứu văn bản của 12 bản Kiều cổ" (tr.11); có khi lại mở rộng: "Dựa vào câu chữ trong 44 bản Truyện Kiều chữ Nôm và gần một trăm bản Truyện Kiều Quốc ngữ để chọn lọc, tinh tuyển theo thiển ý của mình" (tr.41), thế nhưng điều này lại vi phạm ngay với quan điểm của soạn giả khi cho rằng phải bám vào các bản Nôm, thậm chí phải là các bản Nôm cổ thời Tự Đức nữa!


- Quan điểm "cần phải sưu tầm được càng nhiều bản Kiều Nôm cổ càng tốt" (tr.7) nhưng soạn giả cũng ý thức được "sẽ chỉ khảo cứu văn bản của 12 bản Kiều cổ đã thống kê trên bản thư mục từ bản số 1 đến số 12", nghĩa là ưu tiên vào việc khảo 12 văn bản chính này, sau đó mới mở rộng: "Nếu trong 12 bản ấy mà vẫn chưa tìm thấy từ ngữ hợp lý, hợp vần, sát Nguyên truyện thì mới tìm các từ ngữ đúng hơn của 33 bản còn lại để thay vào phần chính văn" (tr.11)... Việc xác định có tới 7 bản "chỉ có trong bộ sưu tập của tác giả, lần đầu tiên được khảo cứu trong cuốn sách này" (tr.13), trong đó các bản Thuận Thành 1879 theo mô tả là bản viết tay (?), bản Ấn Thư Hội 1896 "có cấu tạo tương đương như các bản trên", bản Kinh Bắc không rõ năm khắc in, bản Diễn Châu cũng chép tay và không rõ năm sao chép, chúng có thể là "hiếm" nhưng không hề "quý"; các bản như Tụ Hiền Đường 1886, Quan Văn Đường 1911, bản VNb 60 - TVQG thì đều đã thành phổ cập, thông dụng, đã có trong thư viện cũng như đã được người trước phiên âm, xuất bản.


                        - Quan điểm cho rằng: "Phần Phụ lục cung cấp tới bạn đọc bộ sưu tập 44 bìa bản Truyện Kiều chữ Nôm của tác giả, làm tăng độ xác tín của cuốn sách và minh chứng cho sự yêu mến nồng nhiệt Truyện Kiều của dân tộc ta" (tr.6) chỉ đúng một phần ý sau (cho ta thấy sự phong phú của văn bản nhưng cũng cho thấy tính phức tạp và hạn chế của chúng ta trong truyền thống bảo quản thư tịch gốc mà hiện tượng này không chỉ diễn ra với một Truyện Kiều), còn việc in 44 ảnh bìa chủ yếu có ý nghĩa minh họa, cũng như việc sưu tập được nhiều văn bản Nôm sau này chỉ có ý nghĩa làm "đẹp đội hình" mà không có ý nghĩa nhiều về mặt học thuật, khó có giá trị tự thân để "tăng độ xác tín"...


                        - Cần lưu ý không phải: "Nhưng rất tiếc là các nhà biên khảo trên lại chỉ dựa vào một hay vài bản Truyện Kiều chữ Nôm in trong thế kỷ XX nên nhiều câu, chữ đã được chỉnh sửa" (tr.7). Chỉ cần mở xem các sách khảo văn bản Truyện Kiều của Nguyễn Văn Hoàn - Nguyễn Sĩ Lâm - Nguyễn Đức Vân (1965), Đào Duy Anh (1974; Tái bản 1987), bản do Đào Duy Anh chủ biên (1979) thì đều thấy đã khảo dị tới các văn bản LVĐ 1871, TMĐ 1879, QVĐ 1873, KOM 1793 và hai bản chép tay (AB 233, AB 234) và đã tham chiếu bản phiên âm của Trương Vĩnh Ký (1875), E. Nordemann (1897), bản phiên âm, dịch chữ Pháp của A. des Michels (1884-1885)... là rõ. Thực tế, trong quá trình thực hiện khảo đính, soạn giả vẫn sử dụng bản QVĐ 1911 và các bản Kinh Bắc, bản VNb 60, bản DC chưa rõ xuất xứ. Khi văn bản chưa rõ xuất xứ, chưa rõ niên đại thì dù có cảm tưởng hay, thuận tai vẫn không thể khẳng định "nội dung lại có nhiều câu chữ chính xác hơn bản QVĐ 1879 và QVĐ 1906" (tr.39-40)?


                        - Việc so sánh, xác định văn bản Truyện Kiều của Đào Duy Anh "sai", cần "đính chính lại" 687 chỗ là không đúng. Bởi lẽ Đào Duy Anh cũng căn cứ trên sự khảo đính các văn bản Nôm chứ Cụ không sáng tạo ra bản Truyện Kiều Quốc ngữ. Vì thế chỉ có sự khác nhau chưa hẳn đã dám quyết chữ nào là "đúng", chữ nào "sai". Hơn nữa, đi so sánh bản Truyện Kiều LVĐ 1866 hoặc bất cứ một bản chữ Nôm nào khác với bản bằng chữ Quốc ngữ của Đào Duy Anh (1979) vốn đã được khảo dị từ nhiều bản Truyện Kiều Nôm để chỉ ra những chữ sai khác là không hợp lý, không đồng tuyến, không cần thiết (tr.33, 43) và vi phạm nguyên tắc khoa văn bản học mà chính soạn giả từng có lúc đề cao. Điều quan trọng nhất là soạn giả cần xây dựng được văn bản "Truyện Kiều - Văn bản phục nguyên" theo đúng mục đích, yêu cầu của nhan đề sách trên cơ sở khảo đính chính các bản chữ Nôm (còn Truyện Kiều Quốc ngữ của Đào Duy Anh chỉ dùng để tham khảo trong cách phiên âm chứ không phải đối tượng để khảo dị).


                        - Việc chỉ ra các bản Truyện Kiều Nôm đã tự tiện thêm bớt là vô cùng cần thiết, nên hạn chế và lược bỏ khỏi diện khảo dị, nhưng tránh việc vừa phê phán các bản Kiều chép rồi sau lại vừa khẳng định chúng (tr.37, 39) mà cần căn cứ theo những nguyên tắc chung.


                        - Việc một số tiểu luận bàn về câu chữ do soạn giả "phục nguyên" được in tạp chí, kỷ yếu Hội nghị (tr.42) chỉ là ý kiến bước đầu, đã và còn tiếp tục tranh luận, chưa phải kết luận cuối cùng.


                        - Về vấn đề bản trục (bản gốc, để bản) cũng cần được xem xét. Trước đây nhóm Nguyễn Văn Hoàn khảo dị trên bản LVĐ 1871 được xếp loại A “tương đối cổ nhất” cùng 22 bản chữ Nôm khác và tham chiếu 27 bản chữ Quốc ngữ (có ký chú đầy đủ xuất xứ) và Đào Duy Anh lấy bản LVĐ 1871 làm bản trục, còn Nguyễn Khắc Bảo dùng cả hai bản LVĐ 1866 và TMĐ 1879. Rất nên khảo sát, so sánh thật kỹ để chọn văn bản chuẩn nhất làm bản trục (cũng có thể lấy bản LVĐ 1866 làm bản trục và bổ sung 864 câu còn thiếu từ bản khảo dị TMĐ 1879, coi bản sau này cũng bình đẳng như khảo sát các văn bản khác sẽ giúp cách trình bày trở nên dễ hiểu và thuận lợi hơn).


                        - Trùng lặp trong cách phân loại ba nhóm (riêng nhóm bản Phường có 3 nhánh) (tr.11-12) với ba dòng (riêng dòng bản Phường lại có tới 4 (?) nhánh) và thiếu thống nhất trong việc định danh và cách xác định số lượng nhóm, dòng, nhánh (tr.28-30).


- Trùng lặp nội dung những điểm cần "Lưu ý" (tr.7-10, 12-13, 40-49, 50, 182...). Ngay trong đề mục Vài điều cần lưu ý trong khảo cứu ở sách này (tr.7-13) lại sinh thêm mục con Lưu ý (tr.12-13). Theo thiển ý của tôi, soạn giả cần quán triệt hơn nữa trong việc xác định tính vấn đề, tính mục đích của mỗi phần cụ thể. Chẳng hạn, những điều "Lưu ý", còn được gọi là "Lời dẫn", "Quy ước" có thể đặt chung ở phần Tổng luận đầu sách, hoặc đặt trước từng phần văn bản Truyện Kiều (tr.52), phần khảo cứu (Khảo cứu hay khảo đính?) (tr.182) và phần chú giải (tr.226). Ngay nhan đề ba phần này cũng không đồng tuyến, chưa thật sự khoa học.


- Trùng lặp ý: Nhiều lần nhắc lại chuyện bản LVĐ 1866, bản LVĐ 1871 "có  ô đen" (tr.6, 10, 28, 34, 36...). Hiện tượng này diễn ra bởi yêu cầu nội dung cần lý giải cũng có mà phần nhiều do các vấn đề đan xen, trùng lặp lẫn nhau.


                        - Trùng lặp đoạn viết về đặc điểm chữ Nôm (tr.27, 41, 49...); nhiều trang xa vấn đề, có hay không cũng được (tr. 27, 46-47, 48...). Điều này liên quan đến việc xác định tính mục đích của việc làm sách, chú trọng khảo đính chứ không bàn những vấn đề khác nằm ở đường biên, phụ cận.


                        - Trùng lặp ý khi dẫn Mười điều lệ ngôn của Kiều Oánh Mậu (tr.27, 28, 30, 31...". Không nên láy một ý của Kiều Oánh Mậu và qui lỗi các cụ "học rộng nhớ nhiều" (chính Kiều Oánh Mậu quá ý thức về điều này và Cụ đã tạo lập nên văn bản 1902), bởi chẳng lẽ việc soạn Truyện Kiều lại dựa vào các cụ "học hẹp nhớ ít" thì đúng hơn chăng? Hơn nữa, điều này khiến soạn giả lại tự tạo nên mâu thuẫn khi nhấn mạnh sự cẩn trọng, biết tôn trọng bản cổ của nhiều bậc thức giả khi cho khắc in bản DMT 1872, 1879, 1891 (tr.29, 38-39), bản LVĐ 1866, 1871; TMĐ 1879; QVĐ 1879 (tr.37, 41)...


                        - Khi đã có qui ước viết tắt các văn bản Truyện Kiều chữ Nôm cần thực hiện thống nhất trong toàn sách, trách chỗ viết tắt chỗ không, hoặc chú dẫn nhiều lần (tr.36-40)...


                        - Cần thống nhất trong cách trích dẫn, phiên âm và dịch thơ cổ, thống nhất cách xuống dòng, cách ngắt câu thơ, cách in nghiêng phiên âm, cách viết hoa chữ đầu câu thơ, cách để phần dịch nghĩa trong dấu đơn, chia hai dòng (tr.25, 228, 229, 238, 239...), v.v...


                        - Phần Danh mục sách tham khảo chính không cần nhắc tới các bản chữ Nôm vì chúng thuộc đối tượng khảo đính và chỉ nên ghi rõ các bản Truyện Kiều Quốc ngữ (Nếu có đủ tư liệu "gần một trăm bản" rất nên thống kê và chú dẫn chính xác xuất xứ).


                        - Cần thống nhất khi đã dẫn sách thì ghi đầy đủ tất cả các yếu tố, trường hợp cuối danh sách (tr.14).


                        - Chú ý tính thống nhất khi trích dẫn: Lời quê nhặt gạnh dông dài (tr.48) hay theo văn bản đã khảo đính Lời quê nhặt gói dông dài (tr.181) và rồi cuối cùng lại chú giải chữ nhặt gạnh (tr.449)?


                        - Cuối phần Khảo cứu (đính?) tự nhiên lại có mấy dòng không rõ là chú thích, chú dẫn (tr.225)!? Việc liên hệ các trường hợp khảo dị của Nguyễn Tài Cẩn không nói lên điều gì.


                        - Chữ "Nguyên truyện" để chỉ tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân sử dụng theo Đào Duy Anh nhưng nên viết tắt KVKT để tránh lẫn với cách hiểu về nguyên tác Truyện Kiều của Nguyễn Du.


                        4. Thay lời kết


                        - Thứ nhất, cần xác định rõ mục đích khoa học và lý do tồn tại của công trình. Nếu chỉ nhằm: "Cung cấp cho bạn đọc bản Kim Vân Kiều tân truyện do nhà Liễu Văn Đường 1866 - bản A và nhà Thịnh Mỹ Đường 1879 - bản C khắc ván in thời Tự Đức" (tr.42) thì đã có 2 bộ sách được xuất bản trước đây của chính soạn giả và những người khác cũng đã thực hiện rồi. Xin giả định, sau khi bản thảo này được in thì riêng soạn giả đã có 3 bộ sách khảo đính văn bản Truyện Kiều, vậy sẽ chọn bản nào để sử dụng chính thức?


                        - Thứ hai, nếu cần cung cấp thêm một văn bản Truyện Kiều căn cứ trên hai bản trục LVĐ 1866 và TMĐ 1879 thì nên rút ngắn, lược giản những ý trùng lặp ở phần "Tổng luận" còn khoảng 1/2 số trang, đồng thời xây dựng lại bố cục cho hợp lý, chặt chẽ và thống nhất qui cách trong toàn bộ bản thảo.


Hà Nội, ngày 5-9-2007


Nguyễn Hửu Sơn


PGS, TS. (Viện Văn học).


Tác giả gửi www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn chương thời mở cửa - Đinh Quang Tốn 11.07.2019
Đời sống văn nghệ thời đầu đổi mới, Thơ hôm nay: gieo và gặt - Ngô Minh 11.07.2019
Những sinh thể văn chương Việt nhìn từ nhiều phía - Bùi Việt Thắng 09.07.2019
Lý luận phê bình và thị hiếu thẩm mỹ công chúng - Hà Quảng 09.07.2019
Cách nhìn đa chiều về con người và lịch sử “Trong cơn lốc xoáy” của Trầm Hương - Nguyễn Khắc Phê 08.07.2019
“Trong cơn lốc xoáy” và những vấn đề… - Bùi Công Thuấn 08.07.2019
Nguyên Hùng 'chơi' thơ chân dung - Nguyễn Thị Ngọc Hải 05.07.2019
Nguyên Hùng với 102 mảnh ghép văn nhân - Huệ Hương Hoàng 05.07.2019
108 đoản khúc thơ Nguyên Hùng - Hoàng Thị Thu Thủy 05.07.2019
Lê Thị Kim: “kẻ lữ hành đang đi ngược chiều gió thổi” - Nguyễn Văn Hòa 01.07.2019
xem thêm »